20/08/2013

Trao đổi với Giáo sư Vũ Minh Giang: Cơ sở pháp lý cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam

Đào Tiến Thi

Trong trả lời BBC mới đây, GS. Vũ Minh Giang nói: “Hiện chưa thấy có cơ sở pháp lý nào để cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam”.

GS. Vũ Minh Giang dùng chữ “cho phép” như trên khiến nhiều người cảm thấy phản cảm, vì liên hệ ngay đến cái cơ chế “xin cho” tồn tại lâu nay trong chế độ XHCN ở Việt Nam. Chính vì thế GS. Ngô Đức Thọ và nhà văn Phạm Đình Trọng đã phản ứng tức thời.

Lẽ dĩ nhiên Đảng CSVN chẳng bao giờ muốn một lực lượng khác bên cạnh mình. Nhưng muốn là một chuyện, còn điều muốn đó có hợp thức hay không, tốt xấu thế nào lại là chuyện khác. Bởi vì Hiến pháp hiện hành cũng như Điều lệ Đảng hiện hành đều ghi nguyên tắc của Đảng: “hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Cho nên muốn kết tội tổ chức nào đó “bất hợp pháp” thì, về mặt chính danh (chỉ nói mặt chính danh thôi, chứ nếu bất chấp thì không có gì để bàn), cũng không thể qua mặt Hiến pháp và pháp luật.

Dưới đây tôi xin đưa ra một số cơ sở pháp lý.

1. Hiến pháp hiện hành nói Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chứ không hề nói là đảng “duy nhất”, tức là không cấm một đảng thứ hai, thứ ba,...

2. Điều 69 Hiến pháp hiện hành ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” (Đảng cũng là một kiểu “hội”). Quyền này đã nằm trên giấy đã gần 70 năm, chẳng lẽ còn bắt nó tiếp tục nằm trên giấy? Nếu còn muốn chung sống với nhân loại tiến bộ thì dứt khoát phải thực thi các quyền này.

3. Cũng từng đã có tiền lệ[1]: trước đây trong Quốc hội và Chính phủ đã từng có mặt đại biểu của Việt Nam Quốc dân đảng, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Về sau Quốc dân Đảng bị đánh đuổi, nhưng hai đảng còn lại vẫn tồn tại bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến năm 1988. Xã hội ngày càng cần phải dân chủ hơn thì không lý do gì lại từ chối đa đảng.

4. Ông TBT Nguyễn Phú Trọng khi còn làm Chủ tịch Quốc hội, trong chuyến thăm Ấn Độ (2-2010) đã nói: “Thực tiễn các bạn thấy đất nước chúng tôi, chính trị, xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ thực tế, quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ (...), đất nước phát triển ngày càng đi lên. Thực tế trong hoàn cảnh cụ thể đất nước chúng tôi, thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất”. Vậy có nghĩa là: khi đất nước không còn ổn định, không còn phát triển, cơ chế một đảng không hiệu quả, trong khi ấy, đa đảng sẽ tốt hơn, thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không từ chối đa đảng.

Phát biểu của GS. Vũ Minh Giang thực ra mang tính “nước đôi”. Tuy mang ý chí chính thống nhưng ông cũng không dám bác bỏ thực tế hiển nhiên. Vì vậy, ý này theo tôi là được:

Trong lịch sử Việt Nam kể từ khi sau cuộc Cách mạng tháng 8/1945, trong hệ thống chính trị từng có tồn tại một cơ cấu có những đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, lúc đó gọi là Đảng Lao động Việt Nam, thí dụ như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, v.v...

Cho nên tôi cho rằng việc ở đâu đó có những người hoặc có những nhóm người xuất phát từ những quan niệm, những mong muốn mà họ có những đề xuất này khác, tôi cho cũng là hiện tượng bình thường thôi”.

Ta biết rằng Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam tuyên bố “tự giải tán” (năm 1988) chứ không phải bị cấm hoạt động. Hai đảng trên, dù quyền lực rất hạn chế, đã đóng góp rất lớn vào công cuộc kháng chiến kiến quốc suốt gần nửa thế kỷ. Ít nhất họ cũng làm “bình phong” cho Đảng Cộng sản để đoàn kết các thành phần xã hội, huy động sức mạnh toàn dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Đảng Dân chủ Việt Nam có nhiều nhân vật trí thức sáng giá: Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hòe, Nghiêm Xuân Yêm,... Đảng Xã hội Việt Nam cũng vậy: Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xiển,... Nhiều lãnh tụ hai đảng trên được Nhà nước trao Huân chương Sao vàng.

Nhưng đến ý sau, Giáo sư nói: “Lý luận của một nhóm nào đó nói đa thành phần kinh tế ở hạ tầng cơ sở thì cũng có thể mở đường cho nhu cầu đa nguyên, đa đảng xuất hiện tương ứng ở thượng tầng kiến trúc có thể chỉ là suy luận lôgic hình thức” thì Giáo sư lại rất dại dột. “Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”, “kiến trúc thượng tầng phù hợp với “cơ sở hạ tầng”, đấy là nguyên lý “nằm lòng” của những người theo chủ thuyết Mác-Lê nin. Chẳng lẽ Giáo sư lại hồn nhiên phủ định?

Nói thêm

GS. Vũ Minh Giang nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam hiện nay đang rất cần kiểm soát quyền lực”. Đó đúng là một thực tế. Nhưng đó chỉ là ý chí của Đảng, chính xác là bộ phận đang nắm quyền (và tất nhiên nắm lợi) của Đảng, chứ không phải nhu cầu của xã hội nói chung, của dân tộc nói chung, kể cả nhiều của đảng viên. Ngược lại, xã hội hiện nay có nhu cầu bức thiết kiểm soát quyền lực của Đảng (hay của bất cứ ai cầm quyền sau này). Chính quyền lực bao trùm của Đảng đã tạo nên đủ loại vấn nạn xã hội, kể cả vấn nạn cho chính Đảng, làm cho Đảng ngày càng thoái hoá.

Xét quy luật phổ biến, tất cả các nhà nước dân chủ đều cần sự kiểm soát quyền lực. Nhà nước nào càng bị/được kiểm soát quyền lực thì càng tồn tại lâu dài. Trái lại, tất cả các nhà nước độc tài đều sụp đổ rất nhanh, như đã từng diễn ra với chế độ Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Hitler, Polpot,...

Mặt khác, chính Hiến pháp hiện hành quy định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Tại Hội nghị Trung ương V, ông TBT Nguyễn Phú Trọng còn nhắc lại điều đó. Quyền lực thuộc về nhân dân nghĩa là nhân dân có quyền lập hiến, có quyền chọn chế độ chính trị, chọn đảng cầm quyền, chọn các cá nhân vào các ghế quyền lực,... (Tất cả thông qua phiếu bầu). Điều 4 hiện nay cũng có thể có lý do tồn tại nếu được nhân dân bỏ phiếu.

Tuy nhiên khi nói tới “nhu cầu kiểm soát quyền lực thì đã nói sang “cơ sở xã hội”, chứ không phải “cơ sở pháp lý” nữa.

Nếu sau đây GS. Vũ Minh Giang tiếp tục nói về “cơ sở xã hội”, tức là những nhu cầu hiện nay (đã có hay chưa) của việc đa đảng, thì sẽ rất hay. Bởi vì đấy mới là vấn đề. Hiến pháp, pháp luật hay mọi luật lệ nói chung đều do con người làm ra. Giả sử bây giờ việc đa đảng chưa có “cơ sở pháp lý” nhưng cuộc sống đòi hỏi thì hiến pháp, pháp luật cũng phải thay đổi để mở đường cho cuộc sống đi lên.

Đ.T.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

[1] Chữ Tiền lệ theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, in lần thứ chín, 2003) là: “Việc xảy ra từ trước, tạo thành cái lệ cho những việc về sau”. Có những việc đã thành tiền lệ, phải theo. Tạo thành một tiền lệ cho sau này”. Như vậy cũng là một kiểu “cơ sở pháp lý”. Nhất là cái tiền lệ trên đã tồn tại khá lâu dài, rất đàng hoàng và hai đảng trên được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên dương công trạng.