Tư duy “Quan ban ơn - Dân biết ơn”: Di sản phong kiến trong bộ máy công quyền

Long Nhat 

Ở một số nước trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam – một hiện tượng kỳ lạ vẫn tồn tại – Người dân không xem việc cán bộ công chức làm việc là trách nhiệm công vụ được trả lương từ ngân sách do chính họ đóng góp, mà lại coi đó như một sự ban ơn. Ngược lại, không ít cán bộ cũng tự nhận thức công việc của mình như hành động bố thí, đòi hỏi sự biết ơn thay vì coi đó là nghĩa vụ nghề nghiệp.

Điều này hoàn toàn trái ngược với các nước phát triển, nơi công chức chỉ là một nghề bình thường trong xã hội. Ở đó, công chức làm sai có thể bị kiện, bị trừ lương, bị sa thải, và người dân không bao giờ mặc định cán bộ giỏi hơn hay xứng đáng hưởng đặc quyền hơn. Vậy tại sao ở một số nơi lại khác? Câu trả lời nằm ở ba tầng lịch sử chồng chất lên nhau.

A group of men in traditional robes

AI-generated content may be incorrect.

Phong kiến Nho giáo và thang giá trị "sĩ" trên "thương"

Trong chế độ phong kiến Nho giáo, bộ máy cai trị được tổ chức theo trật tự gia trưởng. Vua là cha của thiên hạ, quan lại là cha mẹ của dân, còn dân là con cái phải phục tùng. Mối quan hệ này không dựa trên khế ước hay pháp lý mà dựa trên đạo lý và đẳng cấp.

Nhưng điều quan trọng hơn là xã hội phong kiến Nho giáo có một thang giá trị nghề nghiệp rất rõ ràng. Bốn tầng lớp được xếp hạng từ cao đến thấp là sĩ, nông, công, thương. Người đọc sách làm quan đứng ở vị trí cao nhất, còn người buôn bán kinh doanh bị xếp ở hạng thấp nhất.

Tại sao lại như vậy? Theo Nho giáo, người làm quan là kẻ theo đuổi đạo đức, trí tuệ, phục vụ thiên hạ bằng tri thức và đức hạnh. Trong khi đó, người buôn bán chỉ lo kiếm lời, mưu cầu lợi ích cá nhân, không đóng góp gì cho đạo đức xã hội. Khổng Tử nói quân tử hiểu về nghĩa, tiểu nhân hiểu về lợi, và người buôn bán chính là tiểu nhân trong quan niệm này.

Từ thời nhà Đường đến khi bãi bỏ năm 1905, hệ thống thi cử khoa bảng là con đường duy nhất để tiến thân. Tỷ lệ đỗ đạt cực thấp, thường dưới 1%, khiến những người đỗ được xem như tinh hoa tuyệt đối của xã hội. Họ là người đọc sách thánh hiền, nắm giữ đức trí lễ nghĩa, đại diện của vua và thiên mệnh.

Điểm quan trọng là trong xã hội nông nghiệp thời đó, không có nhà báo, kỹ sư, luật sư, doanh nhân hiện đại, nhà khoa học để so sánh. Quan là tầng lớp trí thức duy nhất. Vì thế, dân mặc định quan tham nhũng là tự nhiên vì họ giỏi hơn, quan sống sung túc là đương nhiên. Thậm chí khi quan làm đúng việc như xử án công minh hay thu thuế hợp lý, đó được coi là ân đức chứ không phải bổn phận.

Trong khi đó, những người tạo ra của cải thật sự cho xã hội lại bị coi thường. Thương nhân, người kinh doanh bị xem là tiểu nhân, là kẻ chỉ biết mưu lợi. Dù họ có giàu có đến đâu, địa vị xã hội của họ vẫn thấp hơn một quan nhỏ nghèo khó. Một gia đình giàu có nhờ buôn bán vẫn phải cho con đi thi để tẩy sạch thành phần thương gia, trở thành sĩ mới được xã hội tôn trọng.

Dân chúng từ nhỏ được dạy phải biết ơn vua, ơn quan, phải khiêm nhường. Họ chỉ mong gặp ông quan tốt, chứ không có tâm thế đòi hỏi hay giám sát quyền lực. Trong Nho giáo, cán bộ lý tưởng làm việc không vì tiền mà vì đạo trời, vì trách nhiệm đạo đức. Lương bổng chỉ là phụ trợ. Trách nhiệm công vụ không phải hợp đồng mà là sứ mệnh đạo đức. Tư duy này ăn sâu hàng trăm năm, thấm vào tiềm thức tập thể.

Thời bao cấp và chiến dịch đánh tư sản

Sau 1954 ở miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam, Việt Nam bước vào thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung kéo dài đến năm 1986. Trong giai đoạn này, không có kinh tế tư nhân hợp pháp, không ai được mở doanh nghiệp, không thể làm giàu hợp pháp bằng kinh doanh. Cơ hội thăng tiến duy nhất là vào nhà nước.

Nhưng quan trọng hơn, thời kỳ này tiếp tục duy trì, thậm chí còn khắc nghiệt hơn thang giá trị coi thường tầng lớp kinh doanh. Chiến dịch cải tạo tư sản biến doanh nhân thành kẻ thù giai cấp, thành kẻ bóc lột, phản động. Nếu thời phong kiến còn chấp nhận sự tồn tại của tầng lớp “thương”, dù xếp họ ở hạng thấp nhất, thì thời bao cấp còn muốn xóa bỏ hoàn toàn tầng lớp này. Doanh nhân bị coi là tiểu nhân, là người xấu, là hạng bét xã hội.

Trong khi đó, tầng lớp trí thức làm quan, những người nặng bằng cấp, lý thuyết, làm việc trong bộ máy nhà nước lại được tôn vinh. Đây chính là sự tiếp nối của tư tưởng “sĩ” thời phong kiến, chỉ thay đọc sách thánh hiền bằng đọc Mác - Lênin, thay phục vụ vua quan bằng phục vụ đảng và phục vụ chủ thể vô hình là “nhân dân”.

Điều quan trọng hơn là sự chênh lệch về chất lượng cuộc sống giữa cán bộ và người dân thường. Chỉ có làm công chức mới có nhiều chế độ đầy đủ. Lương được trả đều đặn hàng tháng, phụ cấp ăn trưa, bảo hiểm y tế, nhà công vụ hoặc được cấp đất, phiếu mua hàng hóa khan hiếm. Quan trọng hơn, công chức được hưởng các đặc quyền này bất kể họ có nhiều việc hay rảnh việc, đóng góp nhiều hay ít. Đây là điều mà không một nghề nào khác có được.

Trong khi đó, kinh tế tư nhân rất nhỏ lẻ, chủ yếu là làm nông, lao động thời vụ tay chân, bấp bênh, không ổn định. Một người nông dân phụ thuộc vào thời tiết, mùa màng, không có bảo hiểm, không có lương cố định. Một thợ thủ công hay người buôn bán nhỏ lẻ luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu, bị hạn chế hoạt động, có thể bị coi là tư sản, tiểu thương.

Chính sự chênh lệch này tạo ra một quan niệm sâu sắc – Làm công chức là con đường duy nhất để có cuộc sống ổn định, đáng sống. Mọi gia đình đều muốn con được phân công biên chế, vào sở, ủy ban, viện, bộ... Khái niệm làm cán bộ đồng nghĩa với người giỏi nhất xã hội không phải vì tất cả cán bộ đều xuất sắc, mà vì không có nghề nào khác đảm bảo được cuộc sống như vậy (!). Và vì doanh nhân, những người thực sự tạo ra của cải, lại bị xã hội dè bỉu.

Thêm vào đó, khi lương công chức thấp nhưng quyền lực hành chính cao, xã hội hình thành quan niệm ngầm – Cán bộ có quyền thì xứng đáng có lợi ích thêm. Bổng lộc ngoài lương, hay nói thẳng là tham ô trục lợi, trở thành điều ngầm hiểu. Đây chính là sự nối tiếp của tư duy phong kiến. Cán bộ là bề trên, có quyền nhiều hơn dân thì hưởng lợi nhiều hơn là bình thường. Như vậy, thời bao cấp không phá vỡ mà còn củng cố thêm vị thế đặc biệt của công chức.

Kinh tế thị trường và mâu thuẫn giữa thực tế với tư duy

Từ Đổi mới 1986 đến nay, kinh tế tư nhân phát triển mạnh, các ngành nghề mới xuất hiện – Kỹ sư, lập trình viên, luật sư, doanh nhân, nhà thiết kế... Nhiều người trong các lĩnh vực này giỏi hơn, kiếm được nhiều tiền hơn công chức. Quan trọng hơn, thực tế đã chứng minh xã hội phát triển là nhờ doanh nghiệp phát triển, chứ không phải nhờ bộ máy hành chính phình to.

Các nước phát triển trên thế giới, đều có điểm chung – Khu vực tư nhân mạnh, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, tạo của cải. Bộ máy công quyền chỉ đóng vai trò quản lý, điều tiết, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động. Doanh nhân thành công được xã hội tôn trọng không phải vì họ giàu mà vì họ tạo ra giá trị cho cộng đồng.

Tuy nhiên, ở một số nơi, tư duy được hình thành trong hàng trăm năm không thay đổi nhanh như kinh tế. Trong mắt nhiều người, đặc biệt thế hệ lớn tuổi hoặc ở vùng nông thôn, học đại học ra trường đi làm tư nhân vẫn bị xem là không ổn định, không oai, không giỏi như cán bộ. Làm nhà nước vẫn sang hơn, sạch sẽ hơn, có danh hơn. Lý do là hai tầng tư duy trước đó, phong kiến với quan niệm “sĩ” trên “thương” và bao cấp với chiến dịch đánh tư sản, đã khiến công chức không chỉ là nghề mà là đẳng cấp xã hội, là công việc tốt, là ổn định.

Mâu thuẫn ở chỗ, về mặt kinh tế, xã hội công nhận vai trò của doanh nghiệp, nhưng về mặt văn hóa, xã hội vẫn coi thường doanh nhân. Một người lập trình viên giỏi kiếm được 50 triệu mỗi tháng vẫn bị gia đình thúc ép thi vào nhà nước cho ổn định. Một doanh nhân thành công tạo việc làm cho hàng trăm người vẫn bị xem là không bằng một công chức cấp phòng. Đây chính là di sản của thang giá trị “sĩ” trên “thương”. Người ta tôn trọng bằng cấp, chức vụ hơn là năng lực tạo ra giá trị thực.

Nhưng điều đáng lo ngại hơn là cách xã hội nhìn nhận sự giàu có bất minh của công chức. Trong khi trộm cắp, cướp giật bị coi là tội ác đáng ghê tởm, thì việc cán bộ giàu lên từ tham nhũng, trục lợi lại không bị phản ứng tương tự. Thậm chí, nó còn trở thành điểm sáng trong mắt nhiều người. Một cán bộ có chức, có quyền, sống giàu có, dù ai cũng biết nguồn gốc của sự giàu có đó, không những không bị khinh bỉ mà còn được coi trọng, kính nể, yêu quý.

Hiện tượng này thể hiện rõ nhất trong việc hôn nhân. Một người công chức đi lấy vợ lấy chồng không những không phải là bất lợi vì ai cũng biết họ giàu từ đâu, mà còn là lợi thế lớn. Họ được đối phương và gia đình bên kia quý trọng, coi là con rể tốt, con dâu xứng đáng, dù bản chất nguồn gốc tài sản của họ không khác gì trộm cắp. Đây là một sự lệch lạc nghiêm trọng của xã hội. Biến một việc sai phạm, một hành vi về bản chất giống như trộm cướp, lấy tài sản công, lấy tiền của dân, thành điều không những không bị phê phán mà còn được ca ngợi, được coi là thành công, là điểm tốt trong hồ sơ cá nhân.

Một bộ phận dân chúng nhìn tham nhũng với tâm lý quan giỏi nên nó hưởng. Làm quan mà không có quyền lợi thì dại. Quan giàu là chuyện thường. Họ tài giỏi mới lên được chức đó. Họ có điều kiện thì tận dụng cũng là khôn. Đây là hệ quả của ba tầng văn hóa chồng lên nhau. Phong kiến với quan thuộc tầng sĩ cao quý, có đặc quyền tự nhiên. Bao cấp với công chức là tầng lớp duy nhất có cuộc sống ổn định, còn doanh nhân là kẻ xấu. Và thị trường với quyền lực hành chính vẫn mang lại lợi ích lớn, hình thành tư duy chức càng cao càng giàu là logic.

Hiện tượng sai trái này trở nên phổ biến tới mức nó được coi là bình thường, thậm chí lại trở thành điểm tích cực chứ không bị khinh bỉ. Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho sức mạnh của di sản văn hóa. Nó có thể đảo ngược cả chuẩn mực đạo đức, biến kẻ trộm thành người đáng quý, biến tội phạm thành thành tích.

Khi trách nhiệm bắt buộc trở thành ân huệ

Mô hình quan là cha, dân là con không còn tồn tại trên văn bản pháp luật, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn sống trong cách người ta suy nghĩ và hành xử. Dù bộ máy công quyền đã chuyển sang mô hình pháp trị, dù cán bộ được tuyển dụng theo tiêu chuẩn nghề nghiệp và hưởng lương từ ngân sách, dấu vết phong kiến vẫn len vào tâm lý cả hai phía.

Sự lệch lạc này thể hiện rõ nhất qua cách nhìn về bổn phận nghề nghiệp. Công an được trả lương để tìm người ăn trộm, bảo vệ an ninh trật tự. Đó là công việc của họ, là lý do họ nhận lương hàng tháng từ ngân sách. Đơn vị cứu hộ phải đi làm khi có thiên tai, giải cứu người gặp nạn. Đó là trách nhiệm bắt buộc trong hợp đồng lao động của họ, giống như một bác sĩ phải chữa bệnh hay một giáo viên phải dạy học.

Thế nhưng, trong thực tế hiện nay, nhiều người dân lại coi việc đó là ban ơn, là làm giúp, chứ không phải trách nhiệm. Tức là khi công an bắt được trộm, khi lực lượng cứu hộ đến cứu người trong lũ lụt, dân phải biết ơn như thể đó là việc họ làm thêm ngoài giờ, là hành động cao cả vượt lên trên bổn phận. Ngược lại, nếu họ không làm hoặc làm chậm, thì dân cũng không dám phản ánh, không dám đòi hỏi, coi như tùy tâm cán bộ. Họ làm thì tốt, không làm cũng không sao.

Đây chính là tư duy lệch lạc nghiêm trọng. Nó xóa bỏ ranh giới giữa nghĩa vụ và thiện chí, giữa công việc được trả lương và hành động tình nguyện. Một người bán hàng trong siêu thị phục vụ khách hàng là công việc, nếu họ không phục vụ thì bị sa thải. Một bác sĩ khám bệnh cho người dân là nghĩa vụ, nếu họ từ chối vô lý thì bị xử lý kỷ luật. Nhưng khi đó là cán bộ công quyền, chuẩn mực này bỗng bị xóa mờ. Việc làm đúng bổn phận lại được tôn vinh như ân huệ, còn việc không làm lại được chấp nhận như điều bình thường.

Ở phía người dân, tâm lý xin cho thay vì yêu cầu được phục vụ vẫn tồn tại. Họ sợ làm phật lòng cán bộ khi đòi quyền chính đáng. Khi được xử lý nhanh, họ cảm thấy được ưu ái chứ không phải hưởng quyền lợi đương nhiên. Họ nhìn bản thân như người xin ơn từ tầng lớp cao hơn, chứ không phải người trả lương cho dịch vụ công. Họ không dám nói đây là việc anh phải làm, mà chỉ dám nói nhờ anh giúp đỡ.

Ở phía cán bộ, một bộ phận vô thức cảm thấy mình ở vị trí cao hơn, được trao quyền để quản dân chứ không phải phục vụ. Họ xem công việc như quyền lực xã hội cần được tôn trọng, không chỉ là trách nhiệm nghề nghiệp. Thái độ ban phát xuất hiện. Giải quyết hồ sơ, ký giấy, bắt trộm, cứu hộ, tất cả được coi như giúp đỡ thay vì thực hiện nghĩa vụ nên người dân muốn cơ quan công quyền làm gì cũng phải có “đơn xin” (!). Một số tự coi mình là trí thức hơn dân, dù chỉ là trí thức bằng cấp, lý thuyết, chứ không phải trí thức tạo ra giá trị thực. Họ cho rằng mình có tư cách đạo đức cao hơn, đặc quyền là xứng đáng, và tự hợp lý hóa thu nhập ngoài lương, ưu tiên, đặc lợi. Họ coi chức vụ như chứng nhận đẳng cấp xã hội thay vì nghề nghiệp.

Sự gặp gỡ giữa hai tâm lý này, dân quen phục tùng, cán bộ quen ban phát, làm mờ ranh giới của nhà nước hiện đại. Bộ máy công quyền, lẽ ra hoạt động theo nguyên tắc dân là chủ, nhà nước phục vụ, lại vận hành theo logic bề trên, kẻ dưới. Điều này làm chậm phát triển văn hóa công vụ, cản trở minh bạch và trách nhiệm giải trình, thu hẹp quyền của người dân mà không ai nhận ra ngay, và dẫn đến tham nhũng, trì trệ, dịch vụ công kém chất lượng.

Đây không chỉ là vấn đề quản trị hay đạo đức công vụ mà là di sản văn hóa lịch sử kéo dài từ ba tầng chồng chất. Phong kiến Nho giáo với thang giá trị sĩ trên thương, đặt người làm quan lên đỉnh cao, người kinh doanh xuống hạng thấp, quan là cha dân là con tạo nên đẳng cấp tuyệt đối. Thời bao cấp với chiến dịch đánh tư sản biến doanh nhân thành kẻ thù, còn cán bộ là tầng lớp duy nhất có cuộc sống ổn định và đầy đủ, càng củng cố vị thế. Kinh tế thị trường với mâu thuẫn giữa thực tế, xã hội phát triển nhờ doanh nghiệp, và tư duy vẫn coi công chức cao quý hơn. Quyền lực hành chính vẫn sinh lợi ích, dân hợp thức hóa sự giàu có bất minh, biến tội phạm thành thành tích, biến nghĩa vụ thành ân huệ.

Đây là kết quả của hàng trăm năm mô hình xã hội không đa dạng nghề nghiệp, nơi con đường duy nhất để có cuộc sống tốt và được xã hội tôn trọng là làm quan hay cán bộ, còn những người thực sự tạo ra của cải cho xã hội lại bị coi thường. 

Cần gấp rút thay đổi mối quan hệ xã hội này bằng giáo dục về quyền công dân, tôn trọng đúng mức những người tạo ra giá trị thực, và một nền quản trị công hiện đại, minh bạch, chuyên nghiệp, có trách nhiệm giải trình với người dân.

L.N.

Nguồn: FB Long Nhat

 

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn