13/10/2010

Đôi điều suy nghĩ về các nguyên tắc lập pháp

Hà Văn Thịnh

image

 

ể từ khi chế độ phong kiến lần lượt sụp đổ trên toàn thế giới, các nền dân chủ xuất hiện cùng với những bản Hiến pháp đầu tiên, loài người vẫn đã và đang tiếp tục tìm kiếm một mô hình nhà nước có thể coi là lý tưởng nhất, tùy thuộc vào các yếu tố văn hóa truyền thống, đặc thù dân tộc (đa dân tộc, đa tôn giáo…), thể chế chính trị mà người dân lựa chọn, “trình độ” thẩm thấu các ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với chính trị, điều kiện phát triển kinh tế cũng như cơ cấu tương thích giữa kiến trúc hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nói như thế để thấy việc xây dựng một bản Hiến pháp có chất lượng là điều không hề dễ dàng. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm lịch sử của loài người, có thể rút ra được những nguyên tắc lập pháp quan trọng nhất, mà thiếu nó, thì không thể tạo nên được một cơ cấu chính trị hiệu quả, thực sự dân chủ theo đúng nghĩa của dân, do dân và vì dân.

 

Bài viết này nhằm đóng góp một vài suy nghĩ nhỏ từ việc “tổng kết”, khái quát các kinh nghiệm lập pháp của nhiều nhà nước dân chủ trên thế giới chứ không phải là mô hình từ bất kỳ một nước cụ thể nào.

1. Một bản Hiến pháp bền vững là bản Hiến pháp có thể chịu đựng được tất cả mọi thử thách của khoảng thời gian có thể lượng định được. Chẳng hạn, Hiến pháp Hoa Kỳ được làm ra (và thông qua) từ những năm 1787-1789; thế nhưng, cho đến nay nó vẫn tồn tại. Tại sao?

Có hai điều làm nên thành công gần như là rất khó tưởng tượng trên:

i/ 55 nhà lập pháp (đa số là trẻ tuổi) đã tìm kiếm, thảo luận về những điều không thể đổi thay của nhu cầu của con người trong bất kể thời đại nào. Đó là quyền sở hữu (cá nhân hay sở hữu công), quyền tự do, quyền có cơ hội ngang nhau trong việc kiếm tìm hạnh phúc, quyền được tôn thờ Chúa theo cách riêng, quan niệm riêng của mỗi người (có thể được lựa chọn Jésus hay Buddha, hay vô thần…), quyền được bày tỏ ý kiến không trái với quy định của luật pháp, quyền bất khả xâm phạm của gia cư khi không vi phạm pháp luật, quyền được lựa chọn chính phủ tốt nhất, người cầm quyền xứng đáng nhất (và cả quyền thay đổi - bãi nhiệm chính phủ ấy), quyền được làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm…

ii/ Các nhà lập pháp của một đất nước vừa thoát ra khỏi thời kỳ thuộc địa (nước thuộc địa đầu tiên tự giải phóng trong thời đại tư bản chủ nghĩa) đã tiên liệu rằng muốn cho Hiến pháp trường tồn thì phải “dự liệu đủ những thay đổi mà các thời đại sẽ tạo ra” – tức là Hiến pháp sẽ được “tự động” bổ sung bằng các Tu chính án. Cho đến nay, nước Mỹ chỉ bổ sung 27 Tu chính án. Chẳng hạn Tu chính án 22, năm 1951, quy định Tổng thống Mỹ không được tại nhiệm quá hai nhiệm kỳ, vì kinh nghiệm cho thấy trong hai nhiệm kỳ đầu, Tổng thống F. Roosevelt sáng tạo rất nhiều, còn gần hai nhiệm kỳ sau chỉ lặp lại mà không có gì mới.

Hai nguyên tắc trên đây trong vấn đề lập pháp là kinh nghiệm quý báu của nhiều nước trên thế giới. Vấn đề là có chịu học hỏi hay không, có chấp nhận giải pháp về sự bền vững của bản Hiến pháp (đã được thời gian kiểm chứng) hay không.

2. Chính quyền – trong bất kỳ thời đại nào, bất kỳ chế độ nào, cũng luôn mang theo nó những khiếm khuyết. Rất nhiều khiếm khuyết (cũng như sai lầm là thuộc tính của con người) đồng hành với công cuộc hành pháp của mỗi thành viên thi hành luật pháp. Vì thế, phải có những thiết chế để kiểm soát sự lộng quyền, lạm quyền. Nói một cách khác, ba cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp càng “tách rời” nhau xa bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu. Một cơ quan luôn bị hai cơ quan độc lập giám sát là nguyên tắc đầu tiên của sự minh bạch, trong sạch. Cơ chế trên còn có một ưu điểm rõ ràng phản ánh chính xác năng lực (những hạn chế về sức khỏe, tư duy) xét theo bất kỳ góc độ nào; đó là, sự hữu hạn của con người bình thường không cho phép họ cùng lúc đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau. Nếu không nhìn thấy thuộc tính tự nhiên này thì đó là sự phi lý của nhận thức, sự phản khoa học của hành động.

Mặt khác, quảng đại quần chúng là thờ ơ với chính trị, thiếu trách nhiệm về chính trị. Do đó, nếu đặt vào tay cái đại đa số đó “quyền” lựa chọn những người đứng đầu nhà nước hay quốc hội thì sẽ dễ đưa đến những kết quả xa thực tế. Cách thức “ai trúng cử cũng được, bỏ phiếu cho xong để về” là một trong những quan niệm phổ biến và cũng là một trong những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự tồn tại của một chính quyền thiếu vững mạnh.

Không có gì tha hóa con người nhanh và nhiều như quyền lực. Quyền lực phải được kiểm soát thường xuyên thì xu hướng lạm dụng quyền lực mới giảm bớt. Muốn thế, tinh thần thượng tôn luật pháp phải được bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Chẳng hạn, các bộ luật càng chi tiết và cụ thể bao nhiêu, khung của chế tài – hình phạt càng hẹp bao nhiêu, sự trừng phạt của luật pháp càng nghiêm khắc bao nhiêu thì, sai phạm và sự tư lợi, tham nhũng càng giảm bấy nhiêu. Nếu cùng một tội danh mà cách nhau đến 5-7 năm tù, thậm chí 10 năm thì cái sự “chạy án” không xảy ra mới là điều kỳ lạ.

3. Người dân phải được tôn trọng, phải được quyền quyết định thực sự. Nếu cả xã hội cứ nhẩn nha với sự dối trá – coi nó là chuyện vặt, cái bình thường đau đớn thì tất nhiên, sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức là lẽ đương nhiên. Làm sao có thể duy trì được sự lành mạnh khi “đụng đâu sai đấy”? Nếu trao cho người dân có quyền lực trên nền tảng dân chủ theo đúng tinh thần của luật pháp thì không thể có chuyện những kẻ dốt nát, bất tài, tham lam ngang nhiên chễm chệ trên cái ghế bê tông của quyền lực. Một xã hội dân chủ là xã hội không sợ khi hỏi ý kiến người dân, nhất là, đối với các vấn đề hệ trọng, cần phải trưng cầu dân ý. Tự do là được quyền nói ra những ý kiến suy nghĩ của mình. Còn dân chủ, nếu cụ thể hóa, có nghĩa là người cầm quyền phải biết lắng nghe, không sợ phản biện, không sợ những ý kiến trái chiều. Nếu Hiến pháp trao cho (thực ra chính nhân dân mới là người “cho” chính quyền quyền lực) mọi công dân quyền được “sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật” theo nghĩa đúng nhất của từ này thì chắc chắn tham nhũng sẽ giảm bớt, niềm tin sẽ trở lại. Nền dân chủ nào cũng cần được hướng dẫn. Nhưng không phải vì thế mà lạm dụng nó để cho cái tư duy khuôn phép, mệnh lệnh từ hồi chiến tranh cứ tồn tại dài lâu. Không ai có quyền đứng trên luật pháp, bất kể người đó có cương vị như thế nào. Có làm được như thế thì nhà nước mới được lòng dân còn ngược lại là mất dân. Mất dân là mất tất cả.

Công cuộc cải tổ trình tự lập pháp, cải tổ cơ chế của ta là cả một quá trình lâu dài. Hầu như ai cũng biết rõ điều đó. Thế nhưng, có những điều không thể chờ đợi cho đến lúc tận cùng mới thay đổi, mổ xẻ - giống như một căn bệnh hiểm nghèo. Phát triển luôn đồng nghĩa với những đổi thay cần thiết. Nếu cứ đổ lỗi cho cơ chế mãi hoài thì bao giờ mới thay đổi được? Chính phủ tốt nhất là chính phủ cai trị ít nhất. Muốn có chính phủ tốt thì sự cồng kềnh, quan liêu, phiền hà của một bộ máy là cản trở lớn nhất. Lẽ tất nhiên, kinh nghiệm lịch sử của các nước khác không thể bê nguyên xi, nhưng cũng rất tất nhiên rằng những cơ chế luật pháp – nhà nước đã tồn tại và phát triển bình thường, ổn định qua hàng trăm năm luôn có cái lý của chúng.

H.V. T.

Huế, 10.10.2010

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN