Em biết tin ai bây giờ!

Thái Hạo

1.

Từ ngày 1.7.2026, người dùng mạng xã hội sẽ bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi “Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu”. Đó là quy định của mục d khoản 1 điều 95 trong Nghị định 174/2026/NĐ-CP.

     

Trích và chụp vài cái hình những trang báo quen thuộc, làm kỷ niệm cho một giai đoạn viết lách, trước khi Nghị định 174 có hiệu lực vào 1.7. Có lẽ cũng phải tính đến việc gác bút, toàn tâm toàn ý mà cầm cuốc thôi.

Tôi ủng hộ việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của nhà báo và cơ quan báo chí. Ở đây tôi chỉ nêu băn khoăn về sự mơ hồ của ngôn từ trong Nghị định. Thế nào là “cung cấp, chia sẻ”? Chia sẻ đường link bài báo có vi phạm không? Chụp màn hình một đoạn có vi phạm không? Trích dẫn một đoạn có vi phạm không?

Tôi đã đọc nhiều ý kiến của các chuyên gia luật cũng như đại diện cơ quan quản lý, giải thích về những thắc mắc như ở trên. Điều đáng nói là ngay cả các chuyên gia/nhà quản lý này lại cũng trả lời không giống nhau. Ví dụ, ông Lê Quang Tự Do (Cục trưởng Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử) nói trên Tuổi trẻ:Việc chia sẻ đường link bài báo hoàn toàn không vi phạm bản quyền”. “Tuy nhiên, trường hợp chia sẻ đường link kèm theo một phần hoặc toàn bộ nội dung bài báo mà chưa được sự đồng ý của tòa soạn báo là vi phạm bản quyền. Trong trường hợp cơ quan báo chí không đồng ý cho chia sẻ thì có thể bị xử phạt”. (https://tuoitre.vn/chia-se-bai-bao-truong-hop-nao-thi-bi... )

Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Kim Vinh, Công ty luật TNJ, nguyên thẩm phán TAND tối cao lại phân tích trên báo Thanh Niên, rằng: “Việc sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng trên môi trường số về nguyên tắc phải được sự cho phép của chủ thể, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định như: trích dẫn hợp lý để bình luận, nghiên cứu, giảng dạy hoặc đưa tin có dẫn nguồn phù hợp”. (https://thanhnien.vn/khi-nao-chia-se-bai-bao-len-mang-xa... )

Đến lãnh đạo và chuyên gia còn hiểu khác nhau, người dân làm sao biết đâu là đúng, đâu là sai? “Em biết tin ai bây giờ”?!

Nhưng, bất luận các phân tích, giải thích nêu trên là đúng hay sai, vấn đề là đó chỉ là giải thích bên ngoài văn bản, chứ bản thân văn bản không hề nói rõ. Đây chính là sự mơ hồ, dẫn đến gây hoang mang cho người dân, vì nếu có bị phạt, lúc đó họ không thể bảo rằng ông A bà B đã giải thích như thế này thế nọ. Giải thích đó không có giá trị pháp lý.

Đáng ra văn bản luật phải giải thích từ ngữ và quy định rõ bằng cách nêu cụ thể các trường hợp được phép và không được phép, chứ không thể chung chung mơ hồ như vậy. 

Nếu đọc một bài báo mà thấy có thông tin chưa chính xác hoặc có quan điểm mà bản thân không đồng tình, tôi muốn phản biện, nếu không được phép “cung cấp, chia sẻ” bài báo ấy thì làm sao người đọc như tôi có thể thực hiện được quyền lên tiếng của mình? 

Hoặc khi muốn trình bày một vấn đề, phải trích dẫn các nội dung từ những bài báo, nếu không được phép “cung cấp, chia sẻ” thì người dân biết viết thế nào?

Muốn “cung cấp, chia sẻ” phải được sự đồng ý của “chủ thể quyền sở hữu” (tức tòa soạn), vậy phải liên hệ với họ. Biết đến khi nào mới nhận được phản hồi? Rồi nếu họ không đồng ý hoặc thậm chí không phản hồi thì sao? Khi đó, người đọc sẽ vĩnh viễn không được bình luận hay phản biện gì về bài báo ấy nữa?

Nếu cứ tin lời các chuyên gia và khách mời khi họ giải thích Nghị định này mà trích dẫn hoặc chụp màn hình một đoạn bài báo, rồi khi bị phạt, người dân biết dựa vào đâu để tự bảo vệ mình khi Nghị định không giải thích và quy định cụ thể?

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là điều đương nhiên không cần bàn cãi, nhưng văn bản pháp luật phải đảm bảo tính khoa học, tường minh, đơn nghĩa, ai đọc cũng hiểu và hiểu như nhau. Một văn bản pháp luật mà người dân sau khi đọc vẫn không biết chắc chắn mình được phép làm gì và không được phép làm gì, thì chưa đảm bảo tính chuẩn mực. Điều này sẽ khiến cho quyền tiếp cận thông tin và quyền biểu đạt của công dân bị hạn chế. Và một khi nghi ngại, lo sợ, người ta thường sẽ chọn cách an toàn nhất, là không chia sẻ link, không trích dẫn. Lúc đó, chính báo chí cũng sẽ bị thiệt hại vì giảm số lượng người đọc.

2.

Cũng trong Nghị định này, khoản h của điều 1 quy định: bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi "Lợi dụng mạng xã hội để sản xuất nội dung dưới hình thức phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí”.

Một lần nữa tôi gặp sự mơ hồ trong ngôn ngữ của Nghị định. “Lợi dụng” nghĩa là thế nào? “Lợi dụng” khác gì với “sử dụng”/ “dùng”? Không “lợi dụng” mà “sử dụng mạng xã hội” thì có được phép không?

“Dưới hình thức” nghĩa là thế nào? Luật báo chí có định nghĩa cho các khái niệm/ thuật ngữ “phóng sự”, “điều tra”, “phỏng vấn” không? Theo tôi tìm hiểu thì không/chưa. Nếu không có định nghĩa thì lấy cơ sở nào để kết luận đây là một bài điều tra hay không phải bài điều tra? Với “phỏng vấn” và “phóng sự” cũng thế, không có định nghĩa thì căn cứ vào đâu để kết luận một tác phẩm của ai đó là vi phạm hay không vi phạm?

Tôi ủng hộ việc xử lý các hành vi giả mạo phóng viên hay cơ quan báo chí để lừa dối công chúng (có lẽ quy định này là nhằm mục tiêu ấy?). Nhưng, như đã nói, văn bản phải rõ ràng, tường minh, đơn nghĩa, thống nhất về cách hiểu. Nếu không, nó sẽ dẫn đến hạn chế các quyền của người dân.

Tôi ví dụ, có vi phạm hay không khi một giáo viên đi phỏng vấn học sinh về áp lực thi cử rồi đăng YouTube, một luật sư phỏng vấn nạn nhân trong một vụ tranh chấp, một nhà nghiên cứu làm phim tài liệu, một YouTuber đi điều tra tình trạng xả rác, một người dân quay video ghi nhận việc phá rừng, v.v.? Nếu căn cứ vào quy định ở khoản h nói trên thì khó mà cãi rằng không vi phạm, vì các sản phẩm này đều có thể mang hình thức phỏng vấn, điều tra, phóng sự.

Chúng ta biết rằng rất nhiều vụ bê bối nổi tiếng đã được phanh phui nhưng không phải bởi báo chí truyền thống, mà bởi tổ chức xã hội, nhà nghiên cứu, YouTuber, blogger, nhóm phi lợi nhuận hoặc người dân bình thường. Tuy nhiên, theo tôi hiểu, quy định ở điểm h này đang vô hình trung đi xử phạt “cái giống báo”, trong khi cái cần xử phạt là nội dung sai sự thật, vu khống, xâm phạm quyền riêng tư, giả mạo…

Điều này có thu hẹp quyền biểu đạt của người dân hay không, và từ đó hạn chế sự đóng góp của họ cho xã hội và đất nước nói chung?

Theo tôi biết, thông lệ quốc tế đang gần như đi theo hướng ngược lại. Ở Mỹ, Anh, Đức, Nhật... không có quy định kiểu “chỉ nhà báo mới được làm phỏng vấn, chỉ báo chí mới được làm điều tra”. Ngược lại, trong khoảng 20 năm qua, người ta đã chấp nhận ngày càng rộng rãi các khái niệm và hình thức như Báo chí công dân, Báo chí độc lập, Phim tài liệu điều tra, Phóng sự vì lợi ích công cộng…

Tôi tin rằng, khi pháp luật đã đảm bảo sự nghiêm minh trước các hành vi giả mạo, vu khống, sai sự thật…, lúc ấy nếu chấp nhận việc mỗi người dân được là một “nhà báo”, xã hội sẽ được giám sát tốt hơn, sự đóng góp cho cộng đồng sẽ nhiều hơn, trách nhiệm công dân sẽ được thúc đẩy ngày càng sâu rộng hơn… Lúc ấy, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ nhàn hơn, tinh gọn hơn, chi phí cho quản lý xã hội cũng sẽ nhẹ bớt.

Tóm lại, trong lĩnh vực thông tin và ngôn luận, việc đảm bảo đồng thời quyền của người dân và lợi ích công cộng cũng như lợi ích quốc gia, là một bài toán cần có lời giải thỏa đáng. Bất cứ sự mất cân đối nào cũng để lại nhiều hệ lụy, gây ảnh hưởng tiêu cực và lâu dài lên nhiều phương diện của đời sống xã hội.

-----

Ghi chú: 

* Nắng nóng quá, mời nghe "Bài không tên cuối cùng" của Vũ Thành An. Trầm cảm lên!

“Biết bao lần em đã hứa

Hứa cho nhiều rồi lại quên

Anh biết tin ai bây giờ”

Chơi phiên bản AI cho chắc! https://youtu.be/KpxjEzMl_-M?si=K8v1ULRJ24ge5nOz

T.H.

Tác giả gửi BVN

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn