“Lật sử” thế nào?

Nguyễn Quang A

Trong bài Cần “lật sử” trước đây tôi đã chỉ nhắc đến nhu cầu thường xuyên lật lại, viết lại chuyện kể lịch sử do có phát hiện mới về sử liệu, có công nghệ mới, có ý tưởng mới về diễn giải lịch sử, còn trong trường hợp bản thân chuyện kể lịch sử “bị xuyên tạc,” có định kiến hay “được tạo ra với động cơ chính trị (tức là không phải chuyện kể lịch sử đúng nghĩa mà là tài liệu tuyên truyền) thì nhu cầu “lật sử” còn cấp bách hơn nhiều.

Nhưng ở Việt Nam sau vụ đấu tố tác giả và những người liên quan đến Chuyện với Thanh và đến nay (14/8/2026) bà Bộ trưởng Văn hóa Lâm Thị Phương Thanh đề xuất “3 Lớp kiểm soát” sách về lịch sử cách mạng, lãnh tụ (chồng bà và bà không biết có được coi là lãnh tụ hay không, họ là lãnh đạo cấp cao thì chắc chắn) thì việc lật sử hiện đại ở Việt Nam là vô vọng trừ khi ông Tô Lâm nghe theo GS. Trần Quốc Vượng [1] người đã đề cập tầm quan trọng của sự “lật sử” này trong cuộc trả lời phỏng vấn của BBC năm 2003. 

Hy vọng một số bạn GenZ đặt hoa tại “cây công lý” số 55 Nguyễn Huy Tự Hà Nội trở thành những nhà lịch sử chuyên nghiệp có thể làm việc “lật sử” liên quan này. Chúng ta sẽ không bàn đến chuyện lật sử tại Việt Nam ở đây vì chưa có công trình lật sử đáng kể nào ở Việt Nam kể cả của ông Trần Quốc Vượng.

Thôi hãy xem Frank Dikötter “lật sử” ĐCSTQ [2] ra sao. Bạn đọc nên đọc toàn bộ cuốn sách ngắn của Dikötter về cách ông lật sử toàn bộ lịch sử được tô vẽ, được coi là thiêng liêng của ĐCSTQ được không chỉ nhân dân Trung Hoa đại lục mà phn lớn thế giới (kể cả phương Tây) tin là lịch sử thật. Dưới đây ta chỉ bàn về bối cảnh và hai chi tiết nhỏ trong việc Dikötter “lật sử” ĐCSTQ. 

Đầu tiên hãy nói về bối cảnh Trung Quốc cuối Thế kỷ 19 đầu Thế kỷ 20 – Từ Hi Thái Hậu, người cai trị thật sự của Nhà Thanh đã là nhà cải cách vĩ đại mở cửa Trung quốc, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa Trung quốc trong hơn một thế kỷ qua [3] với các chính sách giải phóng phụ nữ, cải cách giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng và quan trọng nhất  kế hoạch biến Trung Quốc thành một nền quân chủ lập hiến. Sau khi bà mất 1908, triều đình nhà Thanh sụp đổ với cách mạng Tân Hợi (1911) rồi sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc do Tôn Dật Tiên làm tổng thống lâm thời và ông cũng lập ra Quốc Dân Đảng năm 1912 (có tiền thân từ Hưng Trung Hội 1894 - 1905 và Trung Quốc Đồng Minh Hội 1905 - 1912) chủ trương dùng bạo lực để thống nhất Trung Quốc trong thời kỳ quân phiệt cát cứ 1912  1927, và đã thống nhất và cai trị Trung Hoa đại lục từ 1927 - 1949 với sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch. 

Cộng sản là khái niệm xa lạ ở Trung quốc thời đó, nó được nhập khẩu vào Trung Quốc đầu thế kỷ 20 và ngoài vài người theo như Lý Đại Chiêu và Trần Độc Tú thì vai trò của Tôn Trung Sơn, Trần Quỳnh Minh để đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Trung Quốc là rất đáng kể [2, tr. 16-19). Lenin đã cử Henk Sneevliet, biệt danh Maring (Mã Lâm), một nhà hoạt động công đoàn người Hà Lan đầy kinh nghiệm tại Indonesia sang Trung Quốc và cùng với Vladimir Nikolsky, đại diện của Ban Thư ký Viễn Đông thuộc Quốc tế Cộng sản tổ chức (kể cả cho chi phí) đại hội thành lập  ĐCSTQ ngày 23/7/1921 (với 12 đại biểu đại diện cho 53 đảng viên cộng sản trên toàn Trung Quốc).

Có thể nói ĐCSTQ là một lực lượng bé nhỏ, không có mấy ảnh hưởng ở Trung Quốc trước 1940, và thực sự ít ai biết về Mao và ĐCSTQ trước cuốn sách Ngôi Sao Đỏ trên Trung Quốc của Edgar Snow được ấn hành năm 1937 tại Mỹ  và sau đó ảnh hưởng đến nhận thức sai của nhiều người kể cả các học “giả” và chính trị gia trên thế giới  [4].

Frank Dikötter, sử gia chuyên nghiệp thành thạo cả tiếng Nga lẫn tiếng Hoa đã dựa vào khoảng 300 tập (mỗi tập 300 - 500 trang) tài liệu lưu trữ nội bộ của chính ĐCSTQ, tài liệu lưu trữ của Quốc tế Cộng sản, của ĐCSLX, của Mỹ, Anh, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc, v.v. đ kiểm tra chéo nhằm tìm ra những sự hợp lý trong đống tư liệu khổng lồ đôi khi mâu thuẫn nhau đó để lật sử ĐCSTQ từ 1921 đến 1949, và cho chúng ta một bức tranh chân thực hơn về lịch sử của ĐCSTQ (bản tiếng Việt chỉ gồm 202 trang cộng thêm 48 trang ghi chú nguồn và 14 trang thư mục). Bạn đọc nên bỏ chút thời gian đọc cuốn sách ngắn rất bổ ích này. 

Dưới đây chỉ nêu hai (2) sự kiện làm ví dụ:

1. Cuộc chiến cầu Lô Định

Cuộc Trường chinh từng được ca ngợi hết lời (đến nỗi ông Đặng Xuân Khu Tổng bí thư ĐCS Đông Dương lấy bút danh là Trường Chinh từ cuối 1942), theo Dikötter là một cuộc tháo chạy của một lực lượng quân rách rưới, nhếch nhác, vô kỷ luật với tổn thất khổng lồ. Một chi tiết nhỏ là vượt cầu Lô Định  (Luding) ngày 29/5/1935 được coi là một chiến công lừng lẫy của Hồng Quân và ngày nay các hãng du lịch vẫn giới thiệu chiếc cầu xích cổ nhất Trung quốc này gắn với chiến công lừng lẫy của Hồng Quân với lời thơ ca ngợi của Mao [5].

 

Cuộc chiến cầu Lô Định trở thành một phần lịch sử thiêng liêng của ĐCSTQ. Tìm hiểu các tư liệu thời đó và những cuộc phỏng vấn các nhân chứng còn sống ngay quanh cầu cho thấy hóa ra đã chẳng có trận đánh nào cả với quân Quốc Dân Đảng (QDĐ) trên cầu Lô Định khi đó  [2 tr. 113-114], [5]. Lịch sử thiêng liêng đơn giản được bịa ra vì mục đích tuyên truyền hoặc do cấp dưới báo cáo láo và một khi được ca ngợi ngất trời thì không có đường lùi để nói thật.

2. Cuộc bao vây Trường Xuân

Sau khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc, với sự đầu hàng của Nhật, Hồng quân Liên Xô đã chiếm toàn bộ Mãn Châu rồi sau đó trao các cơ sở chính cho Hồng quân Trung quốc, và việc quân Cộng sản Trung quốc chiếm toàn bộ Mãn Châu cũng như Mỹ không ủng hộ QDĐ đã dẫn đến sự thất bại của Tưởng Giới Thạch và thắng lợi của ĐCSTQ năm 1949. Theo Dikötter, sự kiện thứ hai là cuộc bao vây Trường Xuân [2 tr 192-196], mà ĐCSTQ ít nói đến, có tính quyết định. 

Ngày 30/5/1948 Lâm Bưu ra lệnh khiến thành phố phải đầu hàng vì đói: “Biến Trường Xuân thành một thành phố của cái chết”. Cuộc vây hãm kéo dài 150 ngày, với ít nhất 160.000 dân thường chết vì đói và bệnh tật trong thời gian bị phong tỏa khiến quân QDĐ phải đầu hàng. 

Hai quả bom nguyên tử ném xuống Nhật đã gây ra 160.000 cái chết trong vòng nửa phút khi bom phát nổ (90.000 tại Hirosima và 70.000 người tại Nagasaki), bằng số dân thường chết trong vụ “bom bao vây” 150 ngày của Lâm Bưu. 

Bạo lực (kể cả bạo lực ngôn từ, đấu tố), tuyên truyền (kể cả tẩy não) và đấu tranh giai cấp (nên luôn tìm ra kẻ thù để đánh; nếu chẳng có kẻ thù nào thì phải liên tục tạo ra kẻ thù,…) là những gen cơ bản của chế độ cộng sản. Tại Liên Xô nó đã gây ra hàng chục triệu nạn nhân trong đó có hàng triệu người chết do thanh trừng hay chết đói khi không có chiến tranh, và cũng thế ở Trung Quốc với hàng chục triệu người chết do thanh trừng và đói dưới thời Mao và hàng trăm triệu nạn nhân.  Trong một phỏng vấn giới thiệu cuốn Bình minh Đỏ trên đất Trung Hoa, Dikötter nhấn mạnh Liên Xô có vai trò quyết định [6, phút 51:21] đối với ĐCSTQ suốt giai đoạn 1921-1949. Cộng sản là cộng sản và những gen cộng sản (mà ở trên chúng ta chỉ bàn đến 3 gen) vẫn thế ngay cả sau khi Liên Xô đã tan rã. Đó là những bài học có thể rút ra từ những sách của Dikötter  “lật sử” ĐCSTQ [8].

---

Ghi chú:

[1] BBC phỏng vấn Gs Trần Quốc Vượng https://youtu.be/8SZFsyWyJy0?is=wxsYGD89UCB39Ym-

[2] Frank Dikötter,  Bình minh đỏ trên Trung Quốc

[3] Trương Nhung (Jung Chang), Từ Hi Thái Hậu

[4] Edgar Snow, Red Star Over China, là cuốn sách quảng cáo cho Mao làm cho các độc giả phương Tây hiểu sai hoàn toàn về Mao và ĐCSTQ từ đó đến nay. Cuốn của  Frank Dikötter, Red Dawn Over China, có tiêu đề có vẻ nhại tiêu đề của Edgar Snow (thay Star bằng Dawn). Tác giả của cuốn trước, Edgar Snow, sau trở thành bạn của bà góa của Tôn Trung Sơn là Tống Khánh Linh [7 tr. 77] đã được bà sắp đặt để viết sách quảng cáo cho Mao và được Mao chấp nhận và kiểm soát kỹ bản thảo [7. tr. 132] để viết tiểu sử của ông; “Mao đã trình bày cho nhà báo Mỹ này một phiên bản huyền thoại về cuộc đời mình, kể về tuổi thơ, thời trẻ và sự nghiệp cách mạng của ông. Ông đã kiểm tra và chỉnh sửa từng từ mà Snow viết” [2 tr. 143]. Nhờ các bài báo và nhất là cuốn sách của Edgar Snow Mao trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Tuy nhiên xem xét lại tư liệu từ trên 300 tập sách (mỗi tập 300 đến 500 trang) của chính ĐCSTQ cùng các tài liệu lưu trữ của Quốc tế Cộng sản, Liên Xô và Anh, Mỹ, Pháp và Quốc Dân Đảng (tại Đài Bắc),… Frank Dikötter đã lật sử ĐCSTQ. Cho đến trước 1940, ĐCSTQ là một lực lượng nhỏ bé được Liên Xô dựng lên và tài trợ, hoạt động theo chỉ thị của Stalin – dùng tuyên truyền, bạo lực để tiến hành các chính sách độc ác không được lòng dân. Ví dụ bảng sau về số dân trên 1 đảng viên cộng sản trong vài nước khác nhau để thấy tỷ lệ đại diện của ĐCSTQ là không đáng kể:

ĐCSTQ (trước 1940) theo báo cáo bị thổi phồng của QTCS

Mỹ (1939): ĐCSM có 66 ngàn đảng viên, dân số 132 triệu

Bồ Đào Nha (1934 dưới chế độ độc tài Salazar)

Pháp (1939)

Nga (1939)

1700*

2002

280*

148

57

Có thể thấy tỷ lệ đảng viên ĐCS ở Trung quốc cỡ tương đương với ở Mỹ, kém xa Bồ Đào Nha dưới chế độ độc tài Salazar cấm ĐCS hoạt động và đàn áp mạnh mẽ, tất nhiên kém xa Pháp và Liên Xô thời đó. Tác giả tổng hợp từ số đảng viên cộng sản ở các nước đó lúc đó và dân số của các nước tương ứng đó năm 1939, lấy từ https://worldpopulationreview.com/country-rankings/population-by-country-in-1939?utm_source=openai.

* Con số này của Trung quốc và Bồ Đào Nha là từ  Dikötter (tr. 2), theo ông 1700 dân có 1 đảng viên ĐCSTQ được Quốc tế cộng sản vống lên. Số đảng viên do ĐCSTQ sau này công bố thì cao hơn rất nhiều (gấp trên 10 lần), còn Dikötter dựa vào báo cáo lưu trữ nội bộ của ĐCSTQ được công bố thì tại Cam Túc nơi có 6,7 triệu dân chỉ có 264 đảng viên tức là 25.000 dân mới có 1 đảng viên cộng sản ([2] tr.2). Nếu lấy con số đảng viên mà ĐCSTQ thừa nhận năm 1937 là 40.000 và dân số Trung quốc lúc đó khoảng 260 triệu ta có con số cho năm 1937 là: 1 đảng viên trên 6.500 dân (gấp con số 1.700 gần 4 lần và cao hơn Mỹ 1939 gấp 3 lần) Có thể suy ra từ các dữ liệu trên rằng số những người theo cộng sản trước 1940 ở Trung Quốc thậm chí còn kém cả ở Mỹ - một nước chống cộng dẫn đầu thế giới. 

[5]  “Việc vượt cầu Luding vào ngày 29 tháng 5 năm 1935 chắc hẳn là một trong những trận chiến nổi tiếng nhất trong cuộc cách mạng Trung Quốc. Hàng loạt phim tuyên truyền đã được sản xuất, miêu tả một tiểu đội binh sĩ dũng cảm bò qua nhịp cầu dài 100 mét làm bằng xích sắt, nơi tất cả các tấm ván gỗ đã bị gỡ bỏ, treo lơ lửng nguy hiểm trên dòng nước chảy xiết phía dưới, ngay cả khi súng của địch xả đạn vào họ. Họ tiến lên từng chút một, với nhiều binh sĩ bị trúng đạn và ngã xuống tử vong, cho đến khi đối phương hoảng loạn và cố đốt cháy những tấm ván còn lại. Kẻ thù bỏ chạy trong sợ hãi trong khi những người lính kiên quyết đứng dậy và chạy qua ngọn lửa trong vài mét cuối cùng, quần áo và lông mày của họ bị lửa thiêu xém” [2 tr 113].

Trong bài thơ Trường Chinh của Mao (do Xuân Thủy dịch):

Hồng quân đâu ngại gian nan,

Đường xa vạn thuỷ thiên sơn đi cùng.

Leo theo Ngũ Lĩnh trập trùng,

Trèo lên đỉnh núi Ô Mông dốc nhoài.

Kim Sa vượt sóng lưng trời,

Cầu treo Đại Độ sắt mài buốt chân.

Qua ngàn dặm tuyết non Mân,

Mặt như hoa nở ba quân reo cười.

 Hai câu in nghiêng Mao ca ngợi Hồng quân vượt cầu Lô Định qua sông Đại Độ. 

[6] Lawfare Daily: Frank Dikötter on the Early Years of Chinese Communism: “Không có Lenin và Stalin không có Mao” (phút 51:21) https://www.youtube.com/watch?v=SmkLIvpeo9k (để ý đến phút 51:36 có nhắc đến Hồ Chí Minh);

[7] Trương Nhung (Jung Chang), Chị Cả, Em Út, Chị Đỏ

[8] Ngoài cuốn Bình minh Đỏ trên đất Trung Hoa (2026), Frank Dikötter còn có bộ ba sách (the People’s Trilogy): Nạn đói vĩ đại của Mao (2010) về thời kỳ Đại nhảy vọt 1958-1962; Thảm kịch của sự giải phóng(2016) về thời kỳ đầu của nền cộng hòa nhân dân 1945-1957; và Cách mạng Văn hóa (2016) về thời kỳ 1962-1976. Về thời kỳ vươn mình thành siêu cường hậu Mao thì có cuốn Trung quốc sau Mao (2022).

Xem cả clip: https://www.youtube.com/watch?v=8v9bf-fRlj8

N.Q.A.

Tác giả gửi BVN

 

 

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn