Dựa vào “xuất khẩu lao động", “khai thác tài nguyên” và "thu địa tô" để phát triển GDP hai số?

Trương Nhân Tuấn 

Một nền kinh tế thực sự tự cường phải được đo lường bằng hàm lượng chất xám trong sản phẩm, năng lực làm chủ công nghệ và mức sống được cải thiện bền vững của đa số người dân. 

1/ “Phát triển bất động sản” hay “Phát canh thu tô”

Trong lịch sử kinh tế, "phát canh thu tô" là đặc quyền của tầng lớp địa chủ phong kiến. Lớp người này lợi dụng hay dựa vào quyền lực để chiếm đoạt tư liệu sản xuất cốt lõi (ruộng đất), sau đó ngồi không thu tô từ giới nông nô mà không trực tiếp lao động hay cải tiến kỹ thuật.

Hiện tại ở VN hình thức này khoác lên mình tấm áo hào nhoáng của "đô thị hóa" và "phát triển bất động sản". Vấn đề là khi thực hiện, nhà nước VN  đã chuyển dịch tài sản từ nhóm đông người nghèo qua một vài người cực giàu: 

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân được thu hồi từ nông dân với giá đền bù rẻ mạt theo khung giá nhà nước VN. Sau đó, thông qua các quy hoạch và cơ chế "chỉ định thầu" thân hữu, đất đai được chuyển giao vào tay các tập đoàn bất động sản lớn. Sau một quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất, hoặc là cho phép bán các dự án BĐS cho đầu tư nước ngoài, giá trị khu đất tăng hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. 

Thay vì tạo ra của cải mới bằng công nghệ hay sản xuất chế tạo, các nhà phát triển địa ốc thu lợi nhuận khổng lồ, nhờ chênh lệch địa tô và sự khan hiếm nhân tạo (tạo đòn bẩy tăng giá trị ảo). Phần thặng dư không quay lại tái đầu tư cho giáo dục hay khoa học, mà chảy thẳng vào túi các tài phiệt bất động sản và các quan chức nắm quyền cấp phép, tạo ra hiện tượng “xuất huyết ngại tệ” trầm trọng (mỗi năm 30 tỷ đô la). 

Khi giá nhà vượt gấp 20 đến 30 lần thu nhập trung bình của người lao động có bằng cấp, một căn hộ bình thường trở thành gánh nợ lâu dài. Thế hệ trẻ và người lao động bị biến thành những "tá điền thời đại", họ cày cuốc cả đời chỉ để trả lãi ngân hàng cho một chỗ ở cơ bản. Hệ quả “không an cư” thì không “lập nghiệp”. Hiển nhiên mọi động lực sáng tạo, tích lũy vốn để khởi nghiệp công nghệ từ lớp trẻ… hoàn toàn bị triệt tiêu.

2/ "Khai thác thô tài nguyên"

Tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ, gỗ rừng và khoáng sản, là vốn liếng chung của cả dân tộc, của thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau, được tích tụ qua hàng triệu năm. Mô hình kinh tế thâm dụng tài nguyên của VN đã phơi bày toàn bộ bản chất của "lời nguyền tài nguyên". 

Nhà nước VN  đem dầu thô, gỗ tròn, quặng thô đi bán với giá rẻ như cho, sau đó dùng chính số ngoại tệ thu được để nhập khẩu xăng dầu tinh chế, nhựa đường, hóa chất, ván ép và thép thành phẩm với giá đắt đỏ. Đây là qui trình “xuất thô nhập tinh” – tự biến mình thành "thuộc địa nguyên liệu" kiểu mới.

Tài nguyên là “vốn liếng” hữu hạn và không thể tái tạo. Nhà nước VN  cho phép khai thác ồ ạt mà không hình thành được một Quỹ Tài sản Quốc gia (Sovereign Wealth Fund) minh bạch như Na Uy hay Singapore để đầu tư vào tri thức cho thế hệ mai sau. Mỗi thùng dầu hút lên, mỗi khúc gỗ bán đi… thực chất là việc "ăn vào tương lai của con cháu".

Các ngành độc quyền nhà nước VN  về tài nguyên luôn là mảnh đất màu mỡ cho sự lãng phí, thất thoát, cũng như các đại án kinh tế, vì “cha chung chết không ai khóc”. Lợi nhuận từ lòng đất thay vì xây nên những trường đại học đẳng cấp thế giới hay các viện nghiên cứu bán dẫn, lại biến thành những khoản ngoại tệ bí mật, những biệt phủ xa hoa và tài sản định cư ở nước ngoài của một nhóm người có quyền hạn.

3/ Lao động xuất khẩu

Các hiệp định “hợp tác lao động” của nhà nước VN  đã biến con người thành món hàng xuất khẩu thô thiển. Nếu việc khai thác đất đai và tài nguyên là sự tổn hại về vật chất, thì chính sách "xuất khẩu lao động" là sự tổn thương sâu sắc nhứt về phương diện con người và phẩm giá quốc gia.

Nhà nước VN  đã từ bỏ trách nhiệm tạo sinh kế nội tại cho dân chúng. Họ đẩy hàng trăm ngàn thanh niên khỏe mạnh, lớp tuổi có khả năng học hỏi sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… làm những công việc 3D (Dirty, Dangerous, Demeaning - Vất vả, Nguy hiểm, Bẩn thỉu). Đây là gì nếu không phải là biểu hiện của sự bất tài trong việc kiến tạo một nền công nghiệp nội địa có khả năng tạo việc làm thỏa đáng? 

Thay vì kiến tạo môi trường để người dân dễ dàng làm giàu trên chính quê hương, chánh sách của nhà nước VN  lại đẩy họ đi làm thuê nơi đất khách.

Nhà nước VN  và các công ty môi giới thu về 6 - 7 tỷ đô la ngoại tệ mỗi năm từ mồ hôi nước mắt của người lao động. Khoản tiền này giúp ổn định tỷ giá, bơm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Nhưng người lao động phải tự chịu toàn bộ rủi ro, như chi phí môi giới cắt cổ, nợ nần trước khi đi, sự cô lập xã hội, phân biệt đối xử và tai nạn lao động xứ người.

Hệ quả là gì? Ta thấy sự thoái hóa xã hội và hiện tượng "làng không người". Những vùng nông thôn xuất khẩu lao động để lại những hệ lụy nhức nhối: Những đứa trẻ lớn lên thiếu vắng sự chăm sóc của cha mẹ, tỷlệ hôn nhân đổ vỡ tăng cao, làng quê chỉ còn người già và con nít. Khi hết hạn hợp đồng trở về ở độ tuổi 30- 35, phần lớn người lao động không được trang bị kỹ năng công nghiệp bài bản mà tiếp tục thất nghiệp hoặc chạy xe ôm, không thể tái hòa nhập vào lực lượng sản xuất chất lượng cao.

4/ Nền kinh tế bòn rút phục vụ thiểu số

Khi ghép lại ba trụ cột phát triển: Đất đai (Địa ốc) - Tài nguyên (Dầu khí/Khoáng sản) - Con người (Lao động xuất khẩu), bản chất của mô hình phát triển các kinh tế gia gọi là "cấu trúc bòn rút" (Extractive Institution). 

Đất đai và bất động sản: Bên thiệt hại là đại đa số người dân bị thu hồi đất trong khi thế hệ trẻ gánh nợ mua nhà cả đời. Bên hưởng lợi là các tập đoàn bất động sản thân hữu, giới tài phiệt và quan chức phê duyệt quy hoạch (giới có thẩm quyền làm luật và giải thích luật).

Dầu khí, gỗ rừng và khoáng sản: Bên thiệt hại là đất nước và nhân dân. Môi trường bị hủy hoại lâu dài trong khi thế hệ tương lai mất các nguồn tư liệu phát triển. Nhóm hưởng lợi là những người quản lý tập đoàn độc quyền nhà nước VN, những người có thẩm quyền xuất chi ngân sách. 

Lao động xuất khẩu: Bên thiệt hại là những người lao động bán mồ hôi nước mắt, xa cách gia đình, chịu bóc lột ở xứ người. Bên có lợi các các đầu nậu môi giới giấy phép và hệ thống tài chánh thu gom nguồn kiều hối. 

Hệ quả làm cho nền kinh tế quốc dân trở nên méo mó nghiêm trọng. Các ngành sản xuất chế tạo chân chánh, các nhánh công nghiệp hỗ trợ, các viện nghiên cứu khoa học và giáo dục kỹ thuật… bị đói vốn vì lợi nhuận biên quá thấp so với đầu cơ đất đai hay khai thác tài nguyên. 

Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến VN trở thành một "công xưởng gia công rẻ mạt" phụ thuộc hoàn toàn vào khối FDI bên ngoài, trong khi tài sản quốc gia bị tiêu tán vào tiêu sản và tích lũy tư nhân của một nhóm thiểu số quyền thế.

5/ Lời kết

Một quốc gia chỉ thực sự tiến bộ khi con người được đưa lên làm chủ thể sáng tạo và mục đích cứu cánh của sự phát triển, chớ không phải là công cụ cơ bắp để xuất khẩu hay là đối tượng để “vặt lông vịt” (thu địa tô).

Chánh sách phát triển của nhà nước VN dựa trên việc chiếm dụng đất đai, bòn rút lòng đất và đẩy công dân ra nước ngoài làm thuê thực chất là một sự chối bỏ trách nhiệm lịch sử trong việc xây dựng một nhà nước VN  kiến tạo liêm chính và kỹ trị. Sự giàu có tạo ra từ mô hình “bóc lột” này là sự giàu có ảo của những con số đầu cơ và biệt thự bỏ hoang, trong khi cái giá phải trả là sự kiệt quệ tài nguyên, tụt hậu công nghệ và tương lai bị đánh cắp của nhiều thế hệ người dân Việt Nam. 

T.N.T.

Nguồn: FB Nhân Tuấn Trương

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn