Cái giá của đối đầu học thuật

Tino Cao 

Đầu tháng Hai năm 2026, đời sống đại học tại Hoa Kỳ bước vào một giai đoạn căng thẳng mà khó ai có thể xem là cơn sóng thoảng qua. Những quyết định liên tiếp của chính quyền Trump nhắm trực diện vào Harvard gây chấn động trong nội bộ giới học thuật, khiến giới làm chính sách phải tính toán lại hệ quả dài hạn của những ngón đòn thất sách này.

Yêu cầu bồi thường một t đô la, những phát biểu công kích xoay quanh khái niệm “woke”, cùng quyết định của Bộ Quốc phòng chấm dứt các chương trình đào tạo và hợp tác với Harvard không thể được hiểu như các bước đi hành chính riêng lẻ. Đặt cạnh nhau, chúng cho thấy một cách tiếp cận nhất quán – sử dụng công cụ tài chính và thẩm quyền thể chế để buộc một đại học phải điều chỉnh theo các ưu tiên chính trị của chính quyền đương nhiệm. Ở đây, quyền phân bổ ngân sách và quyền ký kết hay hủy bỏ hợp tác được vận dụng như đòn bẩy. Khi một thiết chế tri thức bị đặt trước lựa chọn giữa tuân thuận và mất nguồn lực, quan hệ giữa nhà nước và đại học rời khỏi nền tảng đối thoại để bước sang trạng thái đối đầu, trong đó nguồn lực bị sử dụng như công cụ gây sức ép.

Vì thế, câu chuyện không còn gói gọn trong mối quan hệ giữa một tổng thống và một trường đại học tinh hoa. Điều đang được đặt lên bàn là phạm vi của quyền lực nhà nước khi đối diện với đời sống học thuật và hệ quả mà xã hội phải gánh chịu nếu đại học bị lôi vào cuộc đối đầu chính trị. Đại học nghiên cứu không chỉ là nơi đào tạo sinh viên; đó là hệ thống sản xuất tri thức, là nguồn nuôi dưỡng nhân tài và là một phần của lợi thế chiến lược quốc gia. Khi chính quyền chọn cách xử lí xung đột bằng những đòn tài chính quy mô lớn và những quyết định cắt đứt hợp tác, họ đồng thời thử thách sự cân bằng giữa quyền lực công và tự do học thuật. Cái giá của sự thử thách ấy, nếu có, sẽ không đo bằng những dòng tít báo trong vài tuần mà bằng vị thế khoa học và sức hút nhân tài của nước Mỹ trong nhiều năm tới.

Harvard từ lâu được xem là một trong những đại học có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Hoa Kỳ, không chỉ vì bề dày lịch sử mà còn vì vai trò trung tâm trong mạng lưới nghiên cứu toàn cầu. Khi chính quyền liên bang nâng yêu cầu bồi thường lên một tỉ đô la và gắn nó với các cáo buộc liên quan đến quản trị, xử lý biểu tình và môi trường tư tưởng trong trường, quyết định ấy vượt khỏi phạm vi một tranh chấp pháp lý thông thường. Về mặt thẩm quyền, chính phủ có quyền điều tra và khởi kiện nếu cho rằng có vi phạm luật liên bang. Nhưng khi lựa chọn nhắm vào một đại học có tầm ảnh hưởng đặc biệt, hành động đó đồng thời mang hàm ý chính trị. Nó gửi đi thông điệp rằng các cơ sở giáo dục tinh hoa cũng sẽ bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ nếu bị cho là đi ngược lại các ưu tiên của chính quyền.

Quyết định của Bộ Quốc phòng Mỹ càng làm rõ chiều kích ấy. Việc chấm dứt các chương trình đào tạo sĩ quan và hợp tác chuyên môn với Harvard được lí giải bằng lập luận về nhu cầu củng cố sức mạnh quân sự và loại bỏ những khuynh hướng tư tưởng bị xem là làm phân tán mục tiêu. Với một bộ phận cử tri, đó là bước đi cần thiết để khẳng định kỷ luật và định hướng. Với nhiều học giả, đây là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ gắn bó nhiều thập niên giữa đại học nghiên cứu và chính phủ liên bang đang rơi vào tình trạng xung đột, trong đó hợp tác khoa học và đào tạo có thể bị chi phối bởi tiêu chí chính trị thay vì thuần túy chuyên môn.

Muốn đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của sự việc, cần đặt nó vào nền tảng của mô hình đại học nghiên cứu Hoa Kỳ. Từ sau Thế chiến thứ Hai, quan hệ giữa khoa học và chính phủ liên bang hình thành trên cơ sở trao đổi lợi ích rõ ràng. Ngân sách quốc phòng, chương trình không gian, các quỹ y sinh và công nghệ cao đã cung cấp nguồn lực ổn định cho các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu tại các đại học lớn. Đổi lại, các trường cung cấp đội ngũ chuyên gia, các phát minh và giải pháp phục vụ lợi ích chiến lược quốc gia. Sự gắn bó ấy tạo nên một mạng lưới cộng sinh phụ thuộc lẫn nhau trong đó nghiên cứu cơ bản và mục tiêu an ninh, kinh tế liên hệ chặt chẽ. Khi một chính quyền chọn cách thu hẹp hoặc cắt bỏ một phần quan hệ này để thể hiện lập trường chính trị, tác động lan ra vượt khỏi phạm vi một trường đại học cụ thể. Điều bị thử thách ở đây là tính ổn định của toàn bộ hệ thống khoa học vốn dựa trên niềm tin rằng cam kết liên bang sẽ không thay đổi đột ngột theo chu kỳ tranh cử.

Những diễn biến trong vài năm gần đây khiến bức tranh thêm phần rối rắm. Đại học Hoa Kỳ liên tục bị cuốn vào các tranh luận gay gắt xoay quanh tự do ngôn luận, cách xử lý các cuộc biểu tình liên quan đến Trung Đông, chính sách đa dạng và bình đẳng cũng như trách nhiệm điều hành của ban lãnh đạo trước sức ép từ Quốc hội và các nhà tài trợ lớn. Các phiên điều trần công khai và những cuộc điều tra liên bang đã dẫn đến việc nhiều hiệu trưởng phải rời nhiệm sở, phản ánh mức độ giám sát ngày càng chặt chẽ đối với hệ thống giáo dục bậc cao. Chính quyền Donald Trump bước vào bối cảnh ấy với cam kết lập lại kỷ cương và loại bỏ những khuynh hướng bị cho là vượt quá giới hạn. Tuy nhiên, khi mục tiêu cải tổ được triển khai thông qua các yêu sách tài chính quy mô lớn và quyết định chấm dứt hợp tác mang tính răn đe, tiến trình điều chỉnh dễ chuyển thành thế đối đầu. Khi đó, khoảng cách giữa giám sát hợp pháp và can thiệp vì động cơ chính trị trở nên mơ hồ. Và chính sự mơ hồ này mới là nguồn gốc của bất an kéo dài trong đời sống học thuật

Trong môi trường đó, câu hỏi về tính bền vững của các dự án nghiên cứu dài hạn được đặt ra ngày càng nhiều trong giới khoa học. Những ngành như toán học, vật lý lí thuyết hay sinh học phân tử không thể phát triển dựa trên các chu kì tài trợ ngắn hạn và thay đổi chính sách bất ngờ. Việc tuyển dụng nghiên cứu sinh, hậu tiến sĩ và xây dựng nhóm nghiên cứu đòi hỏi dự báo tương đối chắc chắn về nguồn lực và khung pháp lý trong nhiều năm. Khi khả năng dự báo suy giảm, tâm lý thận trọng xuất hiện. Các nhà khoa học tìm hiểu cơ hội ở châu Âu hoặc châu Á như một phương án bảo đảm nghề nghiệp, dù chưa chắc đã rời đi ngay.

Các khảo sát gần đây cho thấy t lệ đáng kể giới nghiên cứu hàn lâm cân nhắc làm việc ở nước ngoài nếu tình trạng xáo trộn tài trợ và áp lực chính trị tiếp diễn. Điều đó chưa đồng nghĩa với một làn sóng di cư ồ ạt nhưng phản ánh sự dịch chuyển trong cách nhìn về tương lai nghề nghiệp. Khi lựa chọn ra đi trở thành một viễn cảnh được thảo luận công khai trong các hội nghị và diễn đàn chuyên môn, lợi thế cạnh tranh của Hoa Ký trong việc giữ và thu hút nhân tài bắt đầu chịu thử thách. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về tri thức, biến động tâm lí này quan trọng không kém các con số thống kê về số lượng người rời bỏ nước Mỹ.

Trong lúc Hoa Kỳ còn đang tranh cãi về vai trò và giới hạn của đại học, nhiều trung tâm giáo dục đào tạo hàng đầu ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đã âm thầm tăng tốc quyết định chào mời. Hong Kong, Thượng Hải, Bắc Kinh không giấu tham vọng trở thành các đầu mối nghiên cứu có tầm quốc tế. Họ đầu tư lớn cho cơ sở vật chất, thiết kế các gói đãi ngộ cạnh tranh, tạo điều kiện linh hoạt cho hợp tác xuyên biên giới và chủ động tiếp cận các nhà khoa học đang tìm kiếm môi trường ổn định. Khi chính quyền Mỹ tìm cách hạn chế tuyển sinh quốc tế tại Harvard, giới chức giáo dục Hong Kong lập tức kêu gọi các đại học địa phương mở rộng tiếp nhận sinh viên và học giả bị ảnh hưởng. Động thái ấy cho thấy cạnh tranh về nhân tài không diễn ra trong khoảng trống; bất kì tín hiệu bất ổn nào ở một trung tâm lớn đều trở thành cơ hội cho các trung tâm khác.

Trong bối cảnh đó, việc hai nhà toán học gốc Việt có uy tín tầm vóc quốc tế như giáo sư Ngô Bảo Châu (Chau Ngo) và giáo sư Vũ Hà Văn gia nhập Đại học Hong Kong được nhiều người xem như dấu hiệu của sự dịch chuyển cán cân thu hút nhân tài. Dĩ nhiên, mỗi quyết định sự nghiệp đều xuất phát từ sự cân nhắc của nhiều yếu tố cá nhân và vị thế khoa học của mỗi người; không thể quy giản chúng thành phản ứng trực tiếp trước một chính sách cụ thể. Tuy nhiên, thời điểm của những chuyển dịch này trùng với giai đoạn căng thẳng giữa chính quyền Trump và các đại học hàng đầu của nước Mỹ buộc người quan sát phải đặt câu hỏi rộng hơn về sức hấp dẫn của hệ thống giáo dục Mỹ. Khi những học giả từng gắn bó lâu năm với các cơ sở đại học danh giá của Hoa Kỳ lựa chọn một trung tâm châu Á cho chặng tiếp theo, điều đó phản ánh sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về điều kiện nghiên cứu và môi trường làm việc trong không gian học thuật toàn cầu. 

Đây không phải câu chuyện giản đơn về sự suy yếu của Mỹ hay sự vươn lên của châu Á. Hoa Kỳ vẫn sở hữu mạng lưới đại học hùng hậu, nguồn tài trợ nghiên cứu lớn và truyền thống bảo vệ tự do học thuật lâu đời. Nhiều nhà khoa học vẫn coi môi trường Mỹ là thuận lợi cho sáng tạo và hợp tác liên ngành. Song lợi thế ấy phụ thuộc vào một tiền đề cơ bản: các quy tắc về tài trợ, thị thực và quan hệ giữa chính quyền với đại học phải đủ ổn định để giới nghiên cứu có thể dự liệu tương lai. Khi ngân sách và thị thực bị đưa vào các cuộc đối đầu chính trị theo cách chính quyền Trump hành xử suốt gần một năm qua, tín hiệu phát ra bên ngoài là một hình ảnh tệ hại về sự thiếu nhất quán và khó dự báo của môi trường học thuật Hoa Kỳ.

Sức mạnh của một quốc gia, xét đến cùng, không nằm trọn trong chỉ số GDP hay ngân sách quốc phòng mà còn ở năng lực thu hút và duy trì dòng chảy nhân tài quốc tế. Từ sau Thế chiến thứ Hai, nước Mỹ đã gây dựng ưu thế ấy bằng một cam kết tương đối bền vững: Môi trường nghiên cứu tự do; Cơ chế thị thực đủ linh hoạt cho giới học thuật và Nguồn tài trợ liên bang đủ ổn định để các dự án dài hạn có thể triển khai mà không bị đảo lộn bởi những bất ổn chính trị. Chính sự nhất quán đó đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của hệ thống đại học Mỹ. Khi ngân sách và thị thực bị đưa vào các cuộc đối đầu chính trị, nền tảng niềm tin ấy bắt đầu đổ vỡ. Vấn đề vì thế vượt khỏi phạm vi một tranh chấp cụ thể với Harvard. Nó đặt ra câu hỏi về quy chế phối hợp và mức độ can dự của nhà nước đối với giáo dục bậc cao. Bảo đảm tuân thủ pháp luật là trách nhiệm hiển nhiên của chính quyền; giám sát và chế tài, nếu có vi phạm, là điều chính đáng. Tuy nhiên, khi việc kiểm tra và áp dụng biện pháp xử lý đi xa tới mức buộc một cơ sở giáo dục phải điều chỉnh nội dung học thuật theo ý chí chính trị đương thời, hệ quả không dừng lại ở một quyết định hành chính. Khi đó, không gian tự do học thuật bị thu hẹp và niềm tin vào tính độc lập của đời sống trí thức bị hủy hoại. Đại học không phải thánh địa miễn nhiễm với phê phán. Những phê phán về quản trị và trách nhiệm giải trình là cần thiết; và thực tế nhiều trường đã xử lý vụ việc kém thuyết phục nên cần cải tổ. Tuy nhiên, khi công cụ chủ yếu được sử dụng là sức ép tài chính và các biện pháp mang tính răn đe, điều đạt được có thể chỉ là sự chia rẽ sâu hơn và một giới nghiên cứu dè dặt thay vì một nền học thuật mạnh mẽ và có khả năng tự điều chỉnh. Việc đưa áp lực chính trị vào các thiết chế tri thức theo cách đó không chỉ dừng lại ở một trường cụ thể mà còn có thể tạo ra tiền lệ, khiến mỗi chu kì bầu cử đều đi kèm nguy cơ đảo lộn chính sách khoa học.

Từ góc nhìn kinh tế, cái giá của một môi trường nghiên cứu thiếu ổn định không xuất hiện ngay trên bảng cân đối ngân sách, nhưng nó tích lũy hậu quả một cách dai dẳng. Doanh nghiệp công nghệ cao phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nhân lực và ý tưởng xuất phát từ các đại học nghiên cứu; những đột phá y sinh cứu sống hàng triệu người thường khởi nguồn từ các phòng thí nghiệm được nuôi dưỡng bằng ngân sách công trong nhiều năm liên tục. Khi các nhà khoa học hàng đầu tìm thấy điều kiện làm việc ổn định và hỗ trợ tốt hơn ở châu Âu hay châu Á, sự dịch chuyển ấy có thể không tạo ra cú sốc tức thì, nhưng theo thời gian sẽ làm suy giảm năng lực đổi mới của cả nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng tập trung vào trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, vật liệu mới và công nghệ sinh học, đầu tư liên tục cùng một không gian sáng tạo rộng mở là điều kiện thiết yếu. Một quốc gia đặt chính các thiết chế sản xuất tri thức của mình vào trạng thái nghi ngờ kéo dài sẽ tự làm suy yếu lợi thế chiến lược, nhất là khi các đối thủ địa chính trị đang chủ động thu hút nhân tài quốc tế bằng thông điệp ổn định và nhất quán.

Bức tranh hiện tại vì thế mang sắc thái đáng suy ngẫm. Đại học bị kéo vào những tranh luận chính trị gay gắt; các chính trị gia tận dụng xung đột văn hóa để củng cố vị thế, trong khi giới nghiên cứu phải tính toán phương án dự phòng cho tương lai nghề nghiệp của mình. Các trung tâm giáo dục châu Á quan sát kĩ lưỡng và sẵn sàng tiếp nhận những dịch chuyển đó. Tuy vậy, chưa thể kết luận rằng nước Mỹ đang bước vào một chu kì suy thoái không thể đảo ngược. Truyền thống pháp quyền, sự giám sát của tòa án liên bang, vai trò của báo chí và xã hội dân sự vẫn tạo ra những cơ chế điều chỉnh quan trọng; nhiều đại học cũng đang nỗ lực cải thiện quản trị và tăng cường đối thoại với công chúng. Vụ việc liên quan đến Harvard chỉ là điểm nhấn của một vấn đề sâu xa hơn: quan hệ giữa khát vọng kiểm soát của chính trị và yêu cầu độc lập của đời sống trí thức. Trong thời đại mà sức mạnh quốc gia gắn chặt với khả năng sáng tạo và thu hút chất xám, cách nước Mĩ xử lí căng thẳng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới vị thế của quốc gia trong nhiều thập niên tới.

T.C.

Nguồn: FB Tino Cao

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn