25/03/2016

Bài bào chữa của Luật sư Hà Huy Sơn tại phiên tòa hình sự sơ thẩm 23/03/2016

cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” quy định khoản 2 Điều 258, BLHS.

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Tôi, Luật sư Hà Huy Sơn thuộc Công ty Luật TNHH Hà Sơn xin trình bày luận cứ bào chữa cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy như sau:

Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Giấy chứng nhận người bào chữa số 50/2015/HS-GCNNBC, ngày 02/03/205 do TAND Tp.Hà Nội cấp; bào chữa cho ông Nguyễn Hữu Vinh SN 1956 và bà Nguyễn Thị Minh Thúy SN 1980.

I. Tóm tắt các sự kiện chính của vụ án:

1. Ngày 05/05/2014, ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt tạm giam.

2. Ngày 13/05/2014, Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT), Bộ Công an ra Quyết định khởi tố vụ án về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, Điều 258 Bộ luật hình sự (BLHS).

3. Ngày 13/05/2014, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Quyết định khởi tố bị can số 18/ANĐT-P3 đối với ông Nguyễn Hữu Vinh; Quyết định khởi tố bị can số 19/ANĐT-P3 đối với bà Nguyễn Thị Minh Thúy.

4. Ngày 30/10/2014, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Bản kết luận điều tra số 14/ANĐT.

5. Này 26/01/2015, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Bản kết luận điều tra bổ sung số 03/KLĐTB. (Lần thứ 01)

6. Ngày 06/02/2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao ra Cáo trạng số 05/VKSTC-V2; quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy theo khoản 2 Điều 258, BLHS; ủy quyền cho VKSND thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm.

7. Ngày 22/05/2015, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Bản kết luận điều tra bổ sung số 11/KLĐTB. (Lần thứ 02)

8. Ngày 03/06/2015, Viện trưởng VKSND tối cao ra Văn bản số 2063/VKSTC-V2 giữ nguyên Cáo trạng số 05/VKSTC-V2 ngày 06/02/2015.

9. Ngày 07/08/2015, Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an ra Kết luận điều tra bổ sung số 21/KLĐTBS (Lần thứ 03).

10. Ngày 22/10/2015, Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an ra Kết luận điều tra bổ sung số 26/KLĐTBS (Lần thứ 04).

11. Ngày 05/11/2015, VKSND tối cao ra văn bản số 4400/VKSTC-V1 về việc giữ nguyên cáo trạng số 05/VKSTC-V2 ngày 06/02/2015 và chuyển đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm theo quy định.

12. Ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (TAND Tp.Hà Nội) ra thụ lý số 637/2015/HSST.

13. Ngày 04/01/2016, TAND Tp.Hà Nội ra Quyết định số 04/2016/HSST-QĐ đưa vụ án ra xét xử vào ngày 19/01/2016. Ngày 12/01/2016, Thẩm phán Nguyễn Văn Phổ ra Thông báo hoãn phiên tòa số 45/TB-TA.

14. Ngày 09/03/2016, TAND Tp.Hà Nội ra Thông báo số 86/HS-TB mở phiên tòa vào ngày 23/03/2016.

Ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị tạm giam tại Trại tạm giam B14, Bộ Công an ở Hà Nội từ ngày 05/05/2014 cho đến nay.

II. Các yếu tố cấu thành tội phạm:

1. Khách thể của tội phạm:

Điều 258, BLHS quy định mặt khách thể của tội này là các quan hệ xã hội thuộc về “các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác”.

1.1. Cáo trạng (trang 01) cho rằng: ông Vinh vào trang chủ wordpress.com: ngày 20/9/2013 lập ra blog diendandansu.wordpress.com (Dân quyền), ngày 18/01/2014 lập ra blog chepsuviet.wordpress.com (Chép sử Việt). Căn cứ Điều 3, Luật báo chí năm 1989, sửa đổi, bổ sung 1999, quy định:

“Điều 3. Các loại hình báo chí

Báo chí nói trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài".

Blog, gọi tắt của weblog (tiếng Anh, "nhật ký web"), là một dạng nhật ký trực tuyến (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Blog không phải là một loại hình báo chí nào cả. Nói cách khác ông Vinh không lợi dụng quyền tự do báo chí.

1.2. Cáo trạng (trang 5-6) cho rằng: ông Vinh “lợi dụng quyền tự do ngôn luận” nhưng 24 bài viết trên 02 blog được sử dụng làm chứng cứ cáo buộc ông Vinh, Cơ quan điều tra không có căn cứ kết luận ông Vinh là tác giả của các bài viết đó.

Ngoài 02 quyền nêu trên, Cáo trạng không nêu ra được ông Vinh đã lợi dụng một quyền nào trong số các quyền tự do dân chủ của công dân. Do vậy, ông Nguyễn Hữu Vinh không xâm phạm khách thể của Điều 258, BLHS.

2. Mặt khách quan của tội phạm:

2.1. WordPress.com là một dịch vụ lưu trữ blog thuộc sở hữu của Automattic. Hiện nay WordPress được sở hữu và phát triển bởi công ty Automattic có trụ sở tại San Francisco, California thuộc Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Cơ quan điều tra không có chứng cứ do công ty Automattic (Hoa Kỳ) cung cấp để khẳng định ông Vinh là người lập ra 02 blog nêu trên.

2.2. Cáo trạng (trang 5 - 6) cho rằng: ông Vinh đặt chế độ bảo mật 02 lớp cho 02 blog này bằng hộp thư điện tử và số điện thoại di động. Sau đó ông Vinh cung cấp mật khẩu truy cập, chia sẻ cho bà Nguyễn Thị Minh Thúy một số quyền quản trị 02 blog. Để từ đó cáo buộc ông Vinh và bà Thúy phải chịu trách nhiệm về 24 bài viết đăng trên 02 blog. Đây là một cách suy diễn vô căn cứ, bởi vì:

2.2.1. Không có bằng chứng, chứng minh ông Vinh cung cấp mật khẩu truy cập, chia sẻ cho bà Thúy quyền quản trị 02 blog.

2.2.2. Cơ quan điều tra không chứng minh được ông Vinh không cung cấp mật khẩu truy cập, chia sẻ quyền quản trị 02 blog cho người thứ 03;

cũng như không chứng minh được bà Thúy không tiếp tục cung cấp mật khẩu truy cập, chia sẻ quyền quản trị blog cho người tiếp theo.

Kết luận: Về mặt khách quan ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy không có hành vi của tội quy định Điều 258, BLHS.

III. Các vi phạm tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng:

1. Về thủ tục tố tụng:

1.1. Ngày 05/05/2014, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra lệnh bắt khẩn cấp đối với ông Vinh, bà Thúy theo Điều 81 và Điều 82 BL TTHS 2003, và ra lệnh tạm giam ông Vinh, bà Thúy là vi phạm tố tụng, bởi vì:

a) Khi khám xét khẩn cấp nơi ở của ông Vinh, bà Thúy cùng ngày 05/05/2014 không thu được tài liệu nào ngoài một số các bài viết được in ra tại nhà từ máy tính của ông Vinh, bà Thúy – (BL 331, 332). Sau này, tại Bản kết luận điều tra số 14/ANĐT ngày 30/10/2014, Cơ quan ANĐT cho rằng các bài viết này được in từ máy tính của ông Vinh 06 bài trên blog chepsuviet.wordpress.com, in từ máy tính của bà Thúy có 02 bài trên blog diendanxahoidansu.wordpress.com.

Các bài viết trên blog được lưu ở trên internet; không nằm ở phần cứng của máy tính của ông Vinh hay bà Thúy, không thuộc trường hợp bắt khẩn cấp.

b) Ông Vinh không ký biên bản khám xét mà chỉ có 02 người chứng kiến ký là: Ông Phạm Văn Vinh - Cảnh sát khu vực phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội và ông Ngô Sỹ Lợi - người láng giềng. Bà Thúy cũng không ký biên bản khám xét mà chỉ có 02 người làm chứng kiến ký là: Ông Hoàng Chí Thanh - Cảnh sát khu vực phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội và bà Nguyễn Thị Khiêu - Tổ trưởng tổ dân phố.

Những người chứng kiến khám xét ngày 05/05/2014 ở nhà ông Vinh và nhà bà Thúy không căn cứ xác định là có kiến thức, hiểu biết về internet cần thiết để làm vai trò của người chứng kiến, nên họ ký với tư cách người chứng kiến không có giá trị khách quan. Vì họ không thể biết rằng Cơ quan điều tra in các tài liệu từ ổ cứng máy tính hay in từ mạng internet. Điều này đồng nghĩa Cơ quan ANĐT không có căn cứ cho rằng các bài viết được in ra từ máy tính ở nhà ông Vinh, bà Thúy hôm đó đủ yếu tố xác định là chứng cứ, là các dấu vết của tội phạm tại chỗ ở.

Tóm lại: Ở người và tại chỗ ở của ông Vinh, bà Thúy không có dấu vết của tội phạm; ông Vinh, bà Thúy đều có nhân thân tốt nên không cần thiết phải bắt khẩn cấp và tạm giam.

1.2. Ngày 13/05/2014, Cơ quan ANĐT ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy là trái pháp luật, bởi các lý do sau:

a) Cơ quan ANĐT căn cứ vào tin báo là Công văn số 469/CV ngày 01/04/2014 của Cục Bảo vệ Chính trị 6 (Cục 6), Tổng cục An ninh I để khởi tố vụ án. Tại Công văn 469/CV ngày 01/04/2014, Cục 6 cho biết trước đó Cục đã nhận được: Văn bản số 223/CV-FPT-TEL-NOC và 283/CV-FPT-TEL-NOC, ngày 19 và 31/03/2014 của Công ty cổ phần Viễn thông FPT; văn bản số 486/VDC-CN và 495/VDC-CN, ngày 31/03 và ngày 01/04/2014 của Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC.

Các văn bản này thông báo kết quả việc họ (FPT, VDC) theo yêu cầu của Cục 6 đã theo dõi và cung cấp thông tin cá nhân của khách hàng là ông Vinh, bà Thúy cho Cục 6. Hành vi này của FPT, VDC là vi phạm quy định của điều 38 Bộ luật dân sự 2005 và khoản 2 điều 26 Nghị định 72/2013/NĐ-CP, khi không có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát. Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân chỉ được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tóm lại: Cơ quan ANĐT đã căn cứ vào những tài liệu thu thập một cách không hợp pháp để khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

b) Cơ quan ANĐT khi nhận được tin báo của cơ quan, tổ chức đã không tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin một cách đầy đủ theo quy định của điều 103, BL TTHS và khoản 2 điều 10 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLTBCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC; không xác định được thiệt hại của tổ chức, cá nhân người bị hại và danh tính của tổ chức, danh tính cá nhân bị hại nhưng vẫn ra quyết định khởi tố vụ án.

1.3. Giam giữ trái pháp luật:

a) Căn cứ Điều 5, BL TTHS 2003, quy định:

Điều 5. Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật

Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.”

Ngày 23/04/2015, VKSND tối cao ra Quyết định số 05/VKSTC-V2 yêu cầu điều tra bổ sung lần 2 để làm rõ thời điểm ông Vinh bị khởi tố có là đảng viên ĐCVN hay không; ngày 08/07/2015, VKSND tối cao ra Quyết định số 08/VKSTC-V1 yêu cầu điều tra bổ sung lần 3 để tiếp tục làm rõ vấn đề đảng tịch của ông Vinh; ngày 24/08/2015, VKSND tối cao ra Quyết định số 09/VKSTC-V1 yêu cầu điều trả bổ sung lần 4 vẫn nhằm xác định đảng phái chính trị của ông Vinh theo yêu cầu của TAND Tp.HN yêu cầu điều tra bổ sung theo Quyết định số 90/QĐ-HSST ngày 08/07/2015 chưa được kết luận.

Việc giam giữ ông Vinh, bà Thúy từ ngày 23/04/2015 đến ngày 22/10/2015 kết thúc điều tra bổ sung lần thứ 4 vì lý do đảng tịch của ông Vinh là vi phạm Điều 5, BL TTHS.

b) Ngày 05/11/2015, VKSND tối cao đã có văn bản số 4400/VKSTC-V1 về việc giữ nguyên cáo trạng số 05/VKSTC-V2 ngày 06/02/2015 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngày 10/11/2015, vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm theo quy định. Nhưng đến ngày 26/12/2015 quá thời hạn bốn mươi lăm ngày theo quy định nhưng Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Phổ đã không ra một quyết định nào theo quy định của khoản 2 điều 176, Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Chánh án TAND Tp.Hà Nội tiếp tục giam giữ ông Vinh, bà Thúy là trái pháp luật, có dấu hiệu phạm “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật” theo điều 303, Bộ luật hình sự.

Ngày 26/12/2015, tôi Luật sư Hà Huy Sơn gửi đơn tố cáo Chánh án TAND Tp.HN tới Viện trưởng VKSND tối cao nhưng đến nay chưa được giải quyết.

c) Tại phiên tòa hôm nay căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 58, BL TTHS tôi yêu cầu HĐXX làm rõ: có việc Thẩm phán trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung lần thứ 5 hay không? Vì việc này Tòa và VKS không thông báo cho người bào chữa biết.

d) Ngày 04/01/2016, TAND Tp.Hà Nội ra Quyết định số 04/2016/HSST-QĐ đưa vụ án ra xét xử vào ngày 19/01/2016. Ngày 12/01/2016, Thẩm phán Nguyễn Văn Phổ ra Thông báo hoãn phiên tòa số 45/TB-TA.

- Căn cứ các Điều 94, 177 và 194 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Đến 12/02/2016), hết thời hạn hoãn phiên tòa 30 ngày. Vì vậy, hành vi tạm giam ông Vinh, bà Thúy từ 13/02/2016 đến nay 23/03/2016 là trái pháp luật.

1.4. Quyết định khởi tố vụ án số 05/ANĐT, ngày 13/05/2014 do Trung tướng Thủ trưởng cơ quan ANĐT Hoàng Kông Tư ký vi phạm khoản 1 Điều 42, BL TTHS 2003. Vì ông Tư được coi là bị hại trong một bài viết ““Ông trời con” Hoàng Kông Tư” đăng ngày 30/04/2014 là 1 trong 12 bài viết trên Blog Dân quyền.

2. Về chứng cứ:

2.1. Cơ quan ANĐT chỉ căn cứ vào các tài liệu do các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông (Công ty cổ phần viễn thông FPT, Công ty điện toán và truyền dẫn số liệu VDC, Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội HTC, Công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone) để cho rằng các thông tin được cung cấp có liên quan quan đến ông Vinh, bà Thúy mà không thực hiện trưng cầu giám định là vi phạm điều 64 và 66 BL TTHS. Vì các văn bản do các doanh nghiệp trên cung cấp không đảm bảo tính khách quan, tính hợp pháp làm chứng cứ để khởi tố trách nhiệm hình sự đối với ông Vinh, bà Thúy.

2.2. Cáo trạng không xác định được hành vi của ông Vinh, bà Thúy với vai trò điều hành, quản trị blog diendanxahoidansu.wordpress.com và blog chepsuviet.wordpress.com; hành vi soạn thảo, đăng tải, chỉnh sửa, xóa, phê duyệt bình luận của 12 bài viết trên blog “Dân quyền” và 12 bài viết trên blog “Chép sử Việt”.

IV. Đề nghị:

Kính thưa HĐXX,

- Căn cứ khoản 1 Điều 107 “Không có sự việc phạm tội” và khoản 1 Điều 227 “Trả tự do cho bị cáo” của BL TTHS 2003, đề nghị HĐXX tuyên bố ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy không có tội và trả tự do cho họ.

Tôi xin chân thành cám ơn sự lắng nghe của các quý vị.

Hà Nội, ngày 23/03/2016.

Người bào chữa

Luật sư Hà Huy Sơn

Luật sư Hà Huy Sơn gửi BVN.