Trump tới Bắc Kinh và nỗi lo “voi yêu nhau” của Đông Nam Á

Nguyễn Thanh Sơn

Có thể là hình ảnh về Phòng Bầu dục

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Donald Trump trong tháng 5/2026 không được xem là một nỗ lực hòa dịu theo nghĩa truyền thống. Sau gần một thập niên leo thang về thuế quan, công nghệ và địa chính trị, cả Washington lẫn Bắc Kinh đều hiểu rằng quan hệ Mỹ - Trung đã bước sang một trạng thái khác: không thể quay lại thời kỳ phụ thuộc sâu như trước, nhưng cũng không thể để cạnh tranh vượt khỏi tầm kiểm soát.

Đó là lý do nhiều viện nghiên cứu chiến lược gần đây bắt đầu dùng lại khái niệm modus vivendi, tức cùng tồn tại trong cạnh tranh.

Hiểu theo nghĩa đơn giản, đây là trạng thái mà hai cường quốc chấp nhận cạnh tranh lâu dài nhưng cố giữ cạnh tranh trong giới hạn có thể quản trị được. Không hòa giải hoàn toàn, nhưng cũng tránh đối đầu toàn diện.

Điều này phản ánh rất rõ trong cách Donald Trump nói về Trung Quốc trước chuyến đi. Trump cho rằng quan hệ Mỹ - Trung hiện “đang ở trong trạng thái tốt” và hai bên “có thể đạt được những thỏa thuận rất lớn nếu cùng hành động thực tế”.

Đó không còn là ngôn ngữ của một cuộc đối đầu ý thức hệ kiểu Chiến tranh Lạnh.

Nếu thời Biden đặt nặng liên minh giá trị, dân chủ và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, Trump lại nhìn cạnh tranh giữa các cường quốc bằng tư duy giao dịch quyền lực. Điều ông ưu tiên là thương mại, chuỗi cung ứng, đất hiếm, công nghệ và khả năng mặc cả trực tiếp với Bắc Kinh.

Ở phía Trung Quốc, Tập Cận Bình cũng phát đi tín hiệu tương tự khi nhấn mạnh rằng “Trái đất đủ rộng để cả Trung Quốc và Mỹ cùng phát triển”.

Nhưng điều đáng chú ý hơn nằm ở cách Bắc Kinh mô tả trạng thái quan hệ mà họ muốn hướng tới. Giới ngoại giao Trung Quốc gần đây sử dụng một cụm diễn đạt khá đặc biệt: “Hợp tác vi chủ đích tích cực ổn định, cạnh tranh hữu độ đích lương tính ổn định, phân kỳ khả khống đích thường thái ổn định, hòa bình khả kỳ đích trì cửu ổn định.”

Đây gần như là cách Trung Quốc định nghĩa một mô hình cạnh tranh mới với Mỹ: vẫn cạnh tranh, nhưng cạnh tranh có giới hạn; vẫn có bất đồng, nhưng bất đồng phải nằm trong trạng thái kiểm soát được; vẫn duy trì đối đầu chiến lược, nhưng tránh để xung đột vượt thành khủng hoảng hệ thống.

Nói cách khác, Bắc Kinh muốn “thể chế hóa cạnh tranh” với Washington.

Đó cũng là điều Mỹ đang dần chấp nhận.

Washington không từ bỏ chiến lược kiềm chế công nghệ đối với Trung Quốc, đặc biệt ở các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và chuỗi cung ứng chiến lược. Nhưng cùng lúc, Mỹ cũng cần ổn định kinh tế toàn cầu, tránh đổ vỡ chuỗi cung ứng và hạn chế nguy cơ suy thoái.

Vấn đề là trạng thái “ổn định cạnh tranh” ấy lại tạo ra một nỗi lo khác cho Đông Nam Á.

Đó là nỗi lo về “G2”.

Trong nhiều năm, các nước Đông Nam Á thường lo ngại khả năng Mỹ và Trung Quốc đối đầu quá mạnh. Nhưng hiện nay, giới chiến lược trong khu vực bắt đầu xuất hiện một mối lo khác: điều gì xảy ra nếu Washington và Bắc Kinh bước vào trạng thái vừa cạnh tranh vừa tự thương lượng giới hạn cạnh tranh của họ?

Đó là logic của “G2 bargaining”.

Hiểu đơn giản, đây là khả năng hai siêu cường tự dàn xếp luật chơi, phạm vi ảnh hưởng và mức độ đối đầu mà không tính đầy đủ lợi ích của các quốc gia đứng giữa.

Như cố Thủ tướng Singapore Lee Kuan Yew từng nói: “Khi voi đánh nhau thì cỏ chết. Nhưng ngay cả khi voi yêu nhau thì cỏ cũng chết.”

Đó chính là tâm trạng của nhiều nước Đông Nam Á lúc này.

Nếu Mỹ và Trung Quốc đối đầu quá mạnh, khu vực sẽ chịu áp lực về an ninh, chuỗi cung ứng và phân cực chiến lược. Nhưng nếu hai siêu cường bắt đầu bước vào trạng thái “cạnh tranh hữu độ”, tự xác lập giới hạn ảnh hưởng và mặc cả lợi ích với nhau, các nước đứng giữa cũng có nguy cơ bị thu hẹp không gian chiến lược.

Với các nước tầm trung như Việt Nam, đây mới là kịch bản nhạy cảm nhất.

Bởi lịch sử cho thấy các thỏa thuận giữa các cường quốc thường tạo ra ổn định cho hệ thống quốc tế, nhưng không phải lúc nào cũng tạo ra cảm giác an toàn cho các quốc gia nằm trong vùng cạnh tranh chiến lược.

Việt Nam nằm đúng trong vùng đó.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam hưởng lợi từ cạnh tranh Mỹ -Trung thông qua làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng. Khi Washington áp thuế lên hàng hóa Trung Quốc và siết công nghệ, nhiều tập đoàn bắt đầu chuyển dịch sản xuất sang Đông Nam Á. Việt Nam trở thành một trong những điểm đến quan trọng nhất của xu hướng này.

Nhưng lợi ích ấy cũng kéo theo áp lực ngày càng lớn.

Mỹ muốn Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghệ và cấu trúc an ninh khu vực. Đồng thời, Washington cũng ngày càng lo ngại khả năng hàng hóa Trung Quốc đi qua Việt Nam để né thuế và kiểm soát công nghệ.

Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio gần đây tuyên bố Washington sẽ “theo dõi chặt mọi hành vi trung chuyển nhằm né các biện pháp thương mại của Mỹ”. Điều đó cho thấy Việt Nam giờ không chỉ được nhìn như đối tác chiến lược, mà còn là mắt xích cần giám sát trong cuộc cạnh tranh công nghệ và thương mại Mỹ -Trung.

Ở chiều ngược lại, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị lại nhấn mạnh rằng Trung Quốc “ủng hộ các nước trong khu vực duy trì tự chủ chiến lược và phản đối việc biến châu Á thành không gian đối đầu địa chính trị”.

Hai phát biểu ấy phản ánh chính xác thế khó của Việt Nam.

Mỹ muốn kéo Việt Nam sâu hơn vào cấu trúc công nghệ và an ninh do Washington dẫn dắt. Trong khi đó, Trung Quốc muốn duy trì ảnh hưởng kinh tế và ngăn Đông Nam Á nghiêng quá sâu về phía Mỹ.

Điều Việt Nam phải xử lý lúc này không còn đơn thuần là lựa chọn giữa Washington hay Bắc Kinh.

Bài toán lớn hơn là làm sao duy trì đủ khoảng cách với cả hai để bảo toàn quyền tự chủ chiến lược trong một thế giới đang bước vào trạng thái “cạnh tranh được quản trị”.

Đó là lý do Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục chiến lược cân bằng mềm trong những năm tới. Việt Nam không có lợi ích khi tham gia liên minh đối đầu trực tiếp với Trung Quốc, nhưng cũng không thể để mình lệ thuộc chiến lược vào bất kỳ cực quyền lực nào.

Tuy nhiên, giai đoạn tới sẽ khó hơn nhiều so với trước.

Nếu Mỹ và Trung Quốc ổn định cạnh tranh thành công, lợi thế “China+1” của Việt Nam có thể giảm dần vì dòng vốn đầu tư sẽ không còn dịch chuyển mạnh như giai đoạn đối đầu căng thẳng trước đây.

Khi đó, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh bằng năng lực công nghệ, độ tin cậy chuỗi cung ứng và chất lượng thể chế thay vì chỉ dựa vào vị trí địa chính trị.

Ngược lại, nếu cạnh tranh Mỹ - Trung leo thang trở lại, áp lực về công nghệ, thương mại và an ninh biển đối với Việt Nam cũng sẽ lớn hơn.

Đó là nghịch lý lớn nhất trong vị thế hiện nay của Việt Nam.

Việt Nam hưởng lợi nhất định từ cạnh tranh giữa các cường quốc, nhưng chính cạnh tranh ấy cũng khiến không gian chiến lược trở nên hẹp hơn và lợi ích có thể “được không bù mất”.

N.T.S.

Nguồn: https://www.facebook.com/nguyenthanhson/posts/pfbid0CjPAWjVi3hJS2FAqKjPBWHeS4f3bXtEwLqxvm5eGbJtUss6CenEibAuhotfTHgnXl?__cft__[0]=AZZ_hpWHO4xrCbW_oc74j-OSZ5YvBwGDzONMbOiy9hizaW7H_QdHL5I7Sxzzd19jVg-npTMSzgimbchWSHa-PBtjhVtx3wRbizdKqdvRwwfYtkBzxOqkpEFTRnDfEdkDaR89A9FTNzgs7fCxElfhdPig9EIOHhc4O8F8PAFypUJEO5cFtV3ySks1R12TM3qeUSI&__tn__=%2CO%2CP-R

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn