Tăng trưởng bằng mọi giá hay phát triển bền vững?

Tô Văn Trường

Đích đến cuối cùng phải là chất lượng cuộc sống của người dân.

Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số mà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đặt ra không chỉ thể hiện khát vọng đưa Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới, mà còn phản ánh quyết tâm thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để vươn lên trở thành quốc gia phát triển. Đây là mục tiêu hoàn toàn chính đáng, bởi nếu chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình như hiện nay, khoảng cách giữa Việt Nam với các nền kinh tế phát triển sẽ rất khó được thu hẹp.

Tuy nhiên, lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, tăng trưởng nhanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xây dựng trên nền tảng của năng suất, hiệu quả và chất lượng thể chế. Một nền kinh tế không thể mạnh lên chỉ nhờ những con số GDP ấn tượng, mà phải được đo bằng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, năng suất lao động, thu nhập thực của người dân và khả năng chống chịu trước những biến động của kinh tế thế giới.

Chính vì vậy, câu hỏi quan trọng nhất hiện nay không còn là Việt Nam có đạt được tăng trưởng hai con số hay không, mà là sẽ đạt được mục tiêu ấy bằng động lực nào.

Mô hình tăng trưởng hiện nay đang bộc lộ những giới hạn ngày càng rõ nét

Sau gần bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Quy mô nền kinh tế tăng nhiều lần, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể và vị thế quốc gia ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, đằng sau những thành tựu đó là một mô hình tăng trưởng đang dần bộc lộ những giới hạn mang tính cấu trúc.
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa trên ba động lực:

Thứ nhất là khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nơi tạo ra khoảng 70 - 80% kim ngạch xuất khẩu. 

Thứ hai là mở rộng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng, trong đó dòng vốn lớn chảy vào bất động sản và xây dựng. Tỷ lệ nợ của khu vực doanh nghiệp phi tài chính đã lên tới mức khoảng 135% GDP, mức khá cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro theo đánh giá của các tổ chức tài chính quốc tế. 

Thứ ba là dựa vào đầu tư công với quy mô ngày càng lớn. Việc nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng cho nhu cầu vốn trung và dài hạn đang tạo ra sức ép lớn; buộc Ngân hàng Nhà nước nhiều năm qua phải nỗ lực siết chặt quản trị rủi ro, kiên định lộ trình giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn xuống mức 30% nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.

Những động lực này từng phát huy hiệu quả trong giai đoạn nền kinh tế còn ở trình độ phát triển thấp. Song khi Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới, chính các động lực ấy lại bộc lộ những hạn chế đáng suy ngẫm.

Khu vực FDI đóng góp lớn vào xuất khẩu nhưng tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp của chuỗi sản xuất toàn cầu. Trong khi đó, lợi nhuận của khu vực FDI ngày càng lớn và một phần đáng kể được chuyển ra nước ngoài, khiến giá trị thực giữ lại cho nền kinh tế chưa tương xứng với quy mô tăng trưởng xuất khẩu.

Ở khu vực trong nước, tăng trưởng tín dụng nhiều năm liên tục cao hơn tốc độ tăng GDP. Dòng vốn chảy mạnh vào bất động sản đã góp phần tạo nên những con số tăng trưởng đẹp trong ngắn hạn, nhưng cũng làm gia tăng áp lực nợ, tạo ra những rủi ro đối với hệ thống tài chính nếu hiệu quả đầu tư không được cải thiện.

GDP tăng nhanh không đồng nghĩa với nền kinh tế khỏe mạnh

GDP luôn là chỉ tiêu quan trọng phản ánh quy mô nền kinh tế, nhưng không phải là thước đo duy nhất của sự phát triển. Một nền kinh tế chỉ thực sự khỏe mạnh khi tăng trưởng được chuyển hóa thành năng suất lao động cao hơn, thu nhập của người dân được cải thiện, doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn.

Nếu GDP tăng nhưng tiền lương thực tế tăng chậm, chi phí sinh hoạt và giá nhà liên tục leo thang, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận vốn, chi phí logistics còn cao và năng suất lao động cải thiện chậm, thì những con số tăng trưởng ấy chưa phản ánh đầy đủ sức khỏe của nền kinh tế.

Chính vì vậy, điều Việt Nam cần hướng tới không phải là những con số đẹp trên báo cáo thống kê, mà là một nền kinh tế tạo ra giá trị thực và nâng cao phúc lợi của người dân.

ICOR cao là lời cảnh báo về hiệu quả sử dụng nguồn lực. Một trong những chỉ số phản ánh rõ nhất chất lượng tăng trưởng là hệ số ICOR, tức lượng vốn cần bỏ ra để tạo thêm một đơn vị tăng trưởng GDP.

Hình ảnh minh hoạ về hệ số ICOR

Trong nhiều năm gần đây, ICOR của Việt Nam thường xuyên duy trì ở mức 6 - 7, cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Điều đó cho thấy nền kinh tế phải sử dụng lượng vốn ngày càng lớn để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng.

Đây không đơn thuần là câu chuyện về thiếu vốn mà là vấn đề hiệu quả sử dụng vốn. Khi mỗi điểm phần trăm tăng trưởng đều phải đánh đổi bằng lượng đầu tư ngày càng lớn, áp lực tất yếu sẽ chuyển sang ngân sách nhà nước, hệ thống ngân hàng và khu vực doanh nghiệp. Nếu xu hướng này kéo dài, tăng trưởng sẽ ngày càng đắt đỏ, trong khi dư địa tài khóa và tiền tệ ngày càng thu hẹp.

Đầu tư công chỉ có ý nghĩa khi tạo ra năng suất mới cho nền kinh tế

Đầu tư công luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển hạ tầng và dẫn dắt nền kinh tế. Tuy nhiên, giá trị của đầu tư công không nằm ở quy mô vốn được giải ngân mà nằm ở khả năng tạo ra năng lực sản xuất mới, giảm chi phí logistics, mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng suất lao động.

Những dự án quy mô lớn như sân bay Long Thành, hệ thống cao tốc hay các trung tâm dữ liệu chỉ thực sự thành công khi được kết nối đồng bộ với mạng lưới giao thông, logistics và các trung tâm kinh tế. Nếu thiếu sự đồng bộ đó, nhiều công trình có nguy cơ chỉ đóng góp vào GDP trong giai đoạn xây dựng nhưng không tạo ra hiệu quả kinh tế tương xứng trong quá trình khai thác.

Một đồng vốn đầu tư công chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đó mới là tiêu chuẩn cần được đặt lên hàng đầu trong mọi quyết định đầu tư.

Không có quốc gia nào tăng trưởng bền vững chỉ bằng tín dụng và lao động giá rẻ.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc đều cho thấy tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư và lao động giá rẻ chỉ là giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Ngay trong nước, sự chuyển mình của các địa phương như Bình Dương – từ vị thế thủ phủ gia công thâm dụng lao động nay đang nỗ lực xây dựng hệ sinh thái công nghiệp xanh và thông minh là minh chứng rõ nét cho xu hướng tất yếu này. 

Khi nền kinh tế đạt đến một quy mô nhất định, động lực tăng trưởng buộc phải chuyển sang năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.

Việt Nam cũng đang đứng trước bước ngoặt ấy. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng, khai thác lợi thế lao động giá rẻ và đầu tư theo chiều rộng, nền kinh tế sẽ khó tránh khỏi nguy cơ tăng trưởng chậm lại khi các nguồn lực truyền thống dần cạn kiệt.

Muốn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững, Việt Nam cần những bước đi mang tính đột phá và thực dụng hơn. Không thể chỉ thu hút FDI bằng mọi giá, mà cần có chính sách ràng buộc để khối này chuyển giao công nghệ, đưa doanh nghiệp nội tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng thời, cần có công cụ vĩ mô quyết liệt để nắn dòng vốn tín dụng ra khỏi các kênh đầu cơ, hướng dòng tiền vào sản xuất thực, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Đích đến cuối cùng phải là chất lượng cuộc sống của người dân

Suy cho cùng, mọi chỉ tiêu kinh tế đều chỉ là phương tiện chứ không phải mục tiêu cuối cùng. Điều người dân cảm nhận mỗi ngày không phải là tốc độ tăng GDP, mà là việc làm có ổn định, cải thiện hay không, con em có cơ hội học tập tốt hơn, dịch vụ y tế có thuận tiện, và niềm tin vào tương lai có được củng cố hay không. 

Một nền kinh tế chỉ thực sự thành công khi mỗi điểm phần trăm tăng trưởng được chuyển hóa thành những doanh nghiệp mạnh hơn, những công trình hiệu quả hơn, những đồng lương cao hơn và một chất lượng sống tốt hơn cho đại đa số người dân.

Khát vọng tăng trưởng hai con số vì thế không nên được hiểu là chạy theo những con số bằng mọi giá. Điều quan trọng hơn là xây dựng một mô hình phát triển mới, trong đó hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng suất lao động và chất lượng thể chế trở thành nền tảng của tăng trưởng.

Đó không chỉ là yêu cầu trước mắt để duy trì đà phát triển, mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển trong những thập niên tới. Một quốc gia không trở nên giàu mạnh vì GDP tăng nhanh, mà vì nền kinh tế tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đồng vốn, doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn và người dân được thụ hưởng thành quả phát triển một cách ngày càng đầy đủ và bền vững.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn