25/07/2012

Đi với Mỹ hay Trung Quốc: Vì sao Việt Nam không thể trung lập trong lúc này?

Nguyễn Khoa Thái Anh

Đất nước đã trải qua nhiều biến cố khẩn trương, chưa bao giờ trong lịch sử có đến 3 triệu người rời bỏ quê hương tìm lẽ sống ở nước ngoài. Đã đến lúc người Việt hải ngoại hay người dân trong nước đều có quyền bày tỏ nỗi quan ngại và ưu tư về đất nước. Đã đến lúc nhà nước Việt Nam phải biết nghe tiếng kêu la của con dân từ trong đến bên ngoài.

Nguyễn Khoa Thái Anh

Từ khi miền Nam thất thủ, đã có nhiều nghi vấn – nhất là của một số nhân vật có máu mặt trong nước – về sự trung kiên của Hoa Kỳ như một đồng minh chiến lược, bảo vệ quyền tự quyết và nền dân chủ phôi thai của các dân tộc yêu chuộng tự do đang bị các lực lượng vũ trang và ngoại bang đe dọa thôn tính (1). Người ta nhắc nhở chuyện Mỹ bỏ rơi miền Nam như bằng chứng của sự phản bội. Họ lên án Mỹ đã bán đứng miền Nam sau khi Nixon bắt tay với Mao Trạch Đông (1972), mở ra một kỷ nguyên mới giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa lục địa. Người ta cũng lặp lại một cách thiếu sót phương châm của Kissinger: "Hoa Kỳ không có bạn hoặc kẻ thù lâu dài, mà chỉ biết đến quyền lợi của mình". (2)

Người ta cũng có thể dẫn nhiều sự kiện khác trong lịch sử để chứng minh tính phản phúc và sự thiếu trung trinh của Hoa Kỳ (và Liên Hiệp Quốc): 1) Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cho phe Cộng sản Mao Trạch Đông (1949); bỏ rơi Batista cho Cộng sản Fidel Castro (1959) và thêm một lần nữa bỏ rơi tàn quân kháng chiến Cuba ở Vịnh Con Heo sau khi cuộc đổ bộ của họ bị bại lộ (Cuba, 1961), chưa nói khi thế giới tự do làm ngơ trước hai cuộc cách mạng hụt hẫng của Hungary (1956) và Czechoslovakia (1968) sau khi Nga Xô xâm chiếm Đông Âu.

Nhưng tất cả những quy trách trên – tuy không xa rời với dữ kiện lịch sử – đều vô nghĩa lý. Và xét trên cương diện địa chính trị, vị thế của Hoa Kỳ và sử quan thế giới trong bối cảnh của từng thời đại (Chiến Tranh Lạnh, hậu Việt Nam, Cộng sản Nga Xô tan rã, Đông Âu biến loạn (Sarajevo), Trung Quốc trỗi dậy, Al-Qaeda, Iraq, hậu Iraq, Muà Xuân Ả rập, v.v.), những cáo buộc đó không có chỗ đứng. Th nhìn lại hai cuộc Thế chiến (1914-1918; 1941-1945), cuộc chiến ở Hàn Quốc (1950-1953), Việt Nam (1963-1973) và nếu con số tử vong của Hoa Kỳ (630,632 người chưa kể thương binh, tổn thất vật chất hay tài chánh) trong các cuộc chiến đó:

Thế chiến I = 117.465

Thế chiến II = 418.500

Hàn Quốc = 36.516

Việt Nam = 58.282

không nói lên sự cam kết của Hoa Kỳ cho an ninh thế giới thì chí ít cũng cho thấy sự hy sinh về nhân mạng của binh lính vì những lý tưởng bảo vệ tự do, quyền tự quyết, v.v. mà chính phủ Mỹ đã nêu lên và nhân danh (vì vậy, chúng ta cũng đừng quên Sarajevo (Bosnia) hay Mogadishu (Somalia), hay nhắc đến Iraq hay Afghanistan).

Hoa Kỳ dù giữ một vị trí siêu cường, cũng không thể tạo dựng sức mạnh hay chủ quyền cho bất cứ một quốc gia nào, mà trái lại khi một nước nhược tiểu càng ỷ lại vào Hoa Kỳ để mưu cầu độc lập, tìm tinh thần tự quyết cho mình thì lại càng yếu kém. Nhất là khi quốc gia đó không biết thu phục lòng dân, gầy dựng riêng cho đất nước và dân tộc mình một thực lực. Hoa Kỳ không phải là một đấng Thượng Đế anh minh, lúc nào cũng đúng, cũng phải, họ không phải là một thế lực vô biên, toàn năng, hay tuyệt hảo, có thể giải đáp mọi nan đề của thế giới một cách công minh và tuyệt đối, không phải bất cứ những quyết định tham chiến hay không tham chiến của họ đều hữu lý hay thiết thực. Cũng nên nhớ, Hoa Kỳ cũng không là một chế độ độc tài, cai trị lâu năm dưới sự lãnh đạo chuyên chính của một nhóm thiểu số độc đảng, để chính quyền Hoa Kỳ có thể giải quyết sự khác biệt nội bộ bằng cách chia chác quyền lợi, đi đến việc đồng tâm nhất trí thi hành những chuyện mờ ám, hay muốn làm gì thì làm.

Hệ thống quyền lực của Hoa Kỳ không nằm trong tay một tổng thống, một đảng chính trị, trái lại hệ thống tam quyền phân lập đòi hỏi sự chế tài, kiểm soát và đối trọng lẫn nhau giữa các cơ quan hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Quyền hành và trách nhiệm được hiến pháp Hoa Kỳ phân chia rõ rệt giữa các định chế pháp trị. Quyền hành đi đôi với trọng trách. Ngoài ông Franklin D. Roosevelt cai trị được 12 năm, các tổng thống khác chỉ có thể đắc cử hai nhiệm kỳ, tối đa là tám năm. Ngay cả vị tổng thống đầu tiên, George Washington được toàn dân tín nhiệm nhưng ông chỉ chấp nhận nhậm chức hai nhiệm kỳ.

Ở Mỹ, mỗi nhiệm kỳ tổng thống lại có có một chủ trương mới, một chủ thuyết đối ngoại mới cho hợp với lòng dân đã bầu mình lên, hoặc giả đề cao đặc điểm hay ưu thế của vị tổng thống đó (Taft Dollar Diplomacy, The Truman Doctrine, Nixon China Doctrine (Rapprochement: Xích lại gần nhau), Reaganomics, Obama Care, v.v.) do đó không phải lúc nào chính sách đối nội hay đối ngoại đều trước sau như một. Hoa Kỳ do là một nước tư bản, một nhược điểm của chế độ này là quyền lực của nhóm tài phiệt có thể thao túng chính trường Hoa Kỳ nếu không bị cơ quan công quyền chế tài, báo chí hay truyền thông phanh phui, ngăn chận.

Trong những năm nguy kịch của nền Đệ nhị Cộng hoà ('73), Nixon sau khi thành công với chuyện rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và ép buộc tổng thống Thiệu ký Hiệp định Paris, và để trấn an ông Thiệu, Nixon đã viết một lá thư riêng hứa sẽ can thiệp, không hiểu Nixon có thành thực với những điều mình viết trong lá thư hay không, nhưng một biến cố trọng đại trong đời tổng thống của Nixon là vụ Watergate, ông đã bị Watergate lôi xuống, buộc phải từ chức. (3)

Và đây chính là lỗi lầm của ông Thiệu khi lên truyền hình quốc gia cầm lá thư của Nixon cam kết sẽ trả đũa nếu miền Bắc vi phạm hiệp định Paris, mếu máo khóc. Đến năm '75 thì tình thế, cục diện chiến tranh miền Nam đã muộn. Thật ra, miền Nam phải nhận được tín hiệu từ năm 1968, sau vụ Tết Mậu Thân, khi báo chí và truyền thông Mỹ đã gán cho cuộc chiến Việt Nam là vô vọng, bất luận Mặt trận Giải phóng Miền Nam hầu như đã hoàn toàn bị tiêu diệt sau cuộc tổng công kết đó.

Ông Thiệu quên rằng trong thể chế lưỡng đảng năm đó phe Bồ câu của đảng Dân chủ đã thắng thế lên ngôi, muốn cắt đứt mọi viện trợ quân sự cho miền Nam. Một điều nhục nhã cho miền Nam đã được thể hiện qua lời tuyên bố của ông Thiệu trên truyền hình Việt Nam: Nếu Hoa Kỳ viện trợ cho miền Nam 700 triệu (Mỹ kim) thì mình (miền Nam) đánh theo 700 triệu, nếu viện trợ cho 300 triệu thì mình đánh theo 300 triệu! Ông Thiệu lại trơ trẽn cầm vận mệnh của miền Nam ra tháu cáy Mỹ, ra lệnh triệt thoái toàn bộ miền Trung, tạo thế hỗn quan hỗn quân, bỏ ngõ Vùng I Chiến Thuật cho quân đội miền Bắc tiến vào. Nếu tôi không lầm thì trong cuốn Đại thắng mùa Xuân của đại tướng Văn Tiến Dũng của Bắc Việt có thổ lộ là phe Bắc Việt tiến vào miền Trung như đi vào chỗ không người, không có một sự đề kháng nào.

Ở đây xin không mạn bàn thêm về những cái may của miền Bắc và cái rủi (xui xẻo) của miền Nam trong quá khứ, xin nhường cho lịch sử những phán xét quang minh hơn. Ở đây tôi chỉ nêu lên cái nan đề của lãnh đạo của hai thời Quốc-Cộng, hy vọng Cộng sản Việt Nam ngày nay có đủ sáng suốt có thể sớm tìm ra giải pháp cho đất nước: Giữ Đảng hay giữ nước? Đáp số cho sự bế tắc của Trung ương Đảng Cộng sản không phải là chọn Mỹ thay cho Trung Quốc.

Đáp số cho ngõ cụt Việt Nam: Chọn hướng đi nào để lãnh đạo Việt Nam phát huy được sức mạnh dân tộc? Nếu không có hậu thuẫn của toàn dân, không sử dụng được sức mạnh dân tộc, thì sớm muộn cơ nay sinh tồn của Việt Nam sẽ không còn, và liệu khi đó có một (bạo) cường quốc nào có thể giúp giữ vững được vai trò cai trị của lãnh tụ Việt Nam không? Hoa Kỳ đã không giúp được cho ông Thiệu yếu kém. Liệu Trung Quốc có giúp được cho lãnh đạo Việt Nam ngày nay?

Là một người sống ở Mỹ lâu năm, dạy lịch sử và những giá trị dân chủ của thể chế Hoa Kỳ, tôi có thể khẳng định một điều: Hoa Kỳ lập quốc trên những lý tưởng dân chủ, bình đẳng, tự do và tôn trọng quyền làm người, do đó tôi tin rằng sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với các chính quyền có tính dân chủ tự lập, biết đảm trách và gánh nhận vai trò cai trị anh minh, tốt lành của một quốc gia là một điều thiết thực (good governance, một điều mà Mỹ hay đề cao với các quốc gia như Việt Nam). Do đó khi được lòng dân, có hậu thuẫn của các đối tác trong vùng, thì chuyện có được đồng minh bảo vệ sẽ là chuyện tự khắc. Hoa Kỳ hay 'đồng minh' tốt nào rất sợ phải ủng hộ đến cùng một đối tác chiến lược yếu hèn, tham nhũng, bóc lột dân như ông tổng thống Marcos ở Philippines, hoặc những đối tác chiến lược, nhưng lại thích đi hàng hai như Việt Nam hiện nay.

Nhân đây tôi xin nhắc lại một phát biểu gần đây của ông Nguyễn Bá Hùng, Tổng Lãnh sự Hà Nội tại San Francisco, nói rằng Hoa Kỳ [ông Newt Ginrich] không nhìn nhận Việt Nam như một đối tác chiến lược. Nếu điều ông Hùng nói là có thật (tức là ông Newt Ginrich có nhận định như thế) thì có lẽ đấy chỉ là một nửa sự thật. Nghĩa là bất kể sự khác biệt và nguyên lý đối nghịch giữa Cộng sản và Tư bản, Hoa Kỳ vẫn có thể đi với Việt Nam, NẾU Việt Nam có những sửa đổi, cải thiện về đường lối cai trị, biết tôn trọng nhân quyền của các con dân lương tâm của mình và thôi đàn áp, bắt bớ họ. Và – nhất là – xin nhắc lại một lần nữa: NẾU Việt Nam thôi đu dây về phía Trung Quốc.

Xin đơn cử một vài thí dụ điển hình: Vịnh Cam Ranh đã được Mỹ xây cất, trang bị như một cảng với ưu thế quân sự quan trọng vào tầm vóc nhất nhì thế giới trong cuộc chiến Quốc-Cộng (từ 1965-1972). Đến thập niên 90, Mỹ đã bắt đầu thương lượng với Việt Nam về hải cảng này, thương lượng không thành, trong khi đó nhà cầm quyền Việt Nam đã sang nhượng đầu rừng, khai thác bô-xít trên Tăy Nguyên, chuyển nhượng lãnh hải Việt Nam cho Trung Quốc, để cho những lực lượng trá hình của Trung Quốc ở những vị trí trọng yếu trong lãnh thổ Việt Nam. Một điều trớ trêu đến độ sỉ nhục cho Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta (ngày 3 tháng Sáu, 2012) ở cảng Cam Ranh, trên tàu Hải quân Hoa Kỳ Richard E. Byrd, là trong khi giữa những cờ xí tung bay chào đón một chính khách vào hàng cao cấp nhất của chính phủ Hoa Kỳ, thì cách đó chỉ vài trăm mét các anh khách trú Trung Hoa ngồi chễm chệ trên các “bè nuôi cá”!

Chẳng thế mà một tuần sau đó, trên mạng tuần báo Time, phóng viên Kirk Spitzer cùng với lập luận củng cố của giáo sư Donal E. Weatherbee (University of South Carolina) đã cho biết Mỹ đã bỏ qua chuyện tranh chấp trên Biển Đông, chỉ đòi hỏi Tàu chuyện thông thương tự do trên Thái Bình Dương, để mặc cho Trung Quốc - Việt Nam và các nước liên đới giải quyết với vấn đề chủ quyền với nhau không can dự vào.

Đây là một cách bày tỏ thái độ không chính thức của Mỹ, đánh tiếng cho nhà nước Việt Nam biết sự bất mãn của Hoa Kỳ về chuyện hệ lụy Trung Quốc của Việt Nam. Sau đó lại thêm một kết quả tiêu cực khi kết cục của hội nghị ASEAN kỳ thứ 11 ở Phnom Penh vào trung tuần tháng Bảy vừa rồi đã không mang lại một đồng thuận khả quan nào về Biển Đông, cho thấy việc không đoàn kết của các nước Đông Nam Á và thiếu chủ lực của Việt Nam.

Cho nên, cùng với sự nhận định của các quan sát viên hiểu biết trên thế giới về ASEAN – và nhất là Việt Nam – tôi có thể đi đến kết luận rằng Việt Nam trong tình thế yếu kém hiện tại, không thể nào là thế lực lãnh đạo của các nước ASEAN, do đó không thể nào đi theo chính sách trung lập một cách quang minh và chính đại.

Tự dưng không phải Thái Lan, Lào và Camuchia lại bị Trung Quốc mua chuộc mà chính lý do Việt Nam lâu nay nằm trong quỹ đạo cương tỏa của Trung Quốc đã khiến cho các nước Lào, Campuchia đặt lại nghi vấn chuyện đi đêm của họ với Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Cho đến khi được các nước trong vùng tin tưởng hay kính trọng vào sự tự chủ và sức mạnh nội tại và thực tiễn của Việt Nam đối với con dân của mình thì chuyện trung lập của Việt Nam là một ván bài tự sát. Niềm hy vọng nhà nước Việt Nam sẽ chọn được một đồng minh tốt về kinh tế, một đối tác chiến lược lâu dài sẽ trở thành hiện thực khi những yêu cầu trên được giải quyết.

Đương nhiên mấy ngàn năm lịch sử với Bắc triều đã là một bài học đắt giá, do đó sức mạnh của lòng dân vẫn là một đối trọng tiên quyết so với bất cứ một ma lực nào, sau đó mới đến sự hợp tác của một cường quốc anh minh, mong muốn nó sẽ mang lại một ích lợi tương tác của đôi bên – không riêng gì với Hoa Kỳ mà với bất kỳ một thế lực Âu châu nào.

N. K. T. A.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

__________________________

(1) "It must be the policy of the United States to support free peoples who are resisting attempted subjugation by armed minorities or by outside pressures." – lời của Tổng thống Truman trong bài diễn văn trước Quốc hội Hoa Kỳ (12 tháng Ba, 1947) xin viện trợ 400 triệu Mỹ kim để trợ giúp Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ chống lại sự đe doạ Cộng sản. Sau này được gọi là Truman Doctrine, đặc trưng cho những nỗ lực của Hoa Kỳ chống lại làn sóng đỏ trong Chiến Tranh Lạnh.

(2) "America has no permanent friends or enemies, only interests."

(3) Ngày 17 tháng Sáu, 1972, năm người bị bắt quả tang đột nhập vào tòa nhà Watergate ở Washington D.C. (định ăn trộm tài liệu của Đảng Dân Chủ) là người được quỹ tài chánh yểm trợ tái cử tổng thống Nixon trả tiền. Sau này ông Nixon bị truy ra – qua hàng loạt tang chứng những băng ghi âm những cuộc nói chuyện của ông Nixon với bộ hạ – dẫn đến chuyện từ chức của tổng thống Nixon vào ngày 9, tháng 8, năm 1974.