An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long (Bài 1 – Bài 3)

TS. Trương Hồng Sơn  Trường Đại học Thủy lợi

Lời tác giả: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vị trí đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, song đang đứng trước nguy cơ mất an ninh nguồn nước nghiêm trọng do ba nhóm nguyên nhân: suy giảm dòng chảy mùa khô từ thượng nguồn do hệ thống 128 hồ chứa thủy điện đã tích trữ khoảng 88 tỷ m³ và sẽ tăng lên 120 tỷ m³ giai đoạn 2040-2060; biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sụt lún đất với tốc độ 1,1 cm/năm - gấp gần mười lần mức nước biển dâng tuyệt đối; xâm nhập mặn ngày càng sớm và sâu, ba đợt cực đoan 2015-2016, 2019-2020 và 2023-2024 đã cho thấy sự bị động của hệ thống công trình hiện hành.

Bài 1. Khi 'vựa lúa' mất dần khả năng giữ chân con người 

ĐBSCL đang mất dần khả năng giữ chân con người và ‘giữ chân’ giá trị gia tăng, dấu hiệu hệ thống của khủng hoảng nguồn nước từ 'nguy cơ' sang 'hệ quả đo lường được'. 

'Vựa lúa' ĐBSCL đang mất dần khả năng giữ chân con người và giữ chân giá trị gia tăng. Ảnh minh họa.

"Vựa lúa" ĐBSCL đang mất dần khả năng giữ chân con người và giữ chân giá trị gia tăng. Ảnh minh họa.

Nghiên cứu này (*) lập luận rằng giải pháp "thuận thiên" theo Nghị quyết 120/NQ-CP đúng đắn về triết lý nhưng không đủ để bảo đảm an ninh nguồn nước trong những năm cực đoan; và rằng trụ cột cốt lõi cho an ninh nguồn nước ĐBSCL - bổ sung và làm chỗ dựa cho các giải pháp mềm theo Nghị quyết 120 trong những năm cực đoan là xây dựng hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông lớn, vận hành phân loại theo ba chế độ: chống nước dâng do bão cho toàn vùng, ngọt hóa các tiểu vùng được bảo vệ, và tăng dung tích trữ nước ngọt khả dụng mùa khô. 

Với công nghệ đập trụ đỡ thi công tại chỗ, đã được Việt Nam làm chủ, cùng với các phương án công nghệ đập mới như đập hộp chìm hay đập tàu thủy, việc xây dựng các công trình này hoàn toàn khả thi về kinh tế - kỹ thuật, đồng thời tận dụng được lòng sông tự nhiên làm lòng hồ, không chiếm đất nông nghiệp, có thể kết hợp với cầu giao thông và cảng biển.

Tầm quan trọng của ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần hạ lưu cuối cùng của sông Mekong - con sông lớn thứ 12 thế giới chảy qua sáu quốc gia. Với diện tích tự nhiên chiếm khoảng 13% diện tích cả nước và dân số 17-18 triệu người (khoảng 18% dân số quốc gia), ĐBSCL đóng vai trò trụ cột không thể thay thế trong cấu trúc kinh tế - xã hội Việt Nam.

Về kinh tế nông nghiệp, ĐBSCL không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn cung cấp gạo cho hơn 200 triệu người tại các nước Đông Nam Á, Trung Đông và châu Phi (FAO, 2023), góp phần quan trọng vào an ninh lương thực toàn cầu.

Để hình dung rõ hơn vị thế gánh việc lớn với nguồn lực hạn chế của ĐBSCL, có thể quan sát đối chứng tỷ lệ diện tích - dân số - sản lượng giữa vùng và cả nước trên (Hình 1). Có thể thấy sự bất đối xứng giữa diện tích (12%) và đóng góp sản phẩm chiến lược (50-90%), cho thấy mọi xáo trộn nguồn nước ở ĐBSCL không còn là vấn đề địa phương. Nói cách khác, một cú sốc về nước ngọt của vùng có thể lập tức truyền thẳng sang an ninh lương thực quốc gia và chuỗi cung ứng gạo toàn cầu mà Việt Nam đang giữ vai trò top 3 thế giới.

Tuy nhiên, vùng đất trù phú này đang đối mặt với một nghịch lý đáng lo ngại. Tỷ trọng đóng góp của ĐBSCL vào GDP quốc gia đã giảm từ 27% năm 1990 xuống chỉ còn khoảng 12% năm 2020 (VCCI Cần Thơ và Trường Đại học Fulbright Việt Nam, Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL, 2020). GDP bình quân đầu người của vùng ĐBSCL thấp hơn trung bình cả nước khoảng 18% (VCCI và Fulbright VN, 2020). Tỷ suất di cư thuần ròng âm 39,9‰ (per mille), cao nhất cả nước (Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2019). ĐBSCL là vùng duy nhất Việt Nam có dân số suy giảm trong thập kỷ qua. Bên cạnh đó, theo Ngân hàng Thế giới (Carolyn Turk, 2022), gần một nửa dân số ĐBSCL hiện đang sống ở các khu vực rủi ro cao về lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn và sụt lún.

Đây là một trong những lý do nền tảng để xếp an ninh nguồn nước ĐBSCL vào nhóm vấn đề an ninh phi truyền thống cấp quốc gia.

Thực trạng này đặt an ninh nguồn nước ĐBSCL vào nhóm vấn đề an ninh quốc gia, đòi hỏi phải có giải pháp chiến lược, đột phá và bền vững. Ba chỉ báo cảnh báo đáng lo ngại được tổng hợp và đặt cạnh nhau (trên Hình 2) phản ánh một thông điệp, đó là vùng đất "vựa lúa" ĐBSCL đang mất dần khả năng giữ chân con người và giữ chân giá trị gia tăng, một dấu hiệu hệ thống của khủng hoảng nguồn nước đã chuyển từ "nguy cơ" sang "hệ quả đo lường được".

Sự dịch chuyển có tính cấu trúc của chế độ thủy văn hạ lưu ĐBSCL

Tổng dòng chảy trung bình năm của sông Mekong vào ĐBSCL khoảng 475 tỷ m³ (QHTH, 2022) đến 488 tỷ m³ (Nguyễn Hữu Thiện, 2016), trong đó khoảng 16% có nguồn từ Trung Quốc, 2% từ Myanmar và 82% là nước mưa hạ lưu vực Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam (MRC Council Study, 2018). Điểm lưu ý là lượng nước được phân bố theo mùa rất không đều. Mùa lũ (tháng 7-11) chiếm khoảng 90% lượng dòng chảy năm, mùa kiệt (tháng 12-6) chỉ còn ~10%, đây chính là giai đoạn nhạy cảm nhất với xâm nhập mặn.

Đến năm 2025, thượng nguồn Mekong đã có 128 hồ chứa thủy điện (13 trên dòng chính, 115 trên dòng nhánh) với tổng dung tích trữ ~88 tỷ m³, riêng chuỗi 11 đập của Trung Quốc trên sông Lan Thương (Vân Nam) đã tích trữ trên 30 tỷ m³. Dòng chảy mùa kiệt tại trạm Tân Châu và Châu Đốc (đầu nguồn ĐBSCL) đã giảm trung bình 13%, có năm giảm tới 36% như đợt 2015-2016. Hệ thống đập thượng nguồn đồng thời giữ lại 67 - 83% lượng phù sa, yếu tố vừa làm hạ thấp lòng sông, gây xói lở bờ biển, vừa làm mặn dễ xâm nhập sâu hơn.

Tổng lượng dòng chảy mùa lũ vẫn duy trì ở mức cao (>400 tỷ m³), nhưng đỉnh lũ và thời gian ngập đã thay đổi rõ rệt. Lũ năm 2000 đạt mức kỷ lục với mực nước Tân Châu 5,06 m, nhưng từ 2010 đến nay không còn xuất hiện lũ lớn (chỉ có 2011 và 2018 đạt mức lũ trung bình).

Hiện tượng này có thể được giải thích bằng lý do hệ thống đập thượng nguồn đã giữ một phần đỉnh lũ, đồng thời cắt mất chu kỳ ngập tự nhiên, vốn là chu kỳ giúp đảm bảo bồi đắp phù sa, rửa mặn nội đồng và tái nạp nước ngầm cho hạ lưu của vùng ĐBSCL. Kết quả là ĐBSCL đang đứng trước hiện tượng nghịch lý: lũ ngày càng ít, nhưng hạn - mặn ngày càng nặng.

Quy mô tích lũy của hệ thống thủy điện thượng nguồn - biến số quan trọng của bài toán nước ngọt về ĐBSCL, được tổng hợp trực quan trên Hình 3, cho thấy hai trục biến đổi không thể đảo ngược. Số lượng hồ chứa và tổng dung tích trữ tăng gần gấp đôi trong các giai đoạn từ 2025 tới 2040 và 2060, kéo theo mức suy giảm dòng chảy mùa kiệt 13 - 36% và mức giữ lại phù sa 67 - 83%.

* Nghiên cứu "Bàn về giải pháp bền vững và hiệu quả cao cho an ninh nguồn nước vùng ĐBSCL" được Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam (MOST) hỗ trợ theo đề tài mã số DTDL.CN-51/23.

Sự suy giảm dòng chảy mùa kiệt không phải là biến động ngắn hạn theo chu kỳ El Niño, mà là sự dịch chuyển có tính cấu trúc của chế độ thủy văn hạ lưu. Lực đẩy nước ngọt từ thượng nguồn xuống vùng cửa sông yếu đi vĩnh viễn, làm tiền đề cho cơ chế xâm nhập mặn ngày càng sâu mà phần sau của bài báo sẽ phân tích.

*

Bài 2. ‘Vòng xoáy suy thoái’ khó đảo ngược 

Một phần đáng kể diện tích ĐBSCL đang trong vùng nguy cơ chìm dưới mực nước biển, mức độ tổn thương vượt xa khả năng thích ứng của các giải pháp mềm hiện hành. 

Tình trạng thiếu nước ngọt ngày càng trầm trọng

Theo quy hoạch lưu vực Mekong, dự kiến đến giai đoạn 2040-2060, tổng số hồ chứa lên tới 231 hồ với tổng dung tích trữ tới 120 tỷ m³. Các nghiên cứu của Ủy ban Sông Mekong, Mekong River Commission và Viện Nghiên cứu nước Hà Lan, Deltares dự báo dòng chảy mùa khô về ĐBSCL có thể giảm tiếp 20 - 40% so với hiện tại, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước ngọt. Hệ thống đập thượng nguồn được vận hành ưu tiên cho phát điện, không phối hợp với nhu cầu hạ du, gây ra biến động dòng chảy bất thường ngay cả trong mùa lũ.

Hơn thế nữa, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề nước biển dâng và sụt lún đất. Theo nghiên cứu Minderhoud và cộng sự vào năm 2019, cao trình trung bình ĐBSCL chỉ là 0,82 m so với mực nước biển, khớp với báo cáo QHTH (2022) ghi ~+0,8 m và thấp hơn rất nhiều so với ước tính trước đây (2,6 m theo SRTM).

Trong khi mực nước biển dâng tuyệt đối khoảng 3-4 mm/năm (theo kịch bản Bộ TN-MT, 2020; đất ĐBSCL đang sụt lún với tốc độ trung bình 1,1 cm/năm và cục bộ 2,5-5,7 cm/năm do khai thác nước ngầm quá mức. Đến 2050, hơn 47% diện tích ĐBSCL có nguy cơ chìm dưới mực nước biển theo kịch bản kết hợp sụt lún kết hợp nước biển dâng của Minderhoud et al. (2019).

Trong kịch bản chỉ tính nước biển dâng 100 cm vào 2100 của Bộ TN-MT (2020), khoảng 39% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị ngập, ảnh hưởng gần 35% dân số và 40,5% sản lượng lúa của vùng. Hai kịch bản tuy khác nhau về phương pháp và mốc thời gian, nhưng cùng chỉ ra một thực tế: một phần đáng kể diện tích ĐBSCL đang trong vùng nguy cơ chìm dưới mực nước biển, mức độ tổn thương vượt xa khả năng thích ứng của các giải pháp mềm hiện hành, và dẫn tới các hậu quả không thể chấp nhận.

Sụt lún hiện đang vượt nước biển dâng từ 3 tới 12 lần, trong khi cao trình trung bình hiện tại chỉ khoảng 0,82 m, điều này có nghĩa là nhiều khu vực có thể chạm cao trình 0 m trước 2050  sớm hơn các kịch bản IPCC trước đây 50-80 năm.

Các đợt hạn mặn xuất hiện theo chu kỳ khoảng 4 năm/lần trong khoảng một thập kỷ qua. Ảnh: Hoàng Vũ.

Các đợt hạn mặn xuất hiện theo chu kỳ khoảng 4 năm/lần trong khoảng một thập kỷ qua. Ảnh: Hoàng Vũ.

Hệ quả trực tiếp đó là phần lớn các giải pháp dựa vào rút lui chiến lược hoặc nâng dần đê biển có thể sẽ không kịp về mặt thời gian. Đây là cơ sở định lượng quan trọng để đặt nhóm giải pháp kiểm soát cửa sông, có lợi thế triển khai nhanh hơn về mặt công trình, và do đó tương thích về mặt thời gian với tốc độ suy giảm cao trình thực tế, vào diện đánh giá ưu tiên.

Nhu cầu nguồn nước ở ĐBSCL

Tổng hợp các nghiên cứu của Viện Khoa học Tài nguyên nước, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam và các báo cáo chuyên ngành, có thể ước lượng nhu cầu nước cho phát triển kinh tế - xã hội của ĐBSCL như sau:

Tổng nhu cầu nước ngọt của ĐBSCL hiện tại khoảng 45,6 - 45,8 tỷ m³/năm và dự kiến tăng lên 52,5 tỷ m³ vào năm 2030, trong đó nuôi trồng thủy sản (khoảng 21 tỷ m³ cho 790 nghìn ha) và nông nghiệp trồng trọt (từ 17 - 18 tỷ m³ cho 4,19 triệu ha lúa + 325 nghìn ha cây ăn trái) chiếm gần 85%. So với tổng dòng chảy bình quân 475 - 488 tỷ m³/năm về ĐBSCL, lượng nước này không phải là vấn đề về tổng lượng (cung vượt cầu 10 lần).

Vấn đề cốt lõi là phân bố thời gian và không gian. Mùa khô tổng dòng chảy chỉ còn khoảng 47 tỷ m³ (khoảng 10% dòng chảy năm), lại bị xâm nhập mặn cắt thành nhiều khúc, làm khối nước ngọt thực sự khả dụng giảm xuống chỉ còn 15 - 25 tỷ m³. Trong khi đó nhu cầu mùa khô ước tính 23 - 28 tỷ m³ (khoảng 50 - 60% tổng nhu cầu năm, do vụ đông xuân và nuôi tôm chính rơi vào mùa khô).

Đó là gốc rễ của tình trạng mất an ninh nguồn nước  thâm hụt 0 - 13 tỷ m³ trong những năm cực đoan, lý giải vì sao vào mùa khô, nhiều vùng đã rơi vào mức căng thẳng thiếu nước theo tiêu chuẩn IWA.

Vấn đề nằm ở việc "giữ lại nước ngọt mùa khô". Đó là cơ sở khoa học để khẳng định công trình kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL, có khả năng tích hợp thành hồ chứa mùa khô là một trong những lời giải đi đúng bản chất vấn đề.

Nguyên nhân gây mất an ninh nguồn nước ở ĐBSCL

Sự suy giảm dòng chảy thượng nguồn dẫn đến lực đẩy nước ngọt yếu đi. Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024), ranh mặn 4‰ trong những đợt cực đoan đã tiến sâu 50 – 66 km vào nội đồng trên các sông Cửa Tiểu, Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên/Cung Hầu, Hậu - vượt xa các công trình thủy lợi nội đồng hiện có.

Lượng mưa giảm mạnh do biến đổi khí hậu, kết hợp với việc phù sa giảm 67 - 83% dẫn tới ba hệ quả: không đủ lưu lượng đẩy mặn ra biển; lòng sông bị xói sâu, mở rộng tiết diện cho triều mặn xâm nhập; bờ biển bị xói lở mạnh, riêng các tỉnh ven biển ĐBSCL trung bình mất 300 - 500 ha đất/năm.

Mặn xâm nhập sâu dẫn đến khối nước ngọt biến thành mặn - lợ. Đây là cơ chế quan trọng gây mất an ninh nguồn nước. Diễn biến ba đợt mặn cực đoan gần đây cho thấy quy luật đáng báo động:

Theo báo cáo của Viện Khoa học Tài nguyên nước (2024), thiệt hại do xâm nhập mặn hiện trạng của ĐBSCL ước tính lên tới 70.168 tỷ đồng/năm, dự báo tăng lên 76.485 tỷ đồng/năm vào 2050. Cộng dồn các thiệt hại trực tiếp, gián tiếp và chi phí cơ hội (di cư, mất việc làm, phục hồi vườn cây ăn trái) trong kịch bản giữ nguyên hiện trạng 50 năm tới có thể vượt 50-80 tỷ USD, tức là gấp từ 5-10 lần chi phí giải pháp can thiệp chiến lược (ước tính dựa trên Stern Review, 2006; IPCC AR6 WGII, 2022).

Từ diễn biến và mức thiệt hại của ba đợt mặn cực đoan gần đây là 2015 - 2026, 2019 - 2020 và 2023 - 2024 cho thấy, chu kỳ ba đợt mặn cực đoan giãn cách trung bình khoảng 4 năm. Điều này chỉ ra rằng hiện tượng xâm nhập mặn sâu đã chuyển từ sự kiện cực hiếm thành sự kiện định kỳ với chu kỳ trung bình 4 năm. Điều này có thể buộc chúng ta phải có chiến lược ứng phó phải tính theo chu kỳ chứ không theo sự cố đơn lẻ.

Một đặc điểm nguy hiểm của khủng hoảng nguồn nước ĐBSCL sẽ tạo ra những "vòng xoáy phản hồi" tiêu cực. Vòng phản hồi thứ nhất: đập thượng nguồn làm giảm phù sa, kéo theo lòng sông xói sâu và bờ biển xói lở, từ đó mặn xâm nhập ngày càng sâu hơn. Vòng phản hồi thứ hai: mặn xâm nhập sâu khiến người dân thiếu nước mặt, buộc phải tăng khoan giếng nước ngầm, đẩy nhanh sụt lún đất. Vòng phản hồi thứ ba: đất sụt lún làm mực nước biển tương đối dâng nhanh hơn, gây ngập úng và mặn ngày càng nặng. Vòng phản hồi thứ tư: hạn mặn liên tục gây thiệt hại cho nông nghiệp, đẩy người dân di cư, làm giảm lực lượng lao động và năng lực huy động nguồn lực ứng phó tại chỗ.

Khi bốn vòng phản hồi này đạt tới một "điểm tới hạn", suy thoái trở nên không thể đảo ngược, dù sau đó có đầu tư bao nhiêu cũng rất khó, thậm chí không thể phục hồi hệ sinh thái và năng lực sản xuất nông nghiệp ban đầu. Các nghiên cứu quốc tế đều cảnh báo ĐBSCL đang tiến gần đến điểm tới hạn này; tổng hợp các dự báo cho thấy dư địa thời gian để hành động hiệu quả còn khoảng 10-15 năm. Bốn vòng phản hồi tự khuếch đại nói trên đặt ra yêu cầu phải có giải pháp can thiệp đồng bộ ở quy mô hệ thống, vấn đề được phân tích ở các mục tiếp theo.

Mức thiệt hại đợt xâm nhập mặn sâu 2023 - 2024 giảm rõ rệt so với 2015 - 2016 và 2019 - 2020 cho thấy năng lực cảnh báo sớm và chủ động chuyển vụ tốt hơn, và đóng góp của cống Cái Lớn - Cái Bé bảo vệ khoảng 384.120 ha. Điều này phù hợp với giả thuyết "hệ thống các công trình kiểm soát nguồn nước đồng bộ ở cửa sông lớn vùng ĐBSCL có khả năng cung cấp bảo vệ không chỉ một tiểu vùng mà toàn bộ vùng cửa sông Cửu Long sẽ có khả năng cung cấp hệ thống giải pháp hiệu quả lớn hơn so với một công trình cục bộ.

*

Bài 3. Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa' 

Tạo hồ chứa nước ngọt bằng công trình kiểm soát nguồn nước tại 7 cửa sông là giải pháp đột phá cho an ninh nguồn nước ĐBSCL trong tương lai. 

Luận bàn về nguyên tắc "thuận thiên"

Hiện nay, chiến lược ứng phó với mất an ninh nguồn nước ở ĐBSCL được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ yếu theo nguyên tắc "thuận thiên".

Cụ thể, nơi có nước ngọt thì trồng lúa và cây ăn trái; nơi có nước mặn thì nuôi trồng thủy sản; vùng chuyển tiếp thì luân canh lúa - tôm. Cách tiếp cận này có ưu điểm tận dụng được lợi thế tự nhiên và đã giúp một số tỉnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất hiệu quả.

Về trữ nước phân tán hộ gia đình, các hộ dân được khuyến khích trữ nước mưa trên mái, hầm dưới nền nhà và ao trong vườn. Nếu được nhân rộng đầy đủ, giải pháp này có thể giải quyết cơ bản nhu cầu nước sinh hoạt và tưới vườn cây.

Tinh thần 'thuận thiên' là đúng đắn về triết lý nhưng không có nghĩa là thụ động.

Tinh thần "thuận thiên" là đúng đắn về triết lý nhưng không có nghĩa là thụ động.

Một vài địa phương đã xây các hồ chứa nước ngọt quy mô hàng trăm ha (như hồ Kênh Lấp 1 triệu m³ ở Vĩnh Long để dự trữ nước chống hạn). Bên cạnh đó, hàng trăm cống ngăn mặn giữ ngọt đã được xây dựng trong những năm qua, đặc biệt là siêu cống Cái Lớn - Cái Bé (Kiên Giang cũ, nay thuộc An Giang) hoàn thành 2022 với tổng vốn hơn 3.300 tỷ đồng, kiểm soát nguồn nước cho 384.120 ha.

Tinh thần "thuận thiên" là đúng đắn về triết lý nhưng không có nghĩa là thụ động. Nguyên Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan đã từng nhấn mạnh: "Thuận thiên không có nghĩa là phó mặc cho tự nhiên mà phải có những giải pháp để thích ứng".

Tuy nhiên, đánh giá khách quan cho thấy giải pháp hiện nay tồn tại nhiều giới hạn căn bản: 

Thứ nhất, trữ nước phân tán hộ gia đình chỉ giải quyết được nước sinh hoạt và tưới vườn cây quy mô nhỏ, chưa thể đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản quy mô lớn (khoảng 38 - 40 tỷ m³/năm) và công nghiệp.

Thứ hai, việc xây dựng hồ chứa nổi hoặc hồ đào sẽ làm mất quỹ đất nông nghiệp vốn rất quý hiếm đối với một quốc gia có mật độ dân cư cao như Việt Nam, mà lượng nước tích được không đáng kể (hồ Kênh Lấp chỉ 1 triệu m³, không đủ cho một xã trong một tháng); chưa kể chính các hồ này cũng bị nhiễm mặn trong đợt 2019 - 2020  bộc lộ rõ giới hạn của giải pháp cục bộ.

Thứ ba, hệ thống cống thủy lợi nội đồng và đặc biệt cống Cái Lớn - Cái Bé đã đóng góp đáng kể vào việc giảm thiệt hại đợt 2023 - 2024 (cần lưu ý rằng đợt này có cường độ El Niño thấp hơn 2015 - 2016 và năng lực cảnh báo sớm tốt hơn). Tuy nhiên, hiệu quả vẫn chỉ là cục bộ trong từng vùng được bảo vệ trực tiếp, không thể giải quyết tận gốc bài toán an ninh nguồn nước cho toàn vùng. Mặn vẫn xâm nhập sâu vào lòng các sông Tiền, Hậu, Hàm Luông, Cổ Chiên/Cung Hầu, biến hàng tỷ m³ nước ngọt thành nước mặn lợ không thể sử dụng.

Biến sông thành kênh - giải pháp đột phá

Từ phân tích các nguyên nhân và giới hạn của giải pháp hiện hành, tác giả bài báo đề xuất một trụ cột cốt lõi cho an ninh nguồn nước ĐBSCL, bổ sung và làm chỗ dựa cho các giải pháp mềm theo Nghị quyết 120 trong những năm cực đoan: Xây dựng hệ thống công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông ra biển (Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên/Cung Hầu, Định An, Trần Đề  trong đó vị trí Cổ Chiên/Cung Hầu bao gồm 2 cửa biển liền kề thuộc cùng nhánh sông Cổ Chiên của sông Tiền, được kiểm soát bằng cụm công trình song song), vận hành phân loại theo chức năng của từng cửa.

Cống Cái Lớn - Cái Bé (Kiên Giang cũ, nay thuộc An Giang) hoàn thành 2022 với tổng vốn hơn 3.300 tỷ đồng, kiểm soát nguồn nước cho 384.120 ha. Ảnh: Trung Chánh.

Cống Cái Lớn - Cái Bé (Kiên Giang cũ, nay thuộc An Giang) hoàn thành 2022 với tổng vốn hơn 3.300 tỷ đồng, kiểm soát nguồn nước cho 384.120 ha. Ảnh: Trung Chánh.

Hệ thống này thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ chiến lược: chống nước dâng do bão biển và nước biển dâng cho toàn vùng tại tất cả các cửa; tăng dung tích trữ nước ngọt khả dụng mùa khô trong hệ thống sông kênh phía trong các cửa; ngọt hóa triệt để các tiểu vùng nông nghiệp trọng điểm phía trong những cửa đảm nhận chức năng kiểm soát mặn chuyên dụng.

Đây là cách tiếp cận khác biệt với mô hình "cống nội đồng" truyền thống, triết lý chuyển từ phòng thủ cục bộ sang chủ động kiểm soát tại cửa sông, đồng thời chuyển từ tư duy "đóng kín ngọt hóa" sang tư duy "phân loại theo chức năng".

Giải pháp này có sáu ưu điểm nổi bật, có tính bù trừ cho nhau và tạo nên hiệu quả tổng hợp: 

Thứ nhất là không mất đất xây dựng hồ chứa. Lòng hồ là chính các sông tự nhiên đã có lịch sử tồn tại - sông Tiền, sông Hậu cùng các nhánh chính và hàng vạn km kênh rạch nội đồng. Ước tính sơ bộ dung tích trữ nước ngọt khả dụng có thể đạt 20 - 30 tỷ m³. Tại Việt Nam, quốc gia có quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, đây là ưu thế đặc biệt quan trọng.

Thứ hai, giải pháp này tiết kiệm chi phí và công sức xây dựng. Không cần đắp đập làm hồ nổi (mất đất, vốn lớn và dung tích thấp), không cần đào sâu để làm hồ chìm như một số địa phương đã làm nhưng cho khối lượng nước không đáng kể. Toàn bộ hệ thống lòng sông tự nhiên được tận dụng làm lòng hồ, chỉ cần đầu tư các công trình kiểm soát tại các cửa ra biển.

TS Trương Hồng Sơn - Giảng viên bộ môn Thủy công - Khoa Công trình, Đại học Thủy lợi Việt Nam. Ảnh: TĐD.

TS Trương Hồng Sơn, Giảng viên bộ môn Thủy côngKhoa Công trình, Đại học Thủy lợi Việt Nam. Ảnh: TĐD.

Thứ ba, ngăn mặn không xâm nhập được vào nội địa. Cơ chế ngăn mặn được thực hiện linh hoạt theo chế độ vận hành của từng cửa. Tại các cửa đảm nhận chức năng kiểm soát mặn chuyên dụng, cửa van đóng trong những giờ triều mặn và mở khi triều xuống, giữ khối nước ngọt thượng nguồn ổn định cho các tiểu vùng phía trong. Tại các cửa có chức năng đa nhiệm, cửa van chỉ đóng trong các đợt xâm nhập mặn cao điểm mùa khô (thường tập trung tháng 3-5). Tại các cửa chuyên dụng phòng thủ nước dâng do bão, cửa van mở >95% thời gian và chỉ đóng khi có bão hoặc triều cường cực đoan, theo nguyên lý "mở - thường, đóng - khi cần". Cách phân loại này giúp cân bằng giữa mục tiêu kiểm soát mặn, duy trì giao thông thủy, và bảo toàn vận chuyển phù sa cùng năng lượng thủy động của hệ thống. Đây cũng là điểm khác biệt căn bản với cống đập Ba Lai, vốn đóng kín và đã gây ra hệ lụy bồi lắng, tù đọng.

Thứ tư, chất lượng nước trong hồ được đảm bảo tốt. Khối nước trong hồ - sông được thường xuyên cấp mới từ thượng nguồn (cả mùa khô vẫn có 5 - 10 tỷ m³ chảy qua mỗi tháng (ước tính từ dòng chảy mùa kiệt khoảng 47 tỷ m³/ 7 tháng). Qua mỗi mùa mưa, toàn bộ khối nước trong hồ được thay mới hoàn toàn nhờ lũ tràn về và được xả ra biển. Cơ chế "lưu thông tự làm sạch" này khắc phục tốt hơn vấn đề ô nhiễm, vốn là điểm yếu của các hồ chứa nhân tạo.

Thứ năm, mùa lũ tự động tháo lũkhông cản trở dòng chảy tự nhiên. Đây là điểm cốt lõi về mặt kỹ thuật: thiết kế CTKSNN theo công nghệ đập trụ đỡ và đập hộp chìm, hay đập tàu thủy cho phép tiết diện thoát qua công trình gần bằng tiết diện lòng sông tự nhiên. Nhờ đó, khi lũ về, các cửa van được mở hoàn toàn, dòng chảy đi qua như chưa từng có công trình. Đây là điểm quyết định để giải pháp này không tạo ra hệ lụy như dự án ngăn sông Ba Lai.

Và thứ sáu là lợi ích đa chức năng và tích hợp. CTKSNN tại các cửa sông, là loại kết cấu thích hợp để làm các cầu hiện đại, của con đường giao thông ven biển, có đủ cao trình, để kết hợp làm nhiệm vụ đê biển ngăn nước biển dâng không gây ngập lụt vào đất liền; đồng thời kết hợp làm các cảng biển nước sâu (như Trần Đề); xa hơn có thể làm trạm điện thủy triều, như trạm Sihwa Hàn Quốc đạt 254 MW. Ngoài ra, kết hợp với phục hồi rừng ngập mặn và bãi triều (theo nguyên lý xây dựng cùng tự nhiên). Tổng giá trị kinh tế gián tiếp do tính chất đa chức năng và tích hợp đưa lại cho quốc gia cũng rất lớn.

T.H.S.

NguồnNông nghiệp & Môi trường

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn