18/07/2015

TPP, CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ BÀI HỌC TỪ HY LẠP

Ls Nguyễn Văn Thân

Có 4 sự kiện quan trọng có tầm ảnh hưởng đến tương lai của đất nước Việt Nam trong năm 2016. Thứ nhất, Đại Hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đưa ra một dàn lãnh đạo mới lèo lái con tàu quốc gia trong một thập niên tới. Nếu đa số thành phần nhân sự thuộc nhóm bảo thủ, giáo điều thì Việt Nam sẽ còn gặp phải nhiều khó khăn trong thời đại hội nhập và cải cách. Thứ hai, Tòa án trọng tài quốc tế về Luật Biển dự kiến sẽ ban hành phán quyết về thẩm quyền của  Tòa trong vụ kiện của Phi Luật Tân phản đối yêu sách “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Nếu câu trả lời là Tòa có thẩm quyền thì hầu như chắc chắn Phi Luật Tân sẽ đạt được mục đích. Nếu không thì Trung Quốc sẽ càng dạn dĩ lấn chiếm và Việt Nam sẽ là nạn nhân đầu tiên của Trung Quốc trong ý đồ thu tóm trọn Biển Đông. Thứ ba, Quốc hội Hoa Kỳ đã trao quyền đàm phán nhanh cho Tổng Thống Obama và vậy thì có nhiều cơ hội Hiệp ước đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương sẽ hoàn tất trong năm nay và chính thức có hiệu lực từ đầu năm tới. Thứ tư, Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ chính thức ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 2016 tạo ra một thị trường chung. Sự kiện này mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập vào ngày 8/8/1967 khi ngoại trưởng 5 nước thành viên sáng lập gồm có Nam Dương, Mã Lai, Singapore, Phi Luật Tân và Thái Lan đồng ký vào Bản Tuyên bố ASEAN tại Bangkok. Mục đích chính thức là đẩy mạnh sự hợp tác kinh tế và xã hội trong khu vực nhưng thực chất là để ngăn cản chủ nghĩa cộng sản lan truyền tại Đông Nam Á trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam. ASEAN thay đổi theo hoàn cảnh khi chiến tranh lạnh chấm dứt cùng với sự sụp đổ của khối cộng sản tại Đông Âu. Brunei gia nhập vào tổ chức này trong năm 1984. Việt Nam gia nhập trong năm 1995. Tiếp theo là Lào và Miến Điện vào năm 1997. Khi Cam Bốt gia nhập vào năm 1999 thì giấc mơ ASEAN như một cộng đồng khu vực thống nhất với những thành viên quốc gia chia sẻ cùng các yếu tố địa lý, an ninh, kinh tế, văn hóa bắt đầu trở thành hiện thực.
Từ khi thành lập, ASEAN đã đạt được một số thành tựu quan trọng. Hiệp ước thân thiện và hợp tác tại Đông Nam Á (Treaty of Amity and Co-Operation) ra đời vào năm 1976 xác nhận nguyên tắc là các nước thành viên sẽ giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Chấp thuận Hiệp ước này cũng như các Văn bản Tuyên bố và Hiệp ước đã có là tiêu chuẩn gia nhập cho các thành viên mới. Năm 1992, ASEAN thông qua Hiệp Định Mậu Dịch Tự Do (ASEAN Free Trade Area) tạo khuôn khổ căn bản cho hợp tác kinh tế với mục đích là tăng năng lực cạnh tranh qua việc tháo dỡ rào cản thuế quan và thu hút đầu tư ngoại quốc vào thị trường của Khối ASEAN.
Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum) được thành lập vào năm 1994 với mục đích là tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên ASEAN cùng với các siêu cường quốc như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc có điều kiện thường xuyên trao đổi và hợp tác chính trị và an ninh trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Năm 1995, Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á phi Vũ khí nguyên tử được ký kết tại Bankok mà theo đó, các quốc gia thành viên không được tìm cách phát triển, sản xuất, sở hữu, kiểm soát hoặc lắp đặt vũ khí hạt nhân.
Năm 1997, nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Hiệp hội, ASEAN đã thông qua Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN tại Kualar Lumpur, định hướng mục tiêu xây dựng một tập thể cộng đồng gắn kết, hòa bình và thịnh vượng. Năm 2002, ASEAN ký Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông với Trung Quốc tại Phnom Penh kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và thông qua đàm phán giữa các bên liên hệ. Năm 2003, ASEAN ra Tuyên bố hòa hợp ASEAN II tại Ba li, khẳng định quyết tâm xây dựng Cộng đồng ASEAN trước năm 2020 dựa trên 3 trụ cột: Cộng đồng An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội.
Năm 2005 cũng là một bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của ASEAN với sự ra đời của Hội nghị cấp cao Đông Á (East Asia Summit) tại Kualar Lumpur. Hội Nghị này tạo điều kiện cho nguyên thủ 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng với các nước siêu cường gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Tây Lan, Nga và Hoa Kỳ gặp mặt đối thoại thường niên về các vấn đề chiến lược, an ninh và kinh tế trong khu vực. Năm 2007, Hiến chương ASEAN được ký và có hiệu lực từ ngày 15/12/2008 tạo cơ sở pháp lý và tư cách pháp nhân cho ASEAN hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN theo khuôn khổ của Liên minh châu Âu. Năm 2009, Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền ra đời (ASEAN Intergovernmental Commission on Human Rights).
Năm 2011, trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, lãnh đạo ASEAN đã đồng thuận rút ngắn thời hạn và thống nhất kế hoạch hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015. Có nghĩa là chỉ còn vài tháng nữa thì một thực thể cộng đồng sẽ chính thức ra đời, mở ra một chương mới trong tiến trình phát triển của ASEAN.
Vào ngày 1/1/2016, ASEAN sẽ trở thành một thị trường chung và là cơ sở sản xuất duy nhất có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề. Rào cản thuế quan sẽ hoàn toàn được tháo bỏ. Mục đích là nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư ngoại quốc vào thị trường ASEAN, san bằng khoảng cách phát triển, gắn kết các thành viên vào một tương lai và vận mệnh chung cũng như tạo thế đứng và sức mạnh tập thể với các đối tác trong vùng. Không loại bỏ tiềm năng trong tương lai xa, ASEAN có thể thống nhất thể chế chính trị và tiền tệ như Khối liên Âu.
Về mặt kinh tế thì thị trường ASEAN bao gồm 600 triệu dân và tổng GDP lên tới 3,000 tỷ Mỹ kim. Trong năm 2013, thương mại trong Khối ASEAN đạt gần 610 tỷ Mỹ kim và thu hút 122 tỷ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment).
Khi Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời vào ngày 1/1/2016 sắp tới đây thì ASEAN đã đi một chặng đường dài trong nửa thập kỷ từ khi thành lập. Nhưng so với Khối liên Âu thì vẫn còn khá nhiều giới hạn, cụ thể nhất là về mặt nhân quyền là nền tảng cho sự phát triển bền vững lâu dài nhưng vẫn chưa được nhiều quốc gia thành viên ASEAN coi trọng. Các diễn đàn ASEAN thường được ví như là những buổi lễ hội nói chuyện (talkfest). Có nghĩa là thảo luận rất nhiều nhưng không dẫn đến hành động và kết quả cụ thể vì không có các cơ chế điều hành và giám sát việc thực thi. Nhìn chung thì thành phần lãnh đạo ASEAN vẫn có cái nhìn phong kiến quan liêu về quan hệ giữa giới cai trị và dân đen, ngược với ý tưởng của một cộng đồng là chính những người dân bình thường và tổ chức doanh nghiệp thấu hiểu, đóng vai trò chủ động và thực thi quan hệ cộng đồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng và tương kính là hai yếu tố nền tảng của khái niệm nhân quyền phổ quát.
Dù sao đi nữa, sự ra đời của Cộng đồng và thị trường chung ASEAN và nhất là TPP sẽ kèm theo nhiều cơ hội và thách thức cho Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có một thị trường rộng lớn hơn để phát triển. Khoảng 60% dân số Việt Nam dưới 40 tuổi có thể cung cấp một lực lượng lao động trẻ và rẻ. Thị trường của 90 triệu dân cũng là điểm thu hút cho một số nhà đầu tư ngoại quốc.
Mặt khác, thể chế kinh tế thị trường Việt Nam chưa hoàn thiện và năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất ở Châu Á – Thái Bình Dương. Khi thị trường mở cửa thì doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ bị đánh bại ngay trên sân nhà. Những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như gạo, trái cây, nông sản và hải sản thuộc loại rẻ tiền. Trong khi đó, Việt Nam phải nhập các thiết bị đắt tiền nên cán cân mậu dịch sẽ càng thâm hụt. Cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn yếu kém với nhiều công trình không đạt chỉ tiêu vì nạn tham nhũng bất khả trị. Hệ thống hành chính, luật pháp của Việt Nam lại rườm rà, tốn kém và thiếu minh bạch. Bắt tay vào cuộc chơi chạy đua kinh tế với một cơ thể bệnh hoạn có nghĩa là Việt Nam có nhiều nguy cơ đội sổ về khả năng cạnh tranh trong khu vực. Nếu không tiến hành cải cách mạnh mẽ và nhanh chóng thì Việt Nam có thể trở thành một công xưởng chuyên sản xuất đồ tiêu thụ rẻ tiền và làm lao động nô lệ cho các công ty ngoại quốc.
Nguyên nhân là thể chế độc đảng hiện nay. Chính sự thiếu vắng cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức đảng phái về các chính sách và phương pháp quản trị và điều hành quốc gia ở thượng tầng dẫn đến năng lực cạnh tranh yếu kém toàn diện trong nền kinh tế và xã hội. Việt Nam có một nguồn tài nguyên quý giá mà các quốc gia khác không có là một cộng đồng với 5 triệu người Việt hải ngoại thành công và có kỹ năng cao có thể đóng góp kiến thức và công sức nâng cao năng lực cạnh tranh cho đất nước trong tiến trình hội nhập. Nhưng ngày nào Việt Nam còn duy trì chế độ độc quyền đảng trị không lấy quyền lợi dân tộc, dân quyền và nhân quyền làm gốc thì ngày đó vẫn không thể thu hút được tài nguyên từ tập thể người Việt hải ngoại. Có nghĩa là không thể loại bỏ nguy cơ Việt Nam trở thành một Hy Lạp của ASEAN hoặc TPP trong tương lai gần sắp tới.
N.V.T
Tác giả gửi BVN