07/03/2012

Sửa Hiến pháp – trí thức phải lên tiếng

Lê Anh Hùng

Thời gian gần đây, khi đất nước chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng về cả chính trị, kinh tế và xã hội, khi tình hình trong khu vực và trên thế giới đang biến chuyển nhanh chóng và khó lường, người ta lại bàn luận nhiều về trí thức cũng như vai trò của trí thức trong xã hội.

Các thế hệ trí thức hiện đại ở Việt Nam là những người kế tục các bậc tiền bối của mình – tầng lớp nho sĩ trong xã hội phong kiến. Bất kể “nho sĩ quan lại” (thiểu số nho sĩ đỗ đạt và được bổ làm quan) hay “nho sĩ bình dân”[1] (đa số nho sĩ không đỗ đạt qua các kỳ thi cùng những người đỗ đạt nhưng không ra làm quan hoặc làm quan chiếu lệ một thời gian rồi về), nhìn chung các nhà nho Việt Nam vẫn luôn mang trong mình những truyền thống quý báu như “ưu thời mẫn thế” và “yêu nước thương nòi”.

Trong xã hội phong kiến, giới nho sĩ được nhân dân ngưỡng vọng, vua chúa trọng thị, và là tầng lớp có địa vị cao nhất trong xã hội (sĩ - nông - công - thương); không phải ai khác mà chính họ mới là “nguyên khí quốc gia”. Họ đã góp phần quyết định để giáo hoá dân chúng, dựng nên nền văn hiến cho dân tộc và dẫn dắt xã hội Việt Nam phát triển qua hàng ngàn năm. Giữa thế kỷ 19, chính các nho sĩ đã chung tay phục hưng một Hà Nội mà “ba chục năm đầu thế kỷ hỗn loạn, suy đồi là thế, nhưng đến khoảng giữa thế kỷ, tức mới chỉ hai chục năm sau, một ký giả báo Le Courrier de Saigon đã có thể nhận xét: ‘Mặc dù nó không còn là nơi vua chúa ở nữa, tôi vẫn cho rằng đó là thành phố đứng đầu vương quốc về nghệ thuật, kỹ nghệ, thương nghiệp, sự giầu có, số dân đông đúc, sự lịch duyệt và học vấn’”. Đầu thế kỷ 20, trước vận mệnh nguy nan của đất nước nô lệ và lạc hậu, nghĩ đến cảnh khổ nhục của người dân mất nước, đến nhiệm vụ cấp bách cứu nước và duy tân, chính họ đã phát động phong trào Duy Tân, đề cao dân trí, dân khí, dân sinh, dân quyền và dân chủ.

Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới cũng vậy. Trí thức là thành phần tinh hoa của nhân loại, là động lực chính dẫn dắt quá trình phát triển của xã hội loài người. Nhà kinh tế học người Mỹ gốc Áo Ludwig von Mises (1881-1973) từng viết trong tác phẩm kinh điển Socialism (Chủ nghĩa xã hội [1922]) của mình:

“Quả thực, đa số nhân loại không đủ khả năng theo kịp những luồng tư tưởng khó, và không một trường lớp nào có thể giúp cho những người không thể nắm bắt được những định đề giản đơn nhất lại hiểu được những định đề phức tạp. Tuy nhiên, chỉ vì quần chúng nhân dân không thể suy nghĩ được cho bản thân nên họ mới đi theo sự dẫn dắt của những người mà chúng ta gọi là có học thức. Một khi thuyết phục được họ thì cuộc chơi coi như đã được định đoạt.”[2]

“Các nhà xã hội chủ nghĩa đầu tiên là những trí thức; chính họ, chứ không phải quần chúng nhân dân, mới là xương sống của chủ nghĩa xã hội.”[3]

Trong tác phẩm lừng danh và đầy ảnh hưởng của mình, Atlas Shrugged (Khi thần Atlas[4] nhún vai), xuất bản năm 1957, triết gia và tác gia người Mỹ Ayn Rand (1905-1982) đã nêu bật vai trò của trí tuệ trong đời sống và xã hội. Bà lập luận rằng, tư duy độc lập, cùng tính sáng tạo và phát minh bắt nguồn từ đấy, chính là động lực phát triển của thế giới. Qua tác phẩm này, bà cho thấy điều gì sẽ xẩy ra nếu “những con người của trí tuệ” lãn công: động cơ của thế giới sẽ ngừng hoạt động và nền văn minh sẽ tan rã.

Năm 1945, nhiều nhân sĩ, trí thức Việt Nam đã tập hợp xung quanh lá cờ của Mặt trận Việt Minh và góp phần to lớn để đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (trong số này có phần lớn số nhân sĩ, trí thức tên tuổi từng tham gia nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim với những thành tựu đáng kể trước đó). Bản Hiến pháp 1946 của Việt Nam chính là do một nhóm trí thức ưu tú của dân tộc soạn nên vào thời điểm nước sôi lửa bỏng ấy.

Tuy nhiên, đấy dường như lại là “dấu son” cuối cùng ghi nhận đóng góp quyết định của giới trí thức Việt Nam vào sự phát triển của đất nước. Ngay sau khi Bộ Chính trị ĐCSVN, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thâu tóm mọi quyền lực vào trong tay mình, họ không còn cố tỏ ra “khách khí” như trước nữa, các quyền con người cơ bản như quyền tự do tư tưởng hay tự do ngôn luận bị bóp nghẹt, và giới trí thức gần như chìm nghỉm trong mớ nghị quyết cùng quyết sách độc đoán mà ban lãnh đạo Đảng ban hành trên mọi mặt ngoại giao - nội trị của nước nhà, đến mức mà một trí thức tên tuổi gần đây đã phải thừa nhận: "Với đúng định nghĩa về trí thức mà tôi hiểu thì thực sự [tầng lớp trí thức] chưa hình thành ở Việt Nam từ sau năm 1954 và sau năm 1975 cho tới bây giờ… Khả năng độc lập tư duy, khả năng dám bảo vệ chính kiến của mình, khả năng dự báo và tạo ra dư luận lành mạnh trong xã hội chưa có nhiều. Và tôi nghĩ đấy là điều đáng thất vọng." 'Điều đáng thất vọng' ấy chính là lời giải thích tại sao cho đến nay Việt Nam vẫn nằm trong nhóm thiểu số những nước có trình độ phát triển thấp kém nhất trên thế giới.

Dù bị đè nén và trấn áp ngặt nghèo, song tiếng nói của những trí thức chân chính và khảng khái vẫn không hoàn toàn bị dập tắt, điển hình là những Lê Đạt, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, hay Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Chí Thiện, v.v. Thiết tưởng, do thiếu cơ hội để phát biểu như luật sư Nguyễn Mạnh Tường chứ các hậu bối của giới nho sĩ ngày xưa chắc chắn không thiếu gì những người có đủ trí tuệ và khí phách để sẵn sàng cất lên tiếng nói của lương tri, của lý trí trước thực trạng nhức nhối của đất nước.

Thế cuộc xoay vần, và điều gì phải đến ắt sẽ đến. Sự ấu trĩ đến mức rồ dại của các nhà lãnh đạo Đảng CSVN một thời đã đưa đất nước sa vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng kéo dài từ cuối những năm 1970 cho đến hết thập niên 1980. Đảng CSVN buộc phải tiến hành cái gọi là “đổi mới” và nới lỏng sự kiểm soát đối với xã hội. Điều này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của một loạt trí thức “bất đồng chính kiến”, những người nhận ra cơ hội và dám cất lên tiếng nói đòi tự do - dân chủ cho nhân dân và đất nước, như Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, Nguyễn Thanh Giang, Vũ Thư Hiên, Phạm Hồng Sơn, Lê Công Định, v.v.

Sau cuộc “đổi mới” lần đầu tiên năm 1986, đời sống kinh tế nước nhà dần dần khởi sắc và đã đạt được một số thành quả nhất định. Tuy nhiên, do hệ thống chính trị vẫn cố khư khư đội cái “vòng kim cô” Marx-Lenin trên đầu nên cái giá phải trả cho những “thành tựu” đó là rất đắt, đặc biệt là về xã hội (quốc nạn tham nhũng tràn lan, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, pháp luật bị lũng đoạn, tội phạm nhan nhản, v.v.) và môi trường (rừng bị tàn phá hàng ngày, sông ngòi ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, v.v.), trong khi vẫn không bắt kịp đà phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới. Thực trạng đó khiến cho việc sửa đổi bản Hiến pháp hiện hành trở nên hết sức cấp thiết, trước sự níu kéo với đủ mọi lý do của các nhà lãnh đạo Đảng suốt bao năm qua.

Hiện nay, sửa đổi Hiến pháp 1992 là chủ đề đang được rất nhiều người quan tâm, với vô số bài viết trên các trang báo trong và ngoài nước, cùng nhiều cuộc hội thảo do các cơ quan hữu trách tổ chức, từ đó đã xuất hiện nhiều tiếng nói mạnh mẽ về yêu cầu bức thiết đối với một cuộc “đổi mới” lần thứ 2. Ngay trong Ban Biên tập của Uỷ ban Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 cũng tồn tại một (trong hai) quan điểm chủ đạo là sửa cơ bản, toàn diện để ban hành một bản hiến pháp mới (Hiến pháp 2013). Với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và Internet nói riêng, đây chính là cơ hội để giới trí thức Việt Nam bày tỏ chính kiến của mình trước một sự kiện vô cùng hệ trọng của đất nước. Thế hệ hậu sinh của luật sư Nguyễn Mạnh Tường ngày nay có lợi thế hơn hẳn bậc tiền bối của mình là tiếng nói của họ sẽ được truyền bá nhanh chóng và rộng khắp nhờ sức mạnh của kỷ nguyên Internet. Điều mà dường như chúng ta còn thiếu ở đây là quyết tâm và sự đồng lòng của hàng triệu người có học thức trong xã hội Việt Nam hiện nay, với hàng ngàn trí thức tầm cỡ khu vực và thế giới, cùng hàng trăm ngàn trí thức Việt Kiều ở hải ngoại; tất cả họ đều may mắn được dòng giống tổ tiên và hồn thiêng sông núi phú cho một năng lực trí tuệ hơn người, và dĩ nhiên, nhân dân cũng có quyền đòi hỏi họ phải thể hiện trách nhiệm lớn lao của mình trước non sông đất nước. Một khi số người lên tiếng lên tới hàng ngàn, hàng vạn người thì những người cầm quyền không thể cứ tiếp tục nhắm mắt làm ngơ, và những người có tư tưởng cấp tiến trong bộ máy quyền lực cũng cảm nhận được sự hậu thuẫn to lớn của nhân dân để mạnh dạn thúc đẩy cải cách thể chế.

Vụ việc ở Tiên Lãng chưa hoàn toàn lắng xuống nhưng dường như nó đã đọng lại trong chúng ta nhiều điều đáng suy ngẫm. Khi mà những người nông dân như anh Vươn phải dùng tiếng súng hoa cải để “phản biện” lại những chính sách và luật lệ tréo ngoe của Nhà nước, trên nền móng của bản Hiếp pháp lỗi thời và rối rắm hiện hành, những người có học ở nước Nam này hẳn phải tự vấn lương tâm về trách nhiệm xã hội của mình. Khi mà vụ việc ở Tiên Lãng cho thấy sự tha hoá của cả hệ thống chính trị ở Hải Phòng, sự bất lực của cả bộ máy quản lý ở Trung ương, sự im lặng đáng sợ của những người có trách nhiệm trước dư luận sục sôi và kỳ vọng của dân chúng, chúng ta càng thêm thấm thía lời của cố luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một quan chức cao cấp trong bộ máy quyền lực nhưng vẫn giữ được phẩm cách cao quý của một nhà trí thức chân chính: “Đừng có ảo tưởng rằng những người quan liêu, bảo thủ sẽ tự giác trao cho nhân dân quyền dân chủ…” Hay nói như TS Hồ Bá Thâm, nguyên Trưởng ban Triết học và Chính trị, Viện Nghiên cứu Phát triển Tp HCM, khi bàn về tư tưởng của cố Chủ tịch QH Nguyễn Hữu Thọ trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp 1992, qua một cuộc phỏng vấn gần đây: “Cần bỏ tâm lý thụ động chờ đợi sự mở rộng hay ban ơn dân chủ từ trên.” Lịch sử dường như lại một lần nữa trao cho lớp con cháu của các bậc tiền bối “ưu thời mẫn thế” và “yêu nước thương nòi” năm xưa một cơ hội lớn lao kèm theo một sứ mệnh vô cùng cao cả và trọng đại.

Tác giả bài viết thiển nghĩ và mạo muội đề xuất một ý tưởng là các bậc trí thức đức cao vọng trọng, đại diện cho tầng lớp tinh hoa của dân tộc, sẽ khởi xướng một hình thức nào đó, chẳng hạn như một trang web riêng để bàn luận và thu thập ý kiến của nhân dân về việc sửa đổi Hiến pháp 1992 hay chí ít là một bức thỉnh nguyện thư[5] phổ biến rộng khắp, để những người tâm huyết nhưng thấp cổ bé họng có cơ hội bày tỏ chính kiến và nguyện vọng của mình trước một sự kiện trọng đại của đất nước. Rõ ràng, đây vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của tất cả những ai mang trong mình dòng máu con Lạc cháu Hồng, không phân biệt già trẻ, trai gái, giai cấp, tín ngưỡng, quốc tịch hay trình độ học vấn. Vì vậy, nhà chức trách sẽ không thể viện bất cứ lý do gì để gây khó dễ cho những người tham gia cả. Trí thức Việt Nam, “to be or not to be” chính là lúc này đây!./.

L. A. H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

[1] Chữ của nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện.

[2] Ludwig von Mises, Socialism, NXB Liberty Classics, Indianapolis, 1981, trang 13.

[3] Ludwig von Mises, Socialism NXB Liberty Classics, Indianapolis, 1981, trang 461.

[4] Vị thần bị thần Zues trừng phạt, phải đỡ thiên đường trên đôi vai của mình.

[5] Đề đạt những yêu cầu về một bản Hiến pháp xứng tầm dân tộc và thời đại: đảm bảo sự cân bằng và chế ước giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp; đảm bảo các quyền tự do - dân chủ của nhân dân; đảm bảo nguyên tắc quyền lập hiến thuộc về nhân dân thông qua hình thức phúc quyết Hiến pháp; nếu Đảng CSVN muốn độc tôn lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì quyền lãnh đạo đó phải được nhân dân trực tiếp giao phó thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, và ngay cả khi được nhân dân chuẩn thuận thì quyền lãnh đạo đó cũng phải được thể chế hoá thành luật và chịu sự giám sát của một quốc hội dân chủ, một bộ máy tư pháp độc lập, phi đảng phái và một nền báo chí tự do nhằm tránh cho nó khỏi bị tha hoá hay trở nên độc đoán; v.v.