03/09/2012

THỦY ĐIỆN ĐỒNG NAI 6 & 6A NHỮNG ĐIỀU CHƯA RÕ (Bản gốc)

TS. Tô Văn Trường

    Trên công luận đang rộ lên thông tin trái chiều về việc xây dựng nhà máy thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Điều đó không có gì lạ vì khi con người tác động vào tự nhiên đều có hai mặt được và mất. Nhiệm vụ của những người ra quyết định phải biết lắng nghe phản biện xã hội, tôn trọng các các ý kiến đa chiều, cân nhắc thận trọng, dựa trên báo cáo đánh giá tác động môi trường, thẩm định một cách khách quan và khoa học để có quyết định hợp lý nhất (nếu có làm thì phải minh chứng được nhiều nhất mà mất lại ít nhất).

Khách quan nhận xét, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) dự án ĐN 6 và 6 A của Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia TP HCM thực hiện lần này tốt hơn rất nhiều so với báo cáo lần trước. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều tồn tại cần làm rõ về phương pháp luận ĐTM, tính khả thi của việc điều tiết nước về phía hạ lưu, các thông tin chi tiết về hiện trạng rừng và mức độ đa dạng sinh học, văn hóa bản địa tại khu vực dự án v.v.

  Đối với tác động môi trường của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cần xem xét và đánh giá cẩn trọng đối với các vấn đề về mất vĩnh viễn diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, rủi ro và sự cố môi trường. Dự án thủy điện 6A lựa chọn phương án mực nước dâng 175m, và đánh giá là giảm diện tích rừng bị mất vĩnh viển so với phương án dâng 177 m là khoảng 15 ha, trong đó, chỉ có 2 ha thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt  của Nam Cát Tiên. Như vậy với phương án này, diện tích khu bảo vệ nghiêm ngặt bị ngập là 25 ha, trên tổng số 107 ha đất rừng bị ngập. Đối với Đồng Nai 6, lựa chọn phương án mực nước dâng 224 m thì diện tích chiếm đất vĩnh viễn là 171,36 ha (155,35 ha diện tích lòng hồ và 16,01 ha diện tích công trình chính) trong đó có 77, 36 ha thuộc Rừng quốc gia Nam Cát Tiên. Tuy nhiên, trong báo cáo chưa tính đến diện tích đất dùng cho tuyến truyền tải điện, bao gồm cả hành lang an toàn, Các phương án truyền tải chưa được nêu ra, mặc dù hành lang an toàn theo quy định là không lớn, nhưng lại kéo dài và như vậy diện tích đất và rừng bị mất là con số không nhỏ.

Nếu  đứng trên quan điểm của các nhà bảo tồn đa dạng sinh học, căn cứ theo luật đa dạng sinh học thì rõ ràng cả 2 dự án đều vi phạm vào khu bảo tồn thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Toàn bộ quá trình từ giai đoạn chuẩn bị, xây dựng và vận hành đều gây tác động vĩnh viễn đến việc mất tổng số gần 300 ha đất rừng trong đó 25 ha thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt và 77 ha rừng phòng hộ.  Cũng theo đánh giá của báo cáo ĐTM, thì Vườn quốc gia Cát Tiên là một trong những khu vực hiếm hoi ở Đông Nam Bộ có tính đa dạng sinh học cao, tồn tại nhiều loại động thực vật có tính bản địa, có giá trị kinh tế, và cần được bảo tồn vì có nguy cơ tuyệt chủng, thuộc những loài nằm trong sách đỏ Việt Nam. Theo các chuyên gia đa dạng sinh học nhiều năm gắn bó với rừng Cát Tiên phản ánh hiện trạng rừng Cát Tiên ngoài rừng nghèo kiệt và tre nứa thuần loại còn các hệ sinh thái như rừng kín thường xanh cây nửa lá rụng, rừng hỗn giao cây gỗ và tre nứa, rừng ngập nước ven suối và sông. Nhiều loại thực vật quý hiếm và đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng được tìm thấy như cẩm lai, gỗ đỏ, gỗ mật, trắc và động vật như chà và chân đen, vượn đen má vàng, culi nhỏ, sóc đen lớn v.v. Để cập nhật các số liệu xác thực, rất cần nhóm chuyên gia độc lập tiến hành khảo sát thực địa để minh chứng, cung cấp cho Bộ Tài nguyên & Môi trường và Hội đồng thẩm định đánh giá tác động môi trường.

Đứng trên góc độ người dân bình thường, câu hỏi đặt ra là, nếu không có việc xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A thì, rừng có được bảo vệ nghiêm ngặt như tên của nó không? Vấn nạn khai thác gỗ lậu, săn bắn thú rừng trái phép diễn ra khắp nơi như hiện nay liệu những khu rừng như Nam Cát Tiên  còn tồn tại được bao lâu? Như vậy thủ phạm làm mất rừng, suy giảm đa dạng sinh học ở đây là ai? Chủ đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện? hay những công ty xuất nhập khẩu gỗ lâm sản hay hàng  ngàn quán nhậu có thực đơn là thịt thú rừng ( Vườn quốc gia Cát Tiên đã xác nhận cá thể Tê giác 1 sừng cuối cùng đã bị sát hại năm 2011)!

  Đứng trên quan điểm quản lý môi trường là sự cân nhắc giữa bài toán được và mất, cái được về mặt kinh tế của 2 dự án này theo tính toán kinh tế là đã rõ, nhưng cái thiệt hại về môi trường nhiều khi không tính được bằng tiền, vậy quan điểm của các nhà quán lý như thế nào? Các cam kết của chủ đầu tư cần cụ thể hóa kế hoạch trồng và phục hồi rừng (trong khi rừng đều đã có chủ là giao cho dân), cũng như cam kết hỗ trợ phát triển sinh kế và đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng địa phương. Ngoài việc lấy ý kiến của chính quyền, Uỷ ban Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và người dân, chủ đầu tư cần thảo luận, có sự đồng thuận của chủ rừng, Vườn quốc gia Cát Tiên, cơ quan quản lý môi trường của các địa phương Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng v.v.

Trong báo cáo đề cập đến rất nhiều loại rủi ro và sự cố, tuy nhiên những rủi ro, hoặc lỗi kỹ thuật trong các khâu thiết kế, thi công chưa được đề cập tới. Lấy ví dụ trường hợp nổ do công nhân khoan tại hầm thủy diện Nam Pong, Nghệ An, hay rò rỉ, thấm thân đập thủy điện sông Tranh 2. Đối với rủi ro do vỡ đồng thời 2 đập ĐN 6 và 6A, thì mức độ, diện tích ngập ở phía hạ lưu được tính toán tương đương với trường hợp lũ năm 2000 và 2006. Do vậy báo cáo phải có sự cam kết của chủ đầu tư về việc xây dựng kế hoạch trong đó có các biện pháp ứng phó bao gồm cả phương tiện dự phòng trong trường hợp sự cố xảy ra. Các chuyên gia môi trường thường quan ngại điểm yếu nhất của quy trình “Đánh giá tác động môi trường” của ta hiện nay là khâu hậu kiểm!

Công trình thuỷ điện Đồng Nai 6A nằm trong khu vực bị rải chất độc hoá học trong chiến tranh. Chất độc hoá học tồn tại rất bền vững trong đất, nên nếu có sẽ làm ảnh hưởng sức khoẻ người dân và động vật trong vùng dự án cũng như chất lượng nước hồ. Chủ dự án nên tìm hiểu chi tiết và thuê cơ quan chuyên môn tiến hành thăm dò chất độc hoá học mặc dù hiện chưa có báo cáo về chất độc hoá học khu vực này.

Thủ tướng Chính phủ có văn bản số 45/TTg-KTN ngày 31/8/2011 gởi các Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên & Môi trường, UBND các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước yêu cầu luận chứng thêm các diện tích rừng và đất cần chuyển mục đích sử dụng để thực hiện các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A để xem xét cho việc chuyển đổi hay không; Thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Hiện nay trên thế giới có 4 loại hình đánh giá tác động là: Đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động xã hội, đánh giá tác động sức khỏe và đánh giá tác động kinh tế. Dưới góc độ khoa học, mỗi loại hình đánh giá tác động phải đáp ứng 3 tiêu chí của khoa học là đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu. Dưới góc độ môi trường, 4 loại hình đánh giá tác động này được coi là công cụ mang tính phòng ngừa rất hữu hiệu trong công tác bảo vệ môi trường. Trong đánh giá tác động môi trường, tiêu chuẩn môi trường và quy chuẩn môi trường  là các căn cứ, chuẩn mực để so sánh, đánh giá và xác định mức độ của các tác động môi trường. Độ tin cậy, chính xác của đánh giá tác động môi trường phụ thuộc vào phương pháp dự báo, thông tin số liệu đầu vào và kinh nghiệm tay nghề của người thực hiện. Khó khăn cho những người thực hiện ĐTM là độ tin cậy và rất hạn chế về lượng thông tin có tính hệ thống, đồng bộ. Cách tốt nhất đối với ĐTM là phải “lồng ghép” trong dự báo, đánh giá tác động của hệ thống các dự án trong cùng một vùng.

Rừng là bộ phận kết cấu hạ tầng sinh thái của đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nhận xét, không có thủy điện vẫn có giải pháp khác thay thế, còn khi mất rừng là mất tất cả! Cuối tháng 9 năm nay, đoàn chuyên gia của thế giới sẽ bắt đầu đến Việt Nam xem xét, đánh giá hồ sơ di sản thế giới của rừng Cát Tiên bởi vậy báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6 A cần được tiếp tục bổ sung làm rõ các vấn đề còn tồn tại.

Hội  đồng thẩm định đánh giá tác động môi trường bao gồm nhiều nhà quản lý và khoa học của các ngành ở trung ương và địa phương. Do tính chất nhạy cảm và phức tạp của dự án thủy điện ĐN 6 và 6A, nên thực hiện theo cơ chế “thẩm định mở”, có nghĩa là mời cả đại diện của các tổ chức phản biện không tán thành hoặc có ý kiến băn khoăn về dự án như Mạng lưới sông ngòi, Nhóm yêu quý bảo vệ rừng Cát Tiên cùng tham dự. Thẩm định mở, tôn trọng ý kiến đa chiều, chính là “lối ra” hợp lý nhất cho dự án thủy điện ĐN 6 và 6A.

T.V.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN