22/12/2012

Khổng Tử, sự phản phục bất tận

Anne Cheng

Chân Phương dịch

Nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng 9-2012, tập hợp một số bài viết cho chủ đề DOSSIER: PÉKIN, POUVOIR SECRET, PUISSANCE MONDIALE (Hồ sơ: Bắc Kinh, Quyền hành bí mật, Thế lực toàn cầu), trong đó có bài chính luận ngắn CONFUCIUS, le Retour Éternel của Anne CHENG về sự phục hồi Khổng tử và Nho giáo ở Trung Quốc hôm nay. Là Giáo sư về lịch sử tư tưởng Trung Hoa tại Collège de France, đồng thời là học giả hàng đầu ở Paris về Khổng tử và Nho học (bản dịch Luận ngữ sang tiếng Pháp của bà là tài liệu tham khảo đáng tin cậy hiện nay), Anne Cheng cảnh giác về sự lợi dụng Khổng giáo ở Trung Quốc và một số nước Á Đông hôm nay như một công cụ cai trị để ổn định hóa các xã hội đang bị sự biến động của kinh tế thị trường làm xáo trộn mạnh.

Chưa kể sự thương phẩm hóa dễ dãi học thuyết và kinh sách làm hư hại phần tích cực và tính chất phê phán quyền bính trong tư tưởng Khổng Nho.

Chân Phương

Tại sao Khổng Tử vẫn trở đi trở lại mãi trong bối cảnh Trung Hoa hôm nay? Làm sao giải thích sự kiện một bậc thánh hiền Cổ đại sống vào thế kỷ thứ V thứ VI trước Công nguyên hai nghìn năm trăm sau lại mang một giá trị biểu trưng ở Trung Quốc của thế kỷ XXI, một nước đang vươn nhanh về quyền lực kinh tế và địa lý-chính trị giữa một thế giới toàn cầu hóa?

Có cần nhắc rằng tên gọi CONFUCIUS là sự la tinh hóa Hán tự của Kongfuzi ( Khổng Phu tử – “Maitre Kong”) do các nhà truyền giáo jésuites – những người đầu tiên giới thiệu ngài với giới thượng lưu châu Âu. Căn cứ vào các nguồn của Trung Hoa Cổ đại, thầy Khổng đã dành cả đời giáo huấn cho một nhóm môn đồ các thuật tu thân trị quốc theo tinh thần của lễ nghi và nhân nghĩa. Sau khi nhà Tần thống nhất không gian Trung Hoa vào năm 221 trước CN, giáo thuyết cũng như một số kinh sách gắn liền với tên tuổi ngài đã được vận dụng để xây nền đắp móng ý thức hệ cho trật tự của đế chế mới. Từ đó, và cho đến đầu thế kỷ XX, hình tượng Khổng Tử cũng đã nhập chung với định mệnh của đế triều Trung Hoa, đúng cho đến mức trở thành biểu trưng tuyệt hảo (l’emblème par excellence) cho bản sắc trung hoa hôm nay. Ít ra nó đã được phương Tây cảm nhận như thế, và cũng vậy được Trung Hoa đại lục trình bày, tôn vinh, gần như biến thành công cụ.

Người ta hầu như quên mất những điều bĩ cực mà hình tượng này phải chịu trong thời hiện đại ở Trung Hoa, đã khiến nó trải qua một thế kỷ tàn phá giữa các năm 1860 và 1970. Thật vậy, từ cuộc chiến Nha phiến lần thứ hai (1856-1860) hiện hình một bước ngoặt lịch sử khiến giới ưu tú Trung Hoa ý thức được tính ưu việt của các thế lực phương Tây, rốt cuộc đưa đến cố gắng (sẩy thai) cải tổ chính trị đầu tiên năm 1898 theo kiểu Minh Trị bên Nhật (1). Kéo theo một loạt các khủng hoảng đầy kịch tính vào đầu thế kỷ XX: việc dẹp bỏ vào năm 1905 cả một hệ thống khoa cử quan trường khét tiếng (2), nền móng nhiều đời của đế chế, vừa đánh dấu bước đầu của quá trình “thế tục hóa” hiện đại theo lối Trung Hoa. Rồi vài năm sau nhà Thanh Mãn Châu, và cùng với nó là cả chế độ đế triều, sụp đổ tiêu tan để nhường chỗ cho nền cộng hòa thứ nhất của Trung Hoa do Tôn Dật Tiên đề xướng.

Về mặt tượng trưng, vụ khủng hoảng đã để dấu ấn sâu đậm lâu dài trong trí óc là cuộc vận động Ngũ Tứ (4-5-1919), khủng hoảng này phản ánh những bất bình của các nhà trí thức phải vật lộn với thực tế nhục nhã của đất nước Trung Hoa. Họ cho rằng tính hiện đại chỉ có thể định nghĩa bằng các tên gọi của phương Tây như khoa học và dân chủ, và cần thiết phải “đạp đổ Khổng Tử”, kẻ chịu trách nhiệm đối với mọi tật bệnh của nước Trung Hoa, kể cả sự lạc hậu về vật chất lẫn tinh thần. Để tìm ra một chủ nghĩa hiện đại kiểu phương Tây, những kẻ đả phá truyền thống trong phong trào Ngũ Tứ có xu hướng suy luận như cách phân tích mác-xít, và tống tiễn Khổng giáo vào “nhà bảo tàng lịch sử”.

Từ Max Weber đến Mao, thầy Khổng bị kết án bảo thủ

Vào bước ngoặt những năm 1920, một cách chẩn đoán khác cũng từ phương Tây còn kết án Khổng giáo một cách quyết liệt hơn: đó là sự định bệnh của nhà xã hội học Đức Max Weber khi mối quan tâm của ông là chỉ ra những kích thước ý hệ trong các căn nguyên của chủ nghĩa tư bản phương Tây (theo ông là đạo lý Tin Lành). Cho rằng đã nhận diện được những điều kiện vật chất khả dĩ khai sinh chủ nghĩa tư bản ở Trung Hoa, Weber đi đến kết luận: điều này đã không diễn ra là do các yếu tố ý hệ, đứng đầu là Khổng giáo. Thế thì dẹp bỏ một lần cho xong cái khối nặng ù lì đó là điều kiện quyết định để bước vào tính hiện đại phương Tây.

Một thế hệ sau 1919, với thời điểm ai cũng biết là năm 1949, khi xung đột Hoa-Nhật và cuộc nội chiến chấm dứt đánh dấu sự thành lập nền Cộng hòa nhân dân bởi những người cộng sản với sự tháo chạy của chính quyền quốc gia ra Đài Loan cùng một số trí thức thù nghịch với chủ nghĩa mác-xít. Từ vị thế lưu vong, nhóm người này lo âu theo dõi sự diễn biến của Trung Quốc thời kỳ Mao. Với cuộc “đại cách mạng văn hóa vô sản” do Mao khởi xướng năm 1966 (rồi mười năm sau tắt ngấm khi Mao chết năm 1976), Trung Quốc đã trải qua cái họa hủy diệt đến tận cùng như một dạng cực đoan hóa triệt để phong trào Ngũ Tứ, đáng nói nhất là quyết tâm xóa sạch các tàn tích xã hội truyền thống của cuộc vận động này.

Sau một thế kỷ tàn phá di sản Khổng Nho, cục diện đã đảo lộn trong vòng ba mươi năm gần đây. Từ những năm 1980 trở đi ta thấy một sự lật ngược ngoạn mục với các dấu hiệu đầu tiên dấy lên từ ngoại vi quanh Trung Quốc đại lục. Từ cương vị của vật cản không thể bứng đi, Khổng giáo chuyển thành động cơ chính của hiện đại hóa. Căn nguyên của việc đảo hoán này không dính dáng nhiều đến học thuyết Khổng Nho mà đến từ một tình huống lịch sử và kinh tế chưa từng thấy: sau mười năm Cách mạng Văn hóa, mô hình cách mạng cộng sản bị vứt bỏ de facto ngay tại Trung Quốc trong lúc ở vùng ngoại vi người ta chứng kiến sự nhảy vọt kinh tế không ngờ của bốn “con rồng” (Đài Loan, Hương Cảng, Singapore, Nam Hàn) theo vết Nhật Bản. Như vậy, những “biên địa của đế triều” cùng lúc với những “giá trị Á Đông” mà các nước này giành lấy lại được phóng chiếu vào một giá trị trung tâm đặc trưng (une centralité exemplaire) và trở thành đối tượng của mọi sự chú ý, đặc biệt là phương Tây.

Quả nhiên vào lúc chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc và đồng thời tại Đông Âu rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, các xã hội tư bản phương Tây cũng nhận ra những tín hiệu cho thấy sự phát triển của chính họ đang suy thoái. Trong khung cảnh đó, các ‘giá trị Khổng Nho” (tầm quan trọng của gia đình, sự tôn kính đẳng trật, nỗi khát vọng học hỏi, thói vùi đầu vào công việc, tính cần kiệm, v.v.) dùng để biện giải cho sự vươn lên của một dạng tư bản chủ nghĩa Á Đông đặc thù đã đến đúng lúc để đưa ra phương thuốc chữa trị chứng suy yếu của mô hình hiện đại phương Tây bằng cách vượt lên bỏ lại nó phía sau.

Cơ hội phục hận vinh quang đối lại ưu thế thượng đẳng của phương Tây

Phải truy tìm từ hoàn cảnh thế giới cái yếu tố gây ra sự đảo ngược trong những năm 1980; và tâm điểm của nó không nằm trong các xã hội Trung Hoa đúng nghĩa mà nằm ở những khu vực người Hoa đã Tây phương hóa và nói tiếng Anh tại Singapore và Hoa Kỳ. Vào giữa thập niên 80, nó lây nhiễm sang nước Trung Quốc đang bận thanh toán di sản Mao-ít và cũng rất muốn bám theo các toa tàu của chủ nghĩa Á Đông để rốt cục tiến lên hàng đầu. Khổng giáo sau nhiều thế hệ bị khinh bai, thậm chí đền miếu kinh sách bị đốt phá bởi cao trào bạo lực trong Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, lại trở thành đối tượng trong cuộc hội thảo đầu tiên vào năm 1978 nhằm phục hồi nó. Kể từ ngày đó, không năm nào không diễn ra nhiều cuộc hội thảo quốc tế về đề tài này. Năm 1984, một Fondation Khổng tử được thành lập ở Bắc Kinh dưới sự bảo trợ của những quan chức cao cấp nhất trong đảng. Năm 1992 lúc đi tham quan các tỉnh phía Nam, Đặng Tiểu Bình đã nêu Singapore của Lý Quang Diệu như kiểu mẫu cho Trung Quốc vào thời điểm ông ta tung ra chính sách “kinh tế thị trường kiểu chủ nghĩa xã hội”. Một cách trớ trêu, những yếu tố theo Max Weber đã gây trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản lại chính là những điều giúp cho các xã hội Á Đông tránh được những vấn nạn của xã hội phương Tây hiện đại. Đối lại ưu thế thượng đẳng của phương Tây, đây là cơ hội cho một sự phục hận đầy vinh quang được mong đợi ít nhất là từ một thế kỷ qua ở Trung Quốc cũng như ở một số nước khác trong vùng.

Việc trở lại với Khổng giáo thật ra không ăn nhập gì lắm với thị trường, chính sách này phục vụ những mục tiêu chính trị của các nhà lãnh đạo chuyên quyền ở Singapore, Bắc Kinh, Seoul phải đối phó với sự tăng tốc đột ngột của phát triển kinh tế trong khi các cơ cấu xã hội-chính trị không bắt kịp. Họ thấy tiện lợi khi mượn lại “các giá trị Khổng Nho” để phục vụ cho mình, chúng đảm bảo sự ổn định, kỷ luật và trật tự xã hội đối lại với phương Tây đang suy thoái vì quá bám chặt vào chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa hưởng lạc. Trong đường lối tân chuyên quyền này (néo-autoritarisme), các nhà ý thức hệ mác-xít và chống mác-xít cùng gặp nhau ở một điểm chủ yếu: thay cho các hình tượng của chủ nghĩa xã hội không theo phương Tây mà óc không tưởng mao-ít đã cố nhồi nhét là nỗi khao khát đạt đến sự hiện đại công nghiệp dưới danh hiệu “hậu hiện đại”, luôn luôn không cần đến phương Tây.

Vụ khủng hoảng tài chính năm 1997 ít nhiều đã làm dịu bớt cơn sốt của Confucius economicus (Khổng Tử nhà kinh tế), nhưng sự trở lại của vị thầy cổ kính không vì thế mà bị ngăn cản, ngược lại là đằng khác. Từ chục năm qua (nói tượng trưng là từ ngày bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba), sự diễn tiến mang hình thái một chùm hiện tượng kết lại với nhau rất phức tạp, chúng len vào mọi tầng cấp xã hội và chạm đến toàn bộ Trung Quốc đại lục. Trong lĩnh vực chính trị, điều ưu tiên của các nhà lãnh đạo hiện nay là giữ vững sự ổn định xã hội để tạo điều kiện tốt cho tăng trưởng kinh tế về lâu dài. Năm 2005, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tung ra chỉ thị mới của ông ta, “xã hội thuận hòa theo hướng chủ nghĩa xã hội”, tiếp theo những hiệu lệnh khác mang nội hàm Khổng Nho rõ rệt dù không được minh định công khai: lý tưởng về “xã hội phồn thịnh tương đối” của Đặng Tiểu Bình hay là “dùng đức trị dân” của Giang Trạch Dân. Khi lục soạn trong các kho sách về thuật điều hành xã hội của Khổng Nho, họ cũng muốn đề xuất một giải pháp thay thế nền dân chủ tự do theo mô hình phương Tây. Ngày nay, chỉ cần gọi tên Khổng Tử - có liên hệ mặc nhiên đến sự thuận hòa (harmonie: hoà mục theo cổ văn), là không những “có lộc” trên thị trường kinh tế mà còn kiếm thêm được món tài sản tượng trưng (capital symbolique): cộng vào các Viện Khổng học lừng danh đang mọc lên khắp thế giới, tại Trung Quốc thiên hạ còn chứng kiến sự lan tràn nhanh chóng của các Trung tâm hoặc Fondations Khổng học.

Hệ quả là Luận ngữ cũng thành đối tượng của nhiều dạng công cụ hóa. Về mặt tuyên truyền chính trị chỉ cần nêu một ví dụ: vào dịp lễ khai mạc Thế vận hội vào tháng 8-2008 ở Bắc Kinh do nhà đạo diễn điện ảnh được cả thế giới biết tiếng là Trương Nghệ Mưu chỉ huy, người ta đã thấy hiện lên bức họa với một số châm ngôn trích từ Luận ngữ được một đám lính thuộc Quân đội Cách mạng nhân dân cải trang thành nho sĩ xướng tụng theo kiểu hô khẩu hiệu. Nhưng chính yếu là trong lĩnh vực giáo dục, ở đây Luận ngữ đã lấy lại vai trò trung tâm nó từng nắm giữ xuyên các triều đại. Đây cũng là một cách lợi dụng các lối học tập, giáo huấn “mang tính Trung Hoa đặc thù” rút ra từ các nguồn kho Khổng Nho để tái lập đạo lý trong xã hội, bắt đầu từ đám thiếu nhi và thanh niên. Kể từ những năm 1990, thường là trong khung cảnh ngoài học đường hoặc song song với nhà trường, những phương pháp “truyền thống” được cổ xúy để rèn tập ngay từ tuổi ấu thơ cách lặp đi lặp lại máy móc và học thuộc lòng các kinh điển (bắt đầu từ bộ Luận ngữ). Sự hâm mộ này cũng lây sang người lớn; nhiều lớp học, khóa đào tạo chuyên về “quốc học” được mở ra cho đối tượng này. Còn có các sáng kiến tư nhân do những kẻ động viên cho một thứ “Khổng giáo bình dân” đề xướng tại vùng đô thị hay thậm chí ở chốn hương thôn. Nhờ vào mạng Internet, các sáng kiến này đã tìm được một sức truyền đạt và phổ biến sâu rộng hiệu nghiệm chưa từng thấy.

Món cháo gà cho tâm hồn” vừa giản dị vừa theo đúng đường lối đảng

Một biểu hiện khác cho thấy có vô số người đang quan tâm quay về tìm hiểu Luận ngữ là cuốn sách của Vu Đan (Yu Dan于丹), được dịch sang Pháp văn dưới cái tên hiền lành Le Bonheur selon Confucius (Hạnh phúc theo cách của Khổng Tử - 孔夫子论幸福) (3). Nữ tác giả, một kẻ không có kiến thức chuyên sâu về Khổng Tử và cũng thiếu luôn cái vốn văn hóa Trung Hoa truyền thống, là một cao thủ về truyền thông đã làm cho Luận ngữ trở thành đầu sách bán chạy nhất trong vài năm nay. Hiện tượng media này lây lan đến một công chúng rộng lớn nhờ các buổi truyền hình và các sách in như cuốn vừa kể trên (sách của Vu Đan đã bán trên mười triệu bản). Dưới bề ngoài giản dị ngắn gọn rất hấp dẫn, thật ra đây là một cách đọc bảo thủ và đồng thuận bị những người bài bác cho rằng tác giả đã im không đề cập đến phần phê phán quyền lực chính trị trong Luận ngữ, và đã giảm thiểu hóa thông điệp nhân đạo của Khổng Nho thành “món cháo gà cho tâm hồn” hoàn toàn thích hợp với chỉ thị nhà nước về mặt ổn định hóa xã hội. Nấp bóng Khổng Tử được tạc hình tạc tượng cùng khắp Trung Quốc ngày nay là những quyền lợi “của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” cùng với các mệnh lệnh ý thức hệ của “một xã hội xây trên sự thuận hòa xã hội chủ nghĩa” (“société d’harmonie socialiste”).

A.C.

Chú thích

1. Niên triều Minh Trị (1868-1912) đánh dấu ý chí cương quyết canh tân của Nhật Bản.

2. Định hình từ thế kỷ thứ VII, khoa cử là con đường bắt buộc để được triều đình tuyển dụng vào quan chức.

3. Yu Dan (Vu Đan), Le Bonheur selon Confucius. Petit manuel de sagesse universelle, Belfond, Paris, 2009. (Vu Đan là GS Đại học Sư phạm Bắc Kinh, nghiên cứu và giảng dạy về văn học cổ điển Trung Quốc – BVN chú thêm).

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN