Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn VN trả lời phỏng vấn về Văn học Việt Nam *

Yulya Rozhdestvenskaya thực hiện phỏng vấn

Mình vừa đọc được bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, đăng trên tờ “Za rubezhom” (“Ở nước ngoài”) của LB Nga. Nguồn: https://zarubejom.ru/interviews/golos-vetnama/

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

(Bản dịch của Gemini, có sửa đôi chút).

Trần Hậu

Việt Nam đã trở thành nước đối tác của BRICS vào năm 2025 – và theo lời Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, điều này mở ra cho văn học nước nhà một cánh cửa ra thế giới mà nó đã chờ đợi từ bấy lâu. Nhưng làm thế nào để quảng bá sách của mình ra nước ngoài mà không phải chiều theo thị hiếu của người khác, và tại sao những tác phẩm kinh điển của các thế kỷ trước lại là tiếng nói chân thực nhất về tâm hồn của người Việt Nam hiện đại? Về điều này và nhiều câu chuyện khác, chúng tôi có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Quang Thiều – nhà thơ, dịch giả, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, và là nhà văn Việt Nam đầu tiên được trao tặng Giải thưởng Văn học Quốc tế Changwon KC (Hàn Quốc). 

– Thưa ông Nguyễn Quang Thiều, ông vừa là nhà thơ, nhà văn, dịch giả, họa sĩ, lại vừa là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Trong những vai trò đó, vai trò nào khiến ông cảm thấy mình dễ bị tổn thương nhất, và vai trò nào mang lại cho ông sự tự do lớn nhất?

– Bạn biết đấy, ngôn từ là thứ dễ gây tổn thương nhất. Lịch sử văn học Việt Nam, cũng như nhiều nền văn học khác, có không ít ví dụ về việc các tác giả phải trả giá cho những gì mình viết ra. Các văn bản nghệ thuật luôn mang theo những tư tưởng mới mẻ và có sức ảnh hưởng to lớn đến xã hội, nhưng văn học bản chất lại đa nghĩa, và nó khó tránh khỏi việc bị diễn dịch theo nhiều cách khác nhau – Các nhà chính trị nhìn thấy một đằng, các nhà nghiên cứu học thuật thấy một nẻo, còn những người bảo thủ lại nghĩ theo cách khác. Ở những quốc gia còn thiếu dân chủ và văn minh, chứ chưa nói đến các chế độ độc tài, số phận của văn chương luôn như "ngàn cân treo sợi tóc".

– Ông đảm nhiệm cương vị đứng đầu Hội Nhà văn vào cuối năm 2020 và ngay lập tức đã nhấn mạnh sự cần thiết phải “mở ra một kỷ nguyên mới" cho văn học Việt Nam. Cụ thể, thời gian qua đã có những thay đổi gì trong lĩnh vực hợp tác quốc tế? Ông nhận thấy những khoảng trống lớn nhất nằm ở đâu?

– Kỷ nguyên mới thực chất rất đơn giản: đó là sự trở về với bản chất nguyên sơ của văn học, để nó không bị phụ thuộc vào bất cứ điều gì ngoài văn học, và có thể thực hiện sứ mệnh đích thực của mình. Trong những năm gần đây, chúng tôi đã giới thiệu ra thế giới một số tác phẩm đáng chú ý, mở cánh cửa trang sách đến với độc giả nước ngoài – những cuốn sách mà trước đây hoặc là hoàn toàn không thể bước ra khỏi biên giới, hoặc phải chật vật lắm mới làm được điều đó. Ngày càng có nhiều quốc gia biết đến nền văn học của chúng tôi, dù số lượng sách được dịch và xuất bản vẫn chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ di sản văn hóa mà chúng tôi đang sở hữu. Còn khoảng trống lớn nhất, theo tôi, nằm ở tư duy và cách tiếp cận của những người quản lý văn học nghệ thuật nước nhà. Đó chính là "cánh cửa" vẫn còn nặng nề, luôn được hé mở một cách dè chừng với rất nhiều sự đắn đo, e ngại.

– Vào năm 2018, ông trở thành nhà thơ Việt Nam đầu tiên được trao Giải thưởng Văn học Quốc tế Changwon KC (Hàn Quốc). Sự tiên phong này có ý nghĩa như thế nào đối với ông và nó đặt ra trách nhiệm gì?

– Giải thưởng này cũng như các giải thưởng quốc tế khác nói với tôi rằng, thơ của tôi đã tìm được sự đồng điệu, khơi gợi được lòng trắc ẩn từ các đồng nghiệp và độc giả ở một đất nước có thể chế chính trị và nền văn hóa khác biệt. Nói cách khác, trong sự khác biệt của chúng tôi, họ đã nắm bắt được một điều gì đó tương đồng với chính mình. Điều này một lần nữa khẳng định: Nhà văn có nghĩa vụ phải kiến tạo nên thế giới nghệ thuật và ngôn ngữ của riêng mình, nhưng đồng thời phải chạm đến được những chủ đề phổ quát mang tính nhân loại.

– Khi nhận giải, ông có chia sẻ rằng giải thưởng này đã góp phần giới thiệu văn học Hàn Quốc đến với độc giả Việt Nam. Ông có nghĩ rằng các giải thưởng văn học ngày nay đang là công cụ hiệu quả nhất của ngoại giao văn hóa?

– Đầu năm 2026, tôi có tổ chức một cuộc thi thơ với sự tham gia của nhiều tác giả nước ngoài. Tại lễ trao giải, có những nhà thơ đến từ các quốc gia từng đối đầu, thù địch với nhau. Ấy vậy mà họ đã gặp gỡ, trao đổi tư tưởng và chia sẻ những điều tốt đẹp nhất. Thơ ca, và văn học nói chung, xóa mờ đi những ranh giới của sự hận thù giữa các dân tộc. Sau năm 1975, khi các chính trị gia và nhà ngoại giao Mỹ - Việt vẫn chưa thể tìm được tiếng nói chung, thì chính các nhà văn của hai nước đã trở thành những đại sứ hòa bình đầu tiên. Họ đã mở toang những cánh cửa đóng kín và bắc những cây cầu hữu nghị đầu tiên sau nhiều năm thù địch.

– Ông có hơn 20 giải thưởng văn học cả trong và ngoài nước. Giải thưởng nào mang lại cho ông sự bất ngờ lớn nhất và tại sao?

– Bất ngờ lớn nhất là Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992 dành cho tập thơ "Sự mất ngủ của lửa". Cuốn sách này khác biệt rất lớn so với tất cả những gì được viết trước tôi: trong đó cất lên một giọng điệu độc lập, tôi đã phá vỡ một số quy chuẩn của thơ ca truyền thống và chạm đến những chủ đề vốn trước đây bị coi là cấm kỵ. Thú thật, tôi hoàn toàn không ngờ Hội Nhà văn lại tôn vinh chính tập thơ này.

– Ngược lại, có cuốn sách hay tác phẩm nào mà ông đặc biệt tự hào nhưng lại bị giới phê bình ngó lơ không?

– Đó là trường ca "Lò mổ" xuất bản năm 2026. Cả về đề tài lẫn thủ pháp nghệ thuật, nó hoàn toàn không giống với những tập thơ trước đây của tôi. Tôi coi đây là một tác phẩm rất quan trọng đối với bản thân. Ngay từ trước khi xuất bản, tôi đã hiểu rằng độc giả, thậm chí cả các nhà thơ, sẽ không dễ dàng tiếp nhận nó. Một vài nhà phê bình đã viết bài về tác phẩm này, nhưng khá dè dặt và có lẽ là với không ít sự hoài nghi.

– Việt Nam đã trở thành nước đối tác của BRICS vào năm 2025. Điều này mở ra những cơ hội gì cho các nhà văn Việt Nam?

– Tôi thấy đây là một cơ hội tuyệt vời và cần thiết để văn học của chúng ta bước ra vũ đài thế giới. Văn học Việt Nam sẽ được biết đến tại các nước BRICS, và từ đấy sẽ lan tỏa ra khắp toàn cầu.

– Tại một hội nghị văn học ở TP. Hồ Chí Minh vào tháng 9 năm 2025, ông có nói rằng rào cản lớn nhất đối với văn học chính là bản thân các nhà văn, những người "đã tự tạo ra cho mình một vùng an toàn vô lý". Lần gần nhất ông chủ động bước ra khỏi vùng an toàn đó là khi nào, và đó là trường hợp gì?

– Văn học luôn là sự sáng tạo ra cái mới, là lòng dũng cảm của tác giả để từ bỏ những lối mòn, những phương thức rập khuôn và rũ bỏ nỗi sợ hãi. Cái gọi là "vùng an toàn" ấy giết chết tiềm năng sáng tạo và khát vọng khám phá. Thứ văn học như vậy là thứ văn học "chết yểu từ trong trứng nước". Tôi bước ra khỏi vùng an toàn của mình lần đầu tiên là vào năm 1991 khi công bố "Sự mất ngủ của lửa" – và đã nhận được giải thưởng. Và gần đây nhất là với trường ca "Lò mổ".

– Ông từng nói trí tuệ nhân tạo là một thách thức mà nhà văn phải chuẩn bị tinh thần để đối mặt. Cụ thể, công việc của Hội Nhà văn Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào trước sự xuất hiện của kỷ nguyên công nghệ?

– Chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo và tọa đàm về chủ đề này để cảnh báo các đồng nghiệp trước sự cám dỗ của việc thay thế sáng tạo sống động bằng máy móc. Công nghệ có thể được sử dụng để phát hiện các văn bản do AI tạo ra, nhưng đó không phải là phương thuốc vạn năng. Điều quan trọng nhất là Hội phải khơi dậy được trong các tác giả lòng tự trọng, khát vọng sống và nguồn cảm hứng. Chỉ khi nhà văn có lòng tự tôn, có năng lượng sống và dòng máu sáng tạo, họ mới có thể đẩy AI lùi về phía sau. Chiến đấu với máy móc là vô nghĩa – chúng ta phải dựa vào CON NGƯỜI theo nghĩa cao đẹp nhất của từ này.

– Tại Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông là đại diện duy nhất của giới văn hóa. Ông cảm thấy thế nào khi bước vào một hội trường toàn các nhà chính trị? Đó là cảm giác về sứ mệnh hay sự cô đơn?

– Tôi cảm thấy cả hai điều đó cùng một lúc. Vượt lên trên thời gian và không gian, những người nghệ sĩ chân chính luôn luôn cô đơn. Ngay cả trong lòng các đồng nghiệp, mỗi người sáng tạo đích thực vẫn cảm thấy mình đơn độc. Và chính từ sự cô đơn đó, ý thức về sứ mệnh được sinh ra. Họ không được phép đánh mất mình hay sợ hãi – họ có nghĩa vụ phải tiến về phía trước.

– Ở đó ông có phát biểu: "Văn hóa là con đường, chính trị chỉ là phương tiện giao thông". Nếu văn hóa là con đường, thì theo ông, Việt Nam ngày nay đang đi về hướng nào?

– Ngay từ năm 1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân". Và sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định chọn ngày 24 tháng 11 hằng năm làm Ngày Văn hóa Việt Nam. Chưa bao giờ văn hóa lại có ý nghĩa mang tính sống còn đối với dân tộc chúng tôi như hiện nay. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm đã tặng một ấn phẩm văn học – thơ ca làm quà cho 200 Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV mới. Bằng cử chỉ này, ông muốn gửi gắm một thông điệp văn hóa sâu sắc đến tất cả các nhà lãnh đạo đất nước và những người đứng đầu trong các lĩnh vực khác nhau.

– Ông nỗ lực rất nhiều trong việc quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài. Sai lầm lớn nhất mà các quốc gia thường mắc phải khi cố gắng "xuất khẩu" văn học của mình là gì? Và Việt Nam đã học được gì từ những sai lầm của người khác?

– Theo tôi, sai lầm lớn nhất là giới thiệu những tác phẩm hoặc quá "đặc thù", hoặc những tác phẩm dù vô tình hay hữu ý, dù ở mức độ nhỏ nhất, thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với pháp luật và thể chế chính trị của quốc gia khác. Vì vậy, khi mở cánh cửa sách Việt Nam ra thế giới, chúng tôi lựa chọn cẩn thận những tác phẩm có khả năng tìm được sự đồng điệu sâu sắc trong tâm hồn độc giả thuộc nhiều truyền thống văn hóa và chính trị khác nhau.

– Cuộc đời ông gắn liền với ngôn từ. Có bao giờ ngôn từ trong ông cạn kiệt – và ông làm gì vào những khoảnh khắc như thế?

– Tôi nghĩ sớm muộn gì mỗi tác giả cũng phải trải qua cuộc khủng hoảng như vậy. Lịch sử đã chứng kiến những ví dụ về các bậc tiền bối dứt bỏ cuộc đời khi rơi vào bế tắc của sự bất lực trong sáng tác. Bản thân tôi cũng từng buông bút một thời gian dài, dằn vặt với ý nghĩ rằng các ý tưởng đã cạn kiệt. Nhưng rồi tôi lại đắm mình vào cuộc sống và nhận ra: chính cuộc sống không ngừng sinh ra các cốt truyện, nó chỉ chờ nhà văn đến gần và mở lối cho chúng hiển lộ trước thế giới. Hãy cứ sống, hãy yêu con người, yêu thiên nhiên – và khi đó bạn sẽ nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu, xao xuyến của chúng. Ngay khi hiểu ra điều này, cảm hứng đã quay trở lại với tôi, và tôi lại tiếp tục viết.

– Ba cuốn sách (hoặc tác giả) Việt Nam nào ông muốn đề xuất được dịch trước tiên để thế giới hiểu được tâm hồn của nhân dân ông? Và tại sao lại là những tác phẩm đó?

- Tôi sẽ gọi tên truyện thơ "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du, truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao và tiểu thuyết "Số Đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Những tác phẩm này không chỉ hiện thực hóa sự tinh tế của ngôn ngữ Việt, sự cao quý trong tâm hồn chúng tôi, mà còn mang theo thông điệp sâu sắc về sự tồn tại của toàn nhân loại. Chúng đã ra đời trong đời sống văn học Việt Nam từ lâu, nhưng đến nay vẫn vẹn nguyên sức mạnh khởi thủy và tiếp tục là điểm tựa tinh thần định hình nên diện mạo của nền văn hóa đương đại.

 

(*) Đầu đề do BVN đặt

 

Nguồn: FB Trần Hậu

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn