19/09/2011

“Dis moi qui tu fréquentes et je te dirai qui tu es”

Vũ Cao Đàm

Đó là câu ngạn ngữ Pháp, nghĩa là “Hãy nói cho tôi anh hay qua lại với ai, tôi sẽ nói cho anh biết, anh là người thế nào

Dư luận dân tình rất phân vân, vì một nhóm người có quyền cao chức trọng cứ ... fréquenter, tức là qua lại với cái “đồng chí tốt” là bọn đế quốc Trung Cộng, một nhà nước đế quốc bất hảo nhất trong lịch sử của chủ nghĩa đế quốc? Chúng ta dành ít phút xem xét thử tư cách của cái nhà nước này ra sao?

Cái tư cách bất hảo nhất của nhà nước đế quốc này, là luôn ngụy tạo cái vỏ bọc mỹ miểu cho mọi hành vi bất nhân. Người dân không cần mất nhiều thời gian cũng có thể tìm được trên các phương tiện truyền thông đại chúng những ngôn từ “ráo hoảnh” của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, từ người lãnh đạo cao nhất của cái nhà nước này đến những kẻ sống sát nách chúng ta, như ngài đại sứ Tôn Quốc Tường, đại loại như tâng bốc các nhà lãnh đạo ở nước ta là “đồng chí tốt”, khuyên bảo các nhà lãnh đạo “nhìn về đại cục”, dạy bảo dân ta “kiên nhẫn chờ đợi”[1], nhưng cũng ngay chính lúc đó, đế quốc Trung Cộng tung tầu bè đủ các hạng xâm lấn biển của Việt Nam, từng giờ từng phút cho bọn thương nhân và đủ các hạng người len lỏi rất sâu vào từng ngõ xóm của Việt Nam triệt phá kinh tế, tàn hại môi trường, tha hóa chính trị, gây hàng loạt tội ác với nhân dân Việt Nam.

Trung Cộng tung hoành diễu võ giương oai khắp biển đông, xưng hùng xưng bá với tất cả các nước có chung biên giới. Thế giới thay đổi cách nhìn với Trung Cộng, từ những cái nhìn đầy thiện cảm, khâm phục một cuộc “trỗi dậy hòa bình” đến chỗ ghê tởm Trung Cộng vì họ ngày càng lộ mặt phát xít hóa ngông cuồng.

Cái điều đáng buồn là những người mắc mưu Trung Cộng không chỉ có người nông dân hám vài cái lợi trước mắt, như triệt phá đồi chè, nương ngô, sức kéo để có những mặt hàng kỳ lạ như “chè bẩn”, “râu ngô non”, “đuôi trâu”, “móng trâu” mang bán cho thương lái Trung Cộng, mà ngay cả những người chức cao vọng trọng cũng bị lừa để cam tâm ký cho giặc Tầu vào trấn đóng Tây Nguyên... Và cũng không chỉ có thế, người ta cũng có thể tìm ra không mấy khó khăn những người mang danh “công ty” nghiêm túc, mà lại tổ chức từng đoàn tàu đi cắt cáp quang của mạng thông tin viễn thông để bán cho Tàu Cộng, ... Và cũng không chỉ có thế, chúng ta cũng tìm thấy cả các vị có đẳng cấp về học hàm học vị, cũng xưng tụng cái sự “tương quan huyết thống”, “tương đồng văn hóa”, ... và “tình cảm tri ân” của các vị với thương lái Tàu Cộng đã tạo ngồn đầu ra cho nông sản với một cái nhìn không kém thiển cận so với mấy bác nông dân ngờ nghệch triệt phá nương ngô đến ngày trổ bắp để kiếm mấy kí râu ngô non mang bán cho thương nhân Trung Cộng.

Một người dân bình thường cũng có thể đặt ra những câu hỏi, ... Vì sao anh em “cảnh sát khu vực” trong các khu dân cư làm công việc quản lý “tạm trú, tạm vắng” rất chặt chẽ, một hộ gia đình dân cư sẽ bị theo dõi rất nghiêm ngặt nếu cho người nước ngoài ngủ đêm trong nhà. Vậy vì sao các nhân viên ngành an ninh, cảnh sát không xem xét những hành vi cho cả ngàn người vào trấn đóng Tây Nguyên? Người dân chở hàng lậu qua biên giới bị săn lùng dữ tợn, vậy vì sao bọn thương lái “nước lạ” tự do hoành hành trên đất Việt Nam, thậm chí gây phương hại cho an ninh kinh tế Việt Nam mà không có cơ quan nào giám sát?

Đấy là những điều lạ. Còn một điều lạ nữa chúng ta không thể tưởng tưởng được cách hành xử đổi trắng thay đen khi đọc trong một bản dịch của nhà nghiên cứu Dương Danh Dy đã đăng trên mạng BVN những dòng về quyết tâm của Trung Cộng triệt hạ Việt Nam như sau đây:

[...]

“Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa Việt Nam. Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giới trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết, cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ? Chẳng lẽ lo rằng chiến sự sẽ leo thang vô hạn ư? Chẳng phải là hai nước đã đánh nhau toàn diện rồi ư? Chẳng lẽ đó không phải là đảo, bãi của ta? Thế mà chẳng phải là chúng ta vẫn luôn kêu gào rằng đó là lãnh thổ thần thánh không thể xâm phạm của mình?

Đánh Việt Nam chúng ta chỉ muốn dạy cho nhà đương cục Việt Nam một chút, nên quân gần đến Hà Nội đã vội vàng rút quân. Cho dù chúng ta đã đánh vào vùng đất hiểm của Việt Nam, đã là xâm lược rồi sao còn cố sống cố chết giữ lấy cái mặt nạ chính nghĩa, tự cho mình là những đấu sĩ chính nghĩa. Quân đội đã tới gần Hà Nội, một nửa Việt Nam đã ở trong tay chúng ta, giả sử chúng ta không muốn tiếp tục tiến nữa để hoàn toàn tiêu diệt nhà đương cục Việt Nam, thì cũng nên gây dựng một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc. Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra Nam Bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc.

Một khi điều đó xảy ra, một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc, hoặc một chính quyền Bắc Việt Nam thân Trung Quốc sẽ trở thành láng giềng hữu hảo của Trung Quốc, không chỉ một lần đến tay, có thể giải quyết xong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam mà còn có thể từ một cú đánh, đập tan hành vi bá quyền của Việt Nam tại Đông Nam Á. Đáng tiếc là chúng ta đã không có tính toán đó, không có chiến lược đó, nói làm gì đến chuyện có sự chuẩn bị trước”

[...] (hết trích)

Và đây nữa, chúng ta hãy nghe người Trung Quốc nói về họ. Chúng ta hãy vào trang “Đại kỷ nguyên” [2] của những người Trung Quốc để nghe họ nói về xã hội Trung Hoa dưới sự cai trị của Đảng Trung Cộng của họ:

[...]

“Trong quá khứ, người dân Trung Quốc quý trọng chữ trinh hơn tất cả mọi thứ khác, còn ngày nay mọi người khinh người nghèo chứ không khinh gái bán dâm. Quá trình hủy hoại nhân tính và đạo đức ở Trung Quốc đã được mô tả sống động trong các câu sau:

Trong những năm 50 mọi người giúp đỡ lẫn nhau,

Trong những năm 60 mọi người đấu tranh với nhau,

Trong những năm 70 mọi người lừa đảo lẫn nhau,

Trong những năm 80 mọi người chỉ lo cho chính mình,

Trong những năm 90 mọi người lợi dụng bất cứ ai mà họ gặp”.

Đó là đoạn trong bài viết “Đảng CSTQ một tà giáo”, Bài số 8 trong loạt bài viết “Cửu bình” về Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ đã viết chi tiết hơn trong đoạn trích sau đây:

[...]

“Sự bại hoại của Tà giáo Đảng Cộng sản Trung Quốc

Tà giáo ĐCSTQ thực chất là đang cai trị theo cách đối lập với nhân tính và đạo trời. ĐCSTQ nổi tiếng là ngạo mạn, tự cao, ích kỷ, và hành ác dã man, không còn kiêng nể gì nữa. Nó luôn luôn đem lại tai họa cho đất nước và nhân dân, nhưng nó không bao giờ thừa nhận những sai lầm của nó, và sẽ không bao giờ tiết lộ bản chất thật sự của nó cho nhân dân biết. ĐCSTQ chưa bao giờ ngần ngại việc thay đổi khẩu hiệu và thủ đoạn của nó, những thứ mà ĐCSTQ dùng làm phương tiện để duy trì quyền lực của nó. Nó sẽ làm bất cứ việc gì để duy trì quyền lực mà không thèm đếm xỉa gì đến đạo đức, công lý và nhân mạng.

Việc thể chế hóa và xã hội hóa của tà giáo này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Kết quả của việc tập trung hóa quyền lực đã dẫn đến việc công luận bị bịt miệng và tất cả các cơ chế giám sát có thể có đã bị tiêu hủy, làm cho không còn có lực lượng nào khác để ngăn không cho ĐCSTQ trượt vào hủ bại và tan rã.

[...]

ĐCSTQ ngày nay đã trở thành “đảng cầm quyền tham nhũng và biển thủ” lớn nhất thế giới. Theo thống kê chính thức ở Trung Quốc, trong số 20 triệu quan chức, viên chức hoặc cán bộ trong ĐCSTQ hoặc chính quyền trong 20 năm qua, 8 triệu người đã bị phát hiện là có phạm tội tham nhũng và bị kỷ luật hoặc bị trừng phạt theo quy định của đảng hoặc chính quyền. Nếu tính cả những quan chức tham nhũng chưa bị phát hiện thì tổng số các quan chức đảng và chính phủ tham nhũng là vào khoảng hơn 2 phần 3, chỉ có một phần nhỏ trong số đó đã bị điều tra và phanh phui.

Việc cướp đoạt lợi ích vật chất bằng cách tham nhũng và vòi tiền đã trở thành lực kết dính mạnh nhất cho sự thống nhất của ĐCSTQ ngày nay. Các quan chức tham nhũng biết rằng nếu không có ĐCSTQ thì họ sẽ không có cơ hội để trục lợi và nếu ĐCSTQ sụp đổ thì họ sẽ không chỉ mất quyền lực và địa vị mà còn phải đối mặt với việc bị điều tra. Trong “Sự phẫn nộ của Trời” (Thiên Nộ), một tiểu thuyết vạch trần những vụ việc ở đằng sau hậu trường của các quan chức ĐCSTQ, tác giả Chen Fang đã chỉ ra điều tối mật của ĐCSTQ qua miệng của Hác Tương Thọ, Phó Chánh Văn phòng của một Văn phòng Thành ủy của ĐCSTQ, “tham nhũng đã làm ổn định chính quyền của chúng ta”.

Nhân dân Trung Quốc đã nhìn thấy rất rõ điều đó, “nếu chúng ta chống tham nhũng thì đảng sẽ sụp đổ; nếu chúng ta không chống tham nhũng thì đất nước sẽ diệt vong”. Tuy nhiên ĐCSTQ sẽ không chống tham nhũng để rồi phải đối mặt với rủi ro cho sự tồn vong của nó. Cái mà nó sẽ làm là tử hình một số cá nhân tham nhũng làm vật hy sinh tượng trưng để bảo vệ hình ảnh của nó. Điều này đã kéo dài sự tồn tại của nó thêm một vài năm nữa bằng cách thí mạng một vài quan chức tham nhũng. Ngày nay, mục đích duy nhất của tà giáo ĐCSTQ là duy trì quyền lực và tránh khỏi bị sụp đổ.

Ở Trung Quốc ngày nay, luân thường đạo lý đã suy đồi đến mức không còn nhận ra được nữa. Nạn làm hàng giả, mãi dâm, ma túy, thông đồng giữa các quan chức và những kẻ tội phạm, tội phạm có tổ chức, cờ bạc, hối lộ – tham nhũng đủ loại đang diễn ra tràn lan. ĐCSTQ đã phớt lờ sự suy đồi về mặt đạo đức đó, trong khi nhiều quan chức cao cấp cũng là những ông trùm trong hậu trường đang vòi tiền những người dân cảm thấy lo sợ và muốn được bảo vệ. Sái Thiểu Khanh, một chuyên gia nghiên cứu về xã hội đen và các tổ chức tội phạm ở Trường Đại học Nam Kinh, ước tính rằng tổng số tội phạm có tổ chức ở Trung Quốc là vào khoảng 1 triệu. Mỗi một tên tội phạm có tổ chức bị bắt đều khai ra những người cộng sản hủ bại ở đằng sau hậu trường là các quan chức chính quyền, các quan tòa hoặc cảnh sát.

ĐCSTQ sợ rằng nhân dân Trung Quốc có thể cảm nhận về lương tâm và đạo đức, nên nó không dám cho phép nhân dân được có tín ngưỡng tôn giáo hoặc sự tự do tư tưởng. ĐCSTQ sợ rằng dân chủ sẽ kết liễu chế độ một đảng của nó nên nó không dám cho nhân dân quyền được tự do về mặt chính trị. Nó nhanh chóng hành động và bỏ tù những người theo chủ nghĩa tự do độc lập và những người hoạt động vì nhân quyền. Tuy nhiên, nó cho nhân dân một quyền tự do lệch lạc. Chỉ cần người ta không quan tâm đến chính trị và không phản đối sự lãnh đạo của ĐCSTQ, thì người ta có thể muốn gì thì muốn, thậm chí người ta còn có thể làm cả những điều tà ác vô đạo đức. Kết quả là ĐCSTQ đã suy đồi rất nhanh và đạo đức xã hội ở Trung Quốc đang xuống dốc nhanh chóng ở mức báo động”.

[...]

Vẫn trong bài viết này, chúng ta đọc được đoạn sau:

“Tại sao nhân dân vẫn chưa nhận ra?

ĐCSTQ đã hành động tà ác và dã man trong suốt hơn 50 năm cầm quyền ở Trung Quốc. Nhưng tại sao nhân dân Trung Quốc vẫn thiếu hiểu biết thực tế về bản chất tà ác của ĐCSTQ? Đó là vì người Trung Quốc kém hiểu biết? Không. Người Trung Quốc đã xây dựng nên một trong những đất nước uyên thâm nhất trên thế giới và tự hào với một nền văn hóa truyền thống giàu có và một di sản 5.000 năm. Vậy mà nhân dân Trung Quốc vẫn đang phải sống dưới sự thống trị của ĐCSTQ, hoàn toàn sợ hãi không dám biểu đạt sự bất bình của mình. Vấn đề nằm ở sự kiểm soát tư tưởng của ĐCSTQ.

Nếu nhân dân Trung Quốc có quyền tự do biểu đạt và có thể bàn luận công khai về công và tội của ĐCSTQ, thì chúng ta có thể tưởng tượng được rằng người Trung Quốc từ lâu đã có thể thấy rõ được bản chất tà ác của ĐCSTQ và tự giải phóng cho chính mình khỏi sự ảnh hưởng của tà giáo này. Không may là, nhân dân Trung Quốc đã bị mất đi các quyền tự do biểu đạt và tự do tư tưởng của mình đã hơn một nửa thế kỷ sau khi chế độ của ĐCSTQ ra đời. Mục đích đằng sau việc đàn áp những người cánh hữu trong số những trí thức vào năm 1957 là để đè bẹp quyền tự do biểu đạt và kiểm soát tư tưởng của nhân dân. Trong một xã hội không có những quyền tự do cơ bản như vậy, phần lớn những thanh niên toàn tâm nghiên cứu các tác phẩm của Mác và Ăng ghen trong Cách mạng Văn hóa đã bị trớ trêu dán nhãn là “bè lũ chống đảng” và sau đó đã bị đàn áp. Việc bàn luận về đúng sai của ĐCSTQ đơn giản là không được phép.

Không mấy người Trung Quốc dám nghĩ đến việc gọi ĐCSTQ là một tà giáo. Tuy nhiên, nếu điều đó được khẳng định thì những người đã từng sống ở Trung Quốc sẽ thấy không khó khăn gì trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục để chứng minh cho nhận định đó từ những trải nghiệm của chính họ và gia đình, bạn bè.

Nhân dân Trung Quốc đã không chỉ bị tước đi quyền tự do tư tưởng, mà họ còn bị nhồi nhét vào trong đầu những học thuyết và văn hóa của ĐCSTQ. Do đó, tất cả những điều mà nhân dân có thể nghe thấy là những lời ca ngợi đảng và đầu óc của họ đã bị làm nghèo nàn đi tới mức chỉ còn lại những ý tưởng về việc củng cố ĐCSTQ. Hãy lấy cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn làm ví dụ. Khi súng bắt đầu nổ vào ngày 4/6/1989, nhiều người theo bản năng đã chạy trốn. Một lúc sau, bất chấp rủi ro, họ đã dũng cảm bước ra khỏi chỗ ẩn náu và cùng nhau hát bài “Quốc tế ca”. Những người Trung Quốc này thực sự dũng cảm, vô tội và đáng kính trọng nhưng tại sao họ lại hát bài “Quốc tế ca”, một bài hát của những người cộng sản, khi đang phải đối mặt với việc giết chóc của những người cộng sản? Lý do rất đơn giản. Bị giáo dục trong văn hóa đảng, tất cả những gì mà những con người đáng thương đó biết chỉ là chủ nghĩa cộng sản. Những người trên quảng trường Thiên An Môn lúc đó không biết bất cứ bài hát nào ngoài bài “Quốc tế ca” và một số bài hát khác ca ngợi đảng cộng sản”.

Bàn về lối thoát cho dân tộc Trung Hoa, bài báo viết tiếp:

“Đâu là lối thoát?

ĐCSTQ đang tiến đến tận diệt. Thật đáng buồn là, nó vẫn đang cố gắng trói buộc số phận của mình với đất nước Trung Quốc trước khi nó tan rã.

ĐCSTQ đang giãy chết có vẻ như đang yếu dần và sự kiểm soát của nó đối với tâm trí của nhân dân đang bị lỏng dần. Với sự phát triển của viễn thông và Internet, ĐCSTQ đang thấy khó khăn trong việc kiểm soát thông tin và trong việc bịt miệng công luận. Khi các quan chức hủ bại càng ngày càng áp bức bóc lột nhân dân, công chúng đang bắt đầu thức tỉnh từ những ảo tưởng của mình về ĐCSTQ, và nhiều người trong số họ đã bắt đầu thực hiện việc bất tuân lệnh chính quyền. ĐCSTQ không chỉ đã thất bại trong việc cố đạt cho được mục đích của nó là tăng cường việc kiểm soát tư tưởng trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công mà còn càng tự làm suy yếu chính bản thân nó trong khi đã lộ rõ chân tướng cực kỳ tàn bạo của nó. Thời gian thích hợp này đã khiến cho nhân dân xem xét lại ĐCSTQ, mở đường cho đất nước Trung Quốc tự giải phóng cho mình khỏi cảnh nô lệ về mặt tư tưởng và hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của tà ma cộng sản.

Sau khi đã sống dưới sự thống trị tà ác của ĐCSTQ trong hơn 50 năm qua, nhân dân Trung Quốc không cần một cuộc cách mạng bạo lực; mà họ cần phải lấy lại tâm hồn của mình. Điều này có thể đạt được bằng cách tự cứu mình, và bước đầu tiên để tiến đến mục đích đó là việc cần phải nhận ra bản chất tà ác của ĐCSTQ.

Ngày đó sẽ đến khi mọi người vứt sang một bên các tổ chức đảng gắn liền với bộ máy nhà nước, để cho các hệ thống xã hội hoạt động một cách độc lập, và được sự trợ giúp của các lực lượng nòng cốt trong xã hội. Với sự ra đi của tổ chức độc tài của ĐCSTQ, hiệu quả hoạt động của chính quyền sẽ được cải thiện và tăng cường. Và ngày đó đã đang tới rất gần rồi. Trên thực tế, từ hồi đầu những năm 1980, những người theo đường lối cải cách ở trong đảng đã ủng hộ ý tưởng “tách đảng ra khỏi chính quyền”, trong một nỗ lực nhằm tách đảng ra khỏi chính quyền. Các nỗ lực cải cách từ trong nội bộ ĐCSTQ đã cho thấy là chưa đầy đủ và không thành công khi tư tưởng “quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng” vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn”.

Người “đồng chí tốt” của một số người Việt chúng ta là như thế đấy.

Hãy tự hỏi xem chúng ta là ai, và nhớ lấy điều nhắc nhở trong câu ngạn ngữ rất hay của Pháp được sử dụng làm tiêu đề cho bài viết này: “Dis moi qui tu fréquentes et je te dirais qui tu es”

V.C.D

Tham khảo:

[1] Trích lời nhà lãnh đạo Trung Cộng Tiếp Cận Bình trong buổi tiếp Tướng Ngô Xuân Lịch của Việt Nam ngày 16/9/2011 tại Bắc Kinh

[2] Trang mạng “The Epoch Times” (Bản Anh ngữ); “Đại kỷ nguyên” (Bản Việt ngữ); “大纪元”(Bản Hán ngữ)

http://dajiyuan.com/gb/4/12/3/n735942.htm

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN