30/08/2013

Những người chiến sĩ trong thời bình

Khánh Trâm

Ngày 18 tháng 3 năm 1979 khi nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố trước thế giới rút quân khỏi biên giới phía Bắc nước ta, kết thúc 30 ngày đêm của thứ chiến tranh lấy thịt đè người, lớn bắt nạt bé (mà ông Đặng Tiểu Bình ngang nhiên tuyên bố là “dạy cho Việt Nam một bài học”), và những trận đánh cảm tử mà nổi bật là trận chiến Lão Sơn-Hà Giang (1984) hay trận chiến Gạc Ma ngoài biển Đông (1988), kể từ đó tiếng súng chiến tranh không còn vang lên trên lãnh thổ nước ta và từ đây Việt Nam mới thực sự bình yên (nói một cách tương đối) để bắt tay xây dựng đất nước. Tính ra suốt từ những năm 60 của thế kỷ XIX cho đến những năm 80 của thế kỷ thế kỷ XX, thời gian chỉ hơn một thế kỷ thế mà cái mảnh đất bé nhỏ hình chữ S này liên miên ngập tràn trong các cuộc chiến rất tang thương để rồi hơn 5 triệu người thiệt mạng (bằng dân số Phần Lan hiện nay). Trong thời chiến, vũ khí của những người lính và nhân dân là súng đạn, là lòng can đảm, là mưu trí, là tình yêu tổ quốc quê hương.

Hôm nay, chúng ta được hưởng những năm tháng không tiếng súng đã ba thập kỷ, một khoảng thời gian mà nước Nhật sau đại chiến thế giới thứ 2 tan hoang là thế, vậy mà họ đã vực dậy kiến thiết xây dựng lại đất nước của thần mặt trời trở thành cường quốc số 1 ở Châu Á, và cùng với Nhật các nước khác như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan... cũng kịp vươn lên trở thành những nền kinh tế lớn của khu vực. So sánh như vậy để thấy Việt Nam mình hiện đang ở đâu. Nếu bỏ qua cái tính tự ty để mà nhìn thẳng vào sự thật thì chúng ta hiện đang tụt hậu rất xa so với các nước láng giềng về mọi mặt. Có lẽ bài vè trong dân gian “Việt Nam bây giờ mọi thứ đều nhất thế giới” đã nói lên tất cả: “Vợ rẻ nhất thế giới/ sữa đắt nhất thế giới/ xăng cao nhất thế giới/ xe hơi đắt nhất thế giới/ thuốc tây đắt nhất thế giới/ uống rượu nhiều nhất thế giới/ đánh bạc, số đề nhiều nhất thế giới/ trẻ em thất học, bỏ học nhiều nhất thế giới/ tai nạn giao thông nhiều nhất thế giới/ tham nhũng nhiều nhất thế giới/ dân lại nghèo nhất thế giới / bởi vô cảm và dối trá nhiều nhất thế giới (!)”. Hàng ngày chúng ta đọc báo, nghe đài, xem tivi… và nếu chịu khó xâu chuỗi những nội dung truyền tải trên các phương tiện truyền thông ấy sẽ thấy cái bức tranh tổng kết của dân gian qua bài vè kia là khá chính xác. Có thể nói chưa thời nào người phụ nữ Việt Nam lại chịu cái cảnh nhục nhã đứng xếp hàng cho người ngoại quốc chọn vợ, người công nhân bị các ông chủ ngoại quốc đánh đập, số khác phải ra nước ngoài làm thuê bị nhốt trong những xưởng may hay công trường xây dựng và phải làm việc đến kiệt sức, người dân nghèo ở các miền quê bản thân còn không đủ ăn mà phải cõng trên lưng nhiều thứ “đóng góp” bắt buộc, trẻ em miền núi thiếu đạm phải ăn thịt chuột, miền đồng bằng phải ăn khoai lang thay cơm, trẻ sơ sinh thì chết oan vì bác sỹ thiếu y đức… trong khi đó quan chức thì đánh cờ bạc tỷ, cảnh sát giao thông thì “làm luật” trắng trợn, hiệu trưởng thì môi giới bán dâm học trò, Việt Nam được thế giới cho đứng vào danh sách đầu bảng về các quốc gia tham nhũng nhất thế giới (ông chủ tịch nước thẳng thắn công nhận là “một bầy sâu”), đất nước đứng trên bờ vực thẳm về mọi mặt, thế nhưng những người thoát được cái “sợ” để cất tiếng nói thì đang phải chịu án hình sự vì “Việt nam không có tù nhân lương tâm”… Ôi, nếu còn kể tiếp thì người có trái tim sắt đá cũng cảm thấy choáng váng!

Đứng trước thực tại rất đau lòng này, những người công dân còn chút lương tri không thể không ngậm ngùi. Nhiều người vẫn cất tiếng nói. Vâng, thời bình cũng rất cần những “chiến sỹ” để “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” để “sánh vai với các cường quốc năm châu”… Thứ vũ khí của người chiến sỹ thời bình là gì? Đó là cây bút, là trí tuệ, là lương tri, là lòng can đảm, và tất cả cũng chỉ vì tình yêu tổ quốc quê hương.

Tôi ngồi lặng lẽ ngắm nhìn những người chiến sỹ trên các “mặt trận”: từ văn hóa, giáo dục, môi trường, đấu tranh dân chủ đến bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong số họ có đầy đủ nam, phụ, lão, ấu. Nhiều người còn khá trẻ nhưng cũng có nhiều người “mái đầu sương điểm” hay “phơ phơ đầu bạc”. Nhiều người hữu danh, nhiều người vô danh. Họ là những chiến sỹ thầm lặng nhưng trên đôi vai của họ cũng nén đầy trách nhiệm, hệt như những người ở hậu phương trong chiến tranh khi xưa cùng có chung mục đích “tất cả cho tiền tuyến”.

Về văn hóa giáo dục: Trong vài năm trở lại đây, đứng trước hiện trạng giáo dục ngày càng xuống cấp, giáo trình giáo khoa nặng về hình thức, quá tải về nội dung và những người chịu trách nhiệm trong ngành giáo dục vẫn duy trì việc “đem con em nhân dân ra làm thí nghiệm” hết năm này đến năm khác, thập kỷ này đến thập kỷ khác, một nhóm chuyên gia và giáo viên có kinh nghiệm và tâm huyết với giáo dục đứng đầu là nhà giáo Phạm Toàn đảm nhiệm chức năng trưởng nhóm, đã thành lập nhóm viết sách giáo khoa mang tên Cánh Buồm. Nhóm ra đời từ năm 2009 với mục tiêu làm ra một bộ sách giáo khoa (bắt đầu từ bậc tiểu học) nhằm “ hiện đại hóa nền giáo dục Việt nam” và “ đảm bảo hạnh phúc đi học cho trẻ em ”. Cho đến nay nhóm đã đưa ra xã hội, đã “trình làng” những sản phẩm cụ thể, đó là các bộ sách: Văn (lớp 1,2,3,4,5); Tiếng Việt (lớp 1,2,3,4,5); Lối sống (1,2,3); Tiếng Anh (lớp 1,2,3); Khoa học-Công nghệ (lớp 1,2)… và đã tổ chức được nhiều hội thảo để lấy ý kiến của các chuyên gia giáo dục và cha mẹ học sinh: “ Hiểu trẻ em-Dạy trẻ em” (2009); “ Chào lớp Một ” (2010); “ Tự học- Tự giáo dục ” (2011); “ Một cánh buồm-Một nhà trường hiện đại ” (2012); “ Nhìn bằng con mắt trẻ thơ ” (2013). Tiếp nối là các hoạt động khác. Tháng 7/2013 Cánh Buồm đã cho ra mắt “Ngày sư phạm Cánh Buồm ” là buổi sinh hoạt thường kỳ một tháng một lần, nơi trao đổi và chia sẻ những vấn đề liên quan đến tâm lý trẻ em, cách trẻ em học thế nào, chơi ra sao hay thảo luận về phương pháp dạy… Đối tượng tham dự gồm có giáo viên các trường tiểu học, phụ huynh học sinh, sinh viên các trường sư phạm, các nhà nghiên cứu giáo dục, những người quan tâm đến lĩnh vực này. Ngoài ra còn có những lớp dạy học theo chương trình của nhóm biên soạn... Trẻ em đến với với học đầy hứng thú, say mê vì ở đó các em được đối thoại, được “học mà chơi-chơi mà học” chứ không bị nhồi nhét kiến thức một chiều. Nhìn vào những nỗ lực không ngừng nghỉ này, chắc chắn một ngày không xa, phương pháp và giáo trình của Cánh Buồm sẽ dần dần làm lu mờ, thậm chí góp phần đẩy lùi “ Bốn căn trọng bệnh của giáo dục Việt Nam: bệnh thành tích, bệnh cào bằng, bệnh gian dối, bệnh suy dinh dưỡng”.

Chúng ta gọi họ là những CHIẾN SỸ bởi lẽ những con người này làm việc thiện nguyện, không có lương, không có thù lao, không cơ sở vật chất… vậy mà suốt 4 năm qua vì thế hệ trẻ, họ đã làm được nhiều việc mà những người được giao trọng trách, được hưởng lương bổng, được nhận nhiều ưu đãi của xã hội cũng không làm được.

Về môi trường: Giở những trang báo giấy, báo điện tử đưa những tin tức về môi trường ta có nhận xét ngay: Việt Nam cũng là quốc gia “đi tiên phong” trong vấn đề hủy hoại sinh thái và tàn phá môi trường . Sau chiến tranh, tốc độ khai thác rừng còn gấp nhiều lần số diện tích rừng bị tàn phá do chất làm rụng lá. Chẳng thế mà câu hát “gỗ miền núi về xuôi xây đời mới/ thắm tình giữa miền xuôi và miền ngược ” (bài “Hà Giang quê tôi”) nay được dân gian chế lời mới: “gỗ miền núi từ nay không còn nữa/ hết tình giữa miền xuôi và miền ngược”. Ai nghe cũng cười nhưng cái cười thật chua xót ! Chính vì thế, nhiều người đã lên tiếng bảo vệ môi trường. Không chỉ là gỗ, là rừng mà việc tận dụng khai thác khoảng sản hiện nay cũng đang là nguyên nhân tàn phá, hủy diệt môi trường (thậm chí có nơi còn thậm nguy đến an ninh quốc gia). Có thể kể ra đây 2 thí dụ tiêu biều: Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên (đang tiến hành mà kết quả thua lỗ nặng) và dự án xây dựng thủy điện 6, 6A đang trong quá trình thẩm định, nếu được phê duyệt sẽ tàn phá phần lớn diện tích cánh rừng Nam Cát Tiên và khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Ví dụ thứ nhất: Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên, ngay từ năm 2009 là năm bắt đầu khởi công xây dựng nhà máy Nhân Cơ đã gây ra một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong giới tri thức và nhân dân vì nó “vi phạm luật di sản văn hóa và luật bảo vệ môi trường”. (Đơn kiện thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng của luật sư Cù Huy Hà Vũ). Ngay từ đầu ai cũng thấy dự án có nguy cơ thua lỗ về mặt kinh tế và tàn phá môi trường, là quả “bom hẹn giờ” treo trên đầu người dân ở hạ nguồn và làm ô nhiễm sông Đồng Nai… Hậu quả của nó thật là kinh khủng. Biết bao nhiêu bài viết khoa học, đầy trách nhiệm của các nhà khoa học có chuyên môn trong và ngoài nước, kể cả thư ngỏ của danh tướng Võ Nguyên Giáp nhưng vẫn không ngăn cản được bởi vì đó là “chủ trương lớn của Đảng và chính phủ, là quyết tâm của Bộ chính trị ”. Đứng trước thảm họa nhìn thấy sờ sờ này, nhóm Bauxite Việt Nam do ba người khởi xướng: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn và GS Tiến sỹ Nguyễn Thế Hùng đã đứng ra lập nên trang mạng phản biện của giới tri thức do GS Nguyễn Huệ Chi điều hành bắt chấp nguy hiểm bản thân và nhiều lần bị chính quyền gây khó dễ. Ngày 12/4/2009 nhóm đã thảo ra “Kiến nghị về quy hoạch và các dự án khai thác bauxite ở Việt Nam” gửi đến Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng chính phủ đề nghị cho dừng dự án và đã nhận được gần 2800 chữ ký ủng hộ của rất nhiều nhân sỹ tri thức và nhân dân trong và ngoài nước.

Nhóm Bauxite và những người phản đối dự án khai thác bauxite Tây Nguyên ( ký tên hoặc ủng hộ kiến nghị) là những người CHIẾN SỸ.

Ví dụ thứ hai: Năm 2012 truyền thông đưa tin Thạc sỹ Nguyễn Huỳnh Thuật gửi tâm thư lên chủ tịch nước để thỉnh cầu việc cần thiết ngăn chặn ngay dự án thủy điện 6, 6A cắt ngang rừng Nam Cát Tiên, mất đi diện tích 137 hecta rừng trong vùng lõi, ảnh hưởng đến Bầu Sấu (khu ngập nước Ramsar, khu dự trữ sinh quyển thế giới). Là cán bộ công tác ở Vườn Quốc gia Cát Tiên, chuyên gia về đa dạng sinh học, là người có chuyên môn, nhận thức được việc đe dọa làm mất mát không chỉ tài nguyên rừng mà còn xâm phạm nhiều di chỉ văn hóa của tộc người Mạ (di chỉ Óc Eo), Thạc sỹ Thuật đã cùng nhóm bạn lập ra trang thông tin điện tử “Savingcattiennationalpark.blogspot.com”. Nhóm lấy tên “ Yêu quý bảo vệ Rừng Cát Tiên” để đưa tin và kêu gọi người dân đồng hành phản đối 2 dự án thủy điện trên bởi “Vườn Quốc gia Cát Tiên là tài sản quốc gia, là tài sản chung, nếu ai cũng bỏ mặc thì tài nguyên Việt Nam sẽ nhanh chóng mất sạch, mà cuối cùng, chỉ có người dân gánh chịu hậu quả”. Lời kêu gọi đã thu hút được 4700 chữ ký ủng hộ. Là người gửi tâm thư, cùng bạn bè tập hợp các nguồn ý kiến, theo đuổi đến cùng công việc gìn giữ môi trường này, thạc sỹ Thuật chấp nhận hy sinh cá nhân (anh không còn công tác ở Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên nữa).

Nhóm “ Yêu quý bảo vệ Rừng Cát Tiên” là những CHIẾN SỸ. Việc làm của các bạn là góp thêm viên gạch để xây dựng xã hội dân sự mà ở đó người dân được cất tiếng nói, được đóng góp xây dựng và gìn giữ môi trường sống.

Về đấu tranh dân chủ, xây dựng xã hội dân sự và bảo vệ tổ quốc: Những năm gần đây chúng ta được chứng kiến nhiều nhóm thiện nguyện, nhiều cá nhân đóng góp các hoạt động rất hữu ích cho xã hội. Đó là chương trình “ Sách hóa nông thôn ” của sáng lập viên (và trực tiếp điều hành) Nguyễn Quang Thạch. Đây là “thư viện của người dân” với các mô hình: tủ sách dòng họ, tủ sách phụ huynh, tủ sách giáo xứ. Bắt đầu từ năm 2007, cho đến nay anh Thạch đã vận động được các cá nhân, tổ chức chung tay đóng góp (dưới nhiều hình thức) và đã xây dựng được hơn 160 tủ sách ở 21 tỉnh trên cả nước. Người sáng lập viên này đã chấp nhận hy sinh cá nhân, nghỉ việc lương cao để dành toàn bộ thời gian, công sức vào công việc thiện nguyện này. Anh và những người chung tay đóng góp mang sách, mang tri thức về tận vùng quê để khai sáng văn hóa cho nhân dân và học trò xứng đáng là những người CHIẾN SỸ.

So với các khu vực khác, khu vực miền núi ở nước ta còn rất nghèo. Với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, bằng nguồn kinh phí quyên góp từ nhân dân hay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước… Các nhóm “No-U”, “Cơm có Thịt”, “Vì ta cần nhau” …đã lên tận vùng biên xa xôi như Háng Đồng (Sơn La), Suối Giàng (Yên Bái), và các trường ở Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang… để hỗ trợ trẻ em vùng cao như xây trường, ủng hộ dụng cụ học tập, áo rét, chăn ấm, sửa chữa trường, lớp học…

Tất cả những con người có tấm lòng cao cả này là những CHIẾN SỸ.

Những năm đầu thế kỷ XXI này, xã hội Việt Nam xuống cấp về mọi mặt và chưa lúc nào đất nước trong thời kỳ “nước sôi lửa bỏng” như ngày hôm nay. Có lẽ một bức tranh xã hội, một dòng lịch sử khái quát nhất về chính quyền và đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng đã được nhà văn Phạm Đình Trọng, người chiến sỹ từ khói lửa chiến tranh năm xưa - người chiến sỹ cầm bút hôm nay khắc họa là tiêu biểu hơn cả. Chúng ta đọc để nghiền ngẫm, để chiêm nghiệm “đúng, sai”, để trả lời cho rất nhiều câu hỏi “VÌ SAO” tồn tại suốt hơn nửa thập kỷ qua, để…

Sau đây là những con chữ rất nóng của ông, cũng hiện ra các cặp phạm trù “được-mất”, “tốt-xấu”, “lưu manh-lương thiện”,“nguyên nhân-kết quả”,… để ông lý giải việc xuống cấp về mọi mặt của xã hội Việt Nam hôm nay là từ những “sai lầm lên tiếp trong quá khứ, tham nhũng không có điểm dừng trong hiện tại của đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác:

Thảm họa cải cách ruộng đất đánh sập từ gốc rễ đạo lí Việt Nam, đánh tan tác văn hóa làng xã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.

Thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, thảm họa ngụy tạo ra vụ Xét lại chống đảng đã giam cầm, đầy ải, giết dần giết mòn những tài năng, tinh hoa nhất của dân tộc Việt Nam.

Thảm họa cải tạo tư sản ở miền Bắc sau năm 1954, cải tạo tư sản ở miền Nam sau năm 1975 tước đoạt quyền làm chủ của những chủ tư sản biết tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm cho người lao động, tạo ra của cải cho xã hội.

Thảm họa tập trung cải tạo thực chất là tù đày lực lương ưu tú nhất của xã hội miền Nam cũng là tài sản con người của dân tộc Việt Nam, đẩy một nửa dân tộc Việt Nam ra khỏi vòng tay Mẹ hiền Tổ Quốc Việt Nam. Từ đó dẫn đến thảm họa thuyền nhân vùi xác hơn nửa triệu người dân Việt Nam dưới đáy biển.

Thảm họa mất đất mất biển. Những mảnh đất mang hồn thiêng tổ tiên người Việt Nam, thấm đẫm máu nhiều thế hệ người Việt Nam, những tên đất chói lọi trong lịch sử Việt Nam đã bị Nhà nước Cộng sản Việt Nam cắt sang đất Tàu Cộng!

Thảm họa khai thác bô xít Tây Nguyên tàn phá môi trường, tàn phá văn hóa Tây Nguyên, làm chảy máu lâu dài nền kinh tế đất nước. Dự án khai thác bô xít Tây Nguyên liên tục ngốn nguồn vốn lớn hàng chục ngàn tỉ, hàng trăm ngàn tỉ đồng của nền kinh tế đất nước nhưng không làm ra một đồng tiền lãi, không bao giờ có lãi ở thời hiện tại!

Thảm họa Vinashin, Vinalines làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra đổ vỡ dây chuyền làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, đẩy nền kinh tế đất nước vào khủng hoảng kéo dài, không thể cất mình lên nổi.

Thảm họa tụt lại sau thế giới, lạc lõng với thế giới. Năm 1975 Thái Lan phải ngước nhìn lên sự phát triển của kinh tế, xã hội miền Nam Việt Nam thì nay Thái Lan phải ngoái lại phía sau nhìn sự ì ạch của kinh tế xã hội Việt Nam vì Thái Lan đã vượt xa Việt Nam vài chục năm rồi và càng ngày Thái Lan càng bỏ xa Việt Nam.

Thảm họa trách nhiệm. Ở các nước dân chủ, bằng lá phiếu và bằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, người dân thực sự có vai trò quyết định đến việc chấp chính của đảng cầm quyền và người cầm quyền. Chỉ một đổ vỡ nhỏ trong đời sống xã hội hoặc đời sống kinh tế đất nước, người cầm quyền phải đứng ra nhận trách nhiệm bằng việc từ chức, đảng cầm quyền cũng mất quyền lãnh đạo. Ở ta những thảm họa lớn gây chết chóc hàng trăm ngàn người dân như thảm họa cải cách ruộng đất, giết chết cả nền văn học nghệ thuật như thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, làm đình đốn cả nền kinh tế như thảm họa Vinashin nhưng những người cầm quyền không ai chịu trách nhiệm, không ai rời vị trí quyền lực, cùng lắm là luân chuyển từ vị trí này sang vị trí khác như sau thảm họa cải cách ruộng đất. Đảng độc quyền thì cứ bình thản cầm quyền. Người yếu kém và có tội cứ thản nhiên nắm quyền. Thảm họa cứ tiếp diễn và lan rộng ra cả xã hội. Xã hội Việt Nam hôm nay thực sự là thảm họa đối với dân tộc Việt Nam văn hiến”.

Chúng ta, mỗi người sau khi “ngắm nhìn” cái bức tranh trên đây, phỏng có nghĩ gì???

Trước chúng ta đã có nhiều người lên tiếng và bị vùi dập, bị gây khó dễ trong cuộc sống, thậm chí bị trừng trị, mặc dù họ là những đảng viên quyền chức của chính phủ như Kim Ngọc, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách… hay những tri thức, những văn nghệ sỹ: Phan Đình Diệu, Lữ Phương, Dương Thu Hương, Bùi Minh Quốc, Hà Sỹ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh… Tất cả họ là lớp CHIẾN SỸ đầu tiên đi tiên phong trên mặt trận đấu tranh dân chủ cho đất nước.

Tiếp nối truyền thống ấy là hàng trăm, hàng nghìn những tên tuổi khác, đó là những con người của “Kiến nghị về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên” (2010), “Kiến nghị trả tự do cho công dân Cù Huy Hà Vũ” (2011), “Kiến nghị về việc bảo vệ và phát triển đất nước” (2011),” “Thư ngỏ gửi các nhà lãnh đạo Việt Nam về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộc” (của 36 nhân sỹ trí thức Việt Kiều, 2011), “Thư gửi chủ tịch nước Trương Tấn Sang –về công dân Bùi Thị Minh Hằng” (2011), “Tuyên bố về vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai Văn Giang bằng vũ lực” (2012), “Thư khẩn gửi chủ tịch nước về vụ bắt Phương Uyên” (2012), “Lời kêu gọi thực thi quyền con người theo hiến pháp và pháp luật tại Việt Nam” (2012), “Kiến nghị 72” (kiến nghị về sửa đổi hiến pháp, 2013), “Thư khẩn gửi chủ tịch nước và chính phủ Việt Nam về việc giải quyết tuyệt thực của blogger Điếu Cày” ( 2013), “Tuyên bố công dân tự do” (2013), “Tuyên bố 258” (2013) , “Tuyên bố nghị định 72” (2013)…

Các bản Kiến nghị, Tuyên bố, Thư ngỏ, Lời kêu gọi… đã đại diện tiếng nói trung thực, can đảm của giới trí thức và nhân dân Việt Nam, nhấn mạnh vào nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị, đòi tôn trọng các quyền tự do dân chủ của nhân dân, yêu cầu chính quyền thượng tôn pháp luật, bãi bỏ điều 4 Hiến pháp, bãi bỏ các điều 88, 79, 258 Bộ luật hình sự, thực thi quyền con người theo các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tôn trọng hình thức đấu tranh ôn hòa của các tổ chức quần chúng nhân dân trước thế lực bành trướng Trung Cộng, bảo vệ ngư dân, bảo vệ tổ quốc. Tất cả những con ngưới ấy họ là những CHIẾN SỸ.

Những người CHIẾN SỸ hôm nay không chỉ thể hiện trách nhiệm bằng lời nói, bằng bài viết, bằng chữ ký… mà còn bằng hành động. Đó là hàng chục cuộc xuống đường ôn hòa thể hiện tình yêu tổ quốc, đó là những con người đấu tranh đòi giới chủ phải tôn trọng người lao động, đó là những tri thức dấn thân. Thế nhưng nhiều người trong số họ hiện đang bị cầm tù. Thân thể các CHIẾN SỸ ở trong lao, nhưng tên tuổi họ rực sáng. Đó là : Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày- Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Tạ Phong Tần, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Đinh Nguyên Kha, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đinh Nhật Uy,Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào… chưa kể những chiến sỹ đã chấp hành xong án phạt nay lại tiếp tục con đường tranh đấu: Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Thăng Long, Lê Công Định…và gần đây nhất là người chiến sỹ trẻ Nguyễn Phương Uyên của phiên tòa xử phúc thẩm 16/8/2013 tại Long An. Người “chiến sỹ” Phương Uyên đứng trước tòa thân cô, thế cô, không có người thân, không có luật sư, chỉ có đầy “quần chúng tự phát”, an ninh mật vụ vây trong, vây ngoài tòa án, vậy mà em dõng dạc từng lời, đầy bản lĩnh: “ Tôi không cần giảm án, tôi chỉ cần tòa xử đúng người đúng tội. Tôi cho rằng chống ĐCS không phải là chống phá đất nước, dân tộc. Các ông đừng có đánh đồng ”.

Tôi chỉ mong dân tộc ta có thêm nhiều CHIẾN SỸ trong thời bình như hình ảnh người con gái tuổi 20 này. Những người CHIẾN SỸ biết mình muốn gì và dân tộc mình cần gì… Tôi nhớ có câu nói khá nổi tiếng: “Thành công là một cuộc hành trình chứ không phải chỉ là đích đến”. Hành động thường quan trọng hơn kết quả là vậy (bởi nếu không có hành động thì làm sao có kết quả?). Tác giả của câu nói trên còn khuyên: “ Enjoy the journey! ” Hành trình dân chủ tuy nhiều chông gai, hiểm nguy (và đầy vật cản trên con đường ấy), nhưng tôi vẫn tin những “chiến sỹ” đã lựa chọn con đường này họ có cách vui hưởng hành trình của mình, bởi họ có niềm tin: “Nước nhà được độc lập mà người dân không được hưởng tự do thì độc lập chẳng có nghĩa lý gì”, chỉ có con đường dân chủ hóa đất nước mới mong có được Tự Do cho nhân dân.

Sài Gòn 8/2013

K.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN