Phản biện để phát triển: nhìn thẳng vào giới hạn của mục tiêu tăng trưởng hai chữ số

Tô Văn Trường

Mệnh đề then chốt không phải là “làm sao để chạm ngưỡng 10%”, mà phải là: làm sao để mỗi một điểm phần trăm tăng trưởng đều kết tinh thành giá trị đích thực cho người dân. Phản biện xã hội, khi được đặt đúng vị thế, sẽ không kéo lùi lịch sử. Ngược lại, nó sẽ soi đường chỉ lối cho một mô hình phát triển chân thực và bền vững.

Trong không khí sục sôi thúc đẩy phát triển hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy một xu hướng đáng suy ngẫm: sự dè dặt ngày càng lớn khi đưa ra các ý kiến phản biện.

Hiện tượng này không xuất phát từ sự thiếu hụt thông tin hay tinh thần trách nhiệm, mà bắt nguồn từ việc một số quan điểm đang được cổ xúy theo hướng “chỉ bàn tiến, không bàn lùi”. Trong một môi trường mà hình ảnh “vừa chạy vừa xếp hàng” được đề cao, tốc độ đôi khi làm lu mờ những tiếng nói thận trọng, khiến chúng bị xem là dư thừa. Hệ quả là, phản biện xã hội dễ bị gán nhãn như một lực cản, thay vì được công nhận là một bộ phận cốt lõi của nền quản trị hiện đại. Dù vậy, chính tại những thời khắc mang tính bước ngoặt với các mục tiêu vĩ mô lớn, tư duy phản biện lại càng trở nên sinh tử.

Việc đặt ra mục tiêu phấn đấu đạt tăng trưởng GDP hai chữ số từ năm 2026 trở đi chính là một ví dụ điển hình. Khát vọng vươn lên mạnh mẽ là điều đáng trân trọng, song đây là một bài toán cần được mổ xẻ một cách thấu đáo, khoa học và đầy trách nhiệm, nhất là khi soi chiếu dưới lăng kính thực tiễn quốc tế cũng như cấu trúc nội tại của nền kinh tế nước nhà.

Không có tiền lệ về một “chỉ tiêu hai chữ số” dài hạn

Một thực tế ít được đề cập đến là trên bình diện toàn cầu hiện nay, gần như không có quốc gia nào chính thức ấn định mục tiêu duy trì tăng trưởng GDP hai chữ số như một chỉ tiêu trung hạn bất di bất dịch. Thậm chí, những nền kinh tế từng tạo nên các kỳ tích tăng trưởng trong quá khứ cũng không vận hành theo phương thức này.

Nhìn lại giai đoạn phát triển thần kỳ của khu vực Đông Á, có thể thấy rõ quy luật này:

Nhật Bản thời hậu chiến từng chứng kiến tốc độ tăng trưởng bùng nổ, nhưng đích đến trong chính sách của họ là công nghiệp hóa và nâng cao năng suất, chứ không phải là con số hai chữ số.

Quá trình cất cánh của Hàn Quốc và Đài Loan cũng ghi nhận những năm tăng trưởng rất cao, nhưng đó là quả ngọt của quá trình tích lũy và chuyển đổi cơ cấu tự nhiên, hoàn toàn không phải là một “chỉ tiêu hành chính” gượng ép trong dài hạn.

Trung Quốc – nền kinh tế hiếm hoi duy trì đà tăng trưởng xấp xỉ hai chữ số trong thời gian dài cũng chưa từng coi đây là một mục tiêu cố định bất biến. Những năm gần đây, họ đã chủ động điều chỉnh giảm mục tiêu xuống quanh mức 5% để nhường chỗ cho sự ổn định và chất lượng tăng trưởng.

Những dẫn chứng trên minh họa cho một nguyên lý nền tảng của kinh tế học phát triển: Tăng trưởng nóng có thể xuất hiện ở một vài giai đoạn, nhưng không một ý chí chính sách nào có thể duy trì nó lâu dài nếu thiếu đi nền tảng kinh tế tương xứng.

Dự báo quốc tế và những “giới hạn thực tế”

Với các phương pháp phân tích độc lập, các tổ chức quốc tế đã phác họa một bức tranh khá đồng nhất về triển vọng của Việt Nam trong năm 2026, phản ánh sự giằng co giữa tiềm năng và các ràng buộc hiện hữu.

Cụ thể, các mức dự báo đều dao động trong khoảng hẹp từ 6,1% đến 7,6%. World Bank dự báo mức 6,3%;ADB là 7,2%; IMF thận trọng hơn với 6,1%; Standard Chartered và HSBC lần lượt đưa ra con số 7,2% và 6,7%; trong khi mức lạc quan nhất đến từ AMRO với 7,6%.

Sự hội tụ của loạt dự báo này hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. Nó phơi bày những giới hạn thực tế:

Năng suất lao động của Việt Nam dù đang cải thiện nhưng vẫn thiếu một cú hích đột phá đủ mạnh để kiến tạo mức tăng trưởng hai chữ số.

Cấu trúc nền kinh tế vẫn đang phụ thuộc sâu sắc vào xuất khẩu và khu vực FDI.

Bức tranh kinh tế toàn cầu đang nhuốm màu ảm đạm với đà tăng trưởng chậm lại, đan xen nhiều rủi ro thương mại và địa chính trị.

Trong bối cảnh bủa vây bởi các yếu tố này, việc neo một mục tiêu tăng trưởng vượt quá xa các dự báo thực chứng đòi hỏi sự cẩn trọng tối đa, không chỉ để đảm bảo tính khả thi mà còn để lường trước những hệ quả chính sách kéo theo.

Khi bề nổi GDP che khuất thực chất GNI

Một câu hỏi cốt lõi cần được đặt ra: Ngay cả khi chạm tay đến tốc độ tăng trưởng mơ ước, liệu thành quả đó có thực sự thẩm thấu thành phúc lợi cho người dân? 

Lúc này, lằn ranh khác biệt giữa GDP và GNI mang ý nghĩa quyết định.

GDP thuần túy đo lường tổng giá trị sản xuất trên một vùng lãnh thổ mà không màng đến việc giá trị đó chảy vào túi ai. Trái lại, GNI mới là thước đo phản ánh thu nhập thực tế mà người dân và doanh nghiệp nội địa nắm giữ.

Đối với một nền kinh tế mà khối ngoại (FDI) chiếm tỷ trọng áp đảo như Việt Nam, độ vênh giữa hai chỉ số này là một hố sâu đáng kể. Một phần lớn giá trị gia tăng được sinh ra trên đất nước chúng ta, nhưng lợi nhuận ròng lại được chuyển về cố hương của các nhà đầu tư. Hệ lụy tất yếu là hiện tượng “tăng trưởng không giữ lại được thu nhập” – một cái bẫy mà nhiều chuyên gia đã cảnh báo. Việc mải mê chạy theo bề nổi GDP có thể khiến chúng ta bỏ lỡ vấn đề cốt lõi này.

Nguy cơ từ việc “ép số” và sự chuyển đổi tất yếu

Khi một mục tiêu quá sức được áp đặt lên một nền tảng chưa sẵn sàng, áp lực thành tích có thể dẫn lối cho những quyết sách vĩ mô thiển cận và thiếu bền vững. Bài học từ lịch sử kinh tế đã chỉ ra những hệ lụy nhãn tiền:

Đầu tư công bị mở rộng ồ ạt, dẫn đến tình trạng kém hiệu quả và phình to nợ công.
Tín dụng tăng trưởng nóng, gieo mầm rủi ro cho toàn hệ thống ngân hàng.

Các thị trường tài sản, đặc biệt là bất động sản, dễ bị thổi phồng tạo bong bóng.

Môi trường và các chuẩn mực xã hội bị mang ra làm vật tế thần cho các chỉ tiêu ngắn hạn.

Những khối u này không bộc phát tức thời, mà âm thầm tích tụ để rồi bùng vỡ sau vài năm, khi cái giá của sự tăng trưởng bằng mọi giá trở nên quá đắt đỏ. Sự lo ngại thực sự không nằm ở bản thân sự tăng trưởng cao, mà nằm ở việc tăng trưởng cao nhưng rỗng ruột và thiếu bền vững.

Đã đến lúc chúng ta cần một cuộc chuyển dịch từ “tốc độ” sang “chất lượng”. Nếu lấy việc gia tăng GNI và nâng tầm thu nhập thực chất của người dân làm kim chỉ nam, tư duy chính sách sẽ phải xoay trục toàn diện. Thay vì bành trướng quy mô bằng mọi giá, trọng tâm phải được đặt vào:

Thứ nhất, cải thiện triệt để năng suất lao động.

Thứ hai, nuôi dưỡng năng lực cạnh tranh cho khối doanh nghiệp nội địa.

Thứ ba, nâng tầm tỷ lệ nội địa hóa sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, lấy  đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ làm bệ phóng.

Đó là một hành trình chông gai và đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhưng nó kiến tạo một móng vuốt vững chắc cho nền kinh tế. Một quốc gia tăng trưởng 6-7% nhưng dựa trên nền tảng năng suất và giá trị nội sinh sẽ mang lại sự thịnh vượng thực chất cho người dân lớn hơn gấp nhiều lần so với việc tăng trưởng phi mã nhưng lại sống tầm gửi vào ngoại lực.

Phản biện xã hội: Người bạn đồng hành định hình tương lai

Khi đứng trước các đại kế hoạch của quốc gia, phản biện xã hội cần được tôn vinh như một công cụ kiến tạo, thay vì bị xem là vật cản đường. Lăng kính phản biện mang lại những giá trị vô giá:

Đóng vai trò màng lọc kiểm chứng tính khả thi của mọi mục tiêu.

Là hệ thống cảnh báo sớm những rủi ro chực chờ.

Mở đường cho các phương án điều chỉnh và thay thế tối ưu.

Gia cố minh bạch và đề cao trách nhiệm giải trình của hệ thống.

Hơn thế nữa, phản biện là thao trường để các chính sách được tôi luyện trước khi bước ra thực địa – nơi mọi sai lầm đều phải trả bằng cái giá cực đắt. Một xã hội vắng bóng sự phản biện không minh chứng cho một sự đồng thuận tuyệt đối, mà chỉ phản chiếu một môi trường chưa đủ độ bao dung cho những góc nhìn đa chiều.

Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, nếu được dùng như một đòn bẩy tinh thần để khơi dậy khát vọng cải cách, sẽ mang lại nguồn năng lượng tích cực. Tuy nhiên, nếu nó bị biến thành một vòng kim cô cứng nhắc, bắt buộc phải đạt được bằng mọi giá, sự lệch chuẩn trong điều hành chính sách là điều khó tránh khỏi.

Kinh nghiệm toàn cầu đã đúc kết rằng không tồn tại đường tắt đi đến sự phồn vinh bền vững. Những cường quốc thành công đều phải miệt mài bồi đắp nội lực, nâng tầm năng suất và tinh chỉnh thể chế qua năm tháng.

Do đó, mệnh đề then chốt không phải là “làm sao để chạm ngưỡng 10%”, mà phải là: làm sao để mỗi một điểm phần trăm tăng trưởng đều kết tinh thành giá trị đích thực cho người dân. Phản biện xã hội, khi được đặt đúng vị thế, sẽ không kéo lùi lịch sử. Ngược lại, nó sẽ soi đường chỉ lối cho một mô hình phát triển chân thực và bền vững – nơi tăng trưởng thoát khỏi cái bóng của những con số vô hồn, để hóa thân thành sự thăng tiến toàn diện trong đời sống của toàn xã hội.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

 

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn