Gen thể chế (Kỳ 3 – Dẫn nhập (tt))

Hứa Thành Cương (Chenggang Xu-許成鋼)

Đại học Stanford

Nguyễn Quang A dịch

DẪN NHẬP

1.2. SỰ PHÂN KỲ THỂ CHẾ

Trung Quốc, Nga, và Nhật Bản, vào thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ 19 và 20, mỗi nước đều nỗ lực thúc đẩy việc thành lập chính phủ lập hiến. Nhật Bản đã thành công trong khi Trung Quốc và Nga thất bại. Kể từ đó, đã có một sự phân kỳ thể chế đang diễn ra giữa ba cường quốc này, gây ảnh hưởng lớn đến thế giới.⁶ Nhật Bản là quốc gia phi phương Tây đầu tiên thành lập chính phủ lập hiến và trở thành quốc gia phát triển đầu tiên ngoài Châu Âu và Bắc Mỹ (một cuộc thảo luận thấu đáo về những thay đổi thể chế của Nhật Bản, bao gồm cả thời kỳ chủ nghĩa quân phiệt, nằm ngoài chủ đề của cuốn sách này). Sau nhiều thập kỷ nỗ lực hướng tới một nền quân chủ lập hiến và cộng hòa, vốn đã chấm dứt hệ thống đế chế của họ, Nga và Trung Quốc, tương ứng, đã tạo ra và cấy ghép các thể chế toàn trị đi ngược lại với chủ nghĩa lập hiến.

Kể từ cuối thế kỷ 19, lần đầu tiên trong 2.000 năm lịch sử Trung Quốc, những người chủ trương cải cách cố gắng thay đổi thể chế Trung Quốc đã gọi thể chế truyền thống Trung Quốc là "hệ thống đế chế" (dizhi). Truyền thống này đã tiếp tục cho đến ngày nay trong giới trí thức Trung Quốc, những người phê phán các thể chế của Đế chế Trung Hoa. Cuốn sách này tiếp tục truyền thống đó. Thuật ngữ gần nhất trong khoa học chính trị với dizhi, hệ thống đế chế Trung Hoa, là một nền quân chủ chuyên chế. Tuy nhiên, quyền lực trong hệ thống đế chế Trung Hoa tập trung hơn nhiều, đến mức không có ranh giới giữa chủ quyền và quyền sở hữu và không có cơ quan tư pháp tách biệt khỏi cơ quan hành pháp (Chương 3 và 4 sẽ giải thích thêm). Những điều này làm cho hệ thống đế chế Trung Hoa khác biệt về bản chất so với nền quân chủ chuyên chế ở Tây Âu. Hệ thống đế chế Sa hoàng tương tự với hệ thống Trung Quốc hơn là với nền quân chủ chuyên chế Tây Âu (xem Chương 7).

Nghiên cứu về hệ thống đế chế Trung Hoa có liên quan mật thiết đến vị thế kinh tế của nó trên trường quốc tế. Cuốn sách này cho rằng lý do quan trọng nhất cho sự suy tàn của Trung Quốc và những hạn chế áp đặt lên quá trình bắt kịp của nó chính là sự phân kỳ thể chế lớn. Một thế kỷ rưỡi trước, Trung Quốc, hay "Đại Thanh Đế quốc", có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nền kinh tế của nó lớn hơn tổng của nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba vào thời điểm đó. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ 19, Trung Quốc đã suy tàn nhanh chóng. Bạo loạn, cách mạng, nội chiến và ngoại xâm kéo dài. Đồng thời, hai cuộc cải cách lập hiến đã thất bại, dẫn đến sự sụp đổ của Đế chế Thanh và Cách mạng Cộng hòa. Tuy nhiên, Cách mạng Cộng hòa cũng sớm thất bại. Kết quả là, Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, chìm trong xung đột.

Năm 1949, được Liên Xô hậu thuẫn, ĐCSTQ đã thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC). Tại thời điểm này, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng một phần hai mươi của Hoa Kỳ (tính toán dựa trên Maddison [2003]). Quốc gia này vẫn trong tình trạng nghèo đói nghiêm trọng trong ba thập kỷ tiếp theo dưới chế độ mới. Mãi cho đến cuộc cải cách hậu Mao, Trung Quốc mới trải qua hơn ba thập kỷ phát triển nhanh chóng và bền vững và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2018, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Trung Quốc gần bằng một phần sáu của Hoa Kỳ, hoặc 30% con số của Hoa Kỳ nếu đo bằng sức mua tương đương (IMF, 2019).

Nếu Trung Quốc phát triển theo một quỹ đạo tương tự như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan, GDP bình quân đầu người của nó sẽ đạt một nửa của Hoa Kỳ trong vòng hai mươi đến ba mươi năm tới, khi đó tổng GDP của Trung Quốc sẽ vượt qua tổng GDP của Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU) cộng lại. Đó sẽ là thách thức lớn nhất không chỉ đối với nền kinh tế toàn cầu mà còn đối với khoa học, công nghệ, chính trị, và thậm chí cả quân sự toàn cầu, tương tự như những kỳ vọng hoặc lo ngại về Liên Xô đang phát triển nhanh chóng trong những năm 1960 và 1970, mặc dù GDP bình quân đầu người ở Liên Xô chưa bao giờ vượt quá một phần ba của Hoa Kỳ (Maddison, 2003). Tuy nhiên, các thể chế cơ bản của Trung Quốc khác biệt đáng kể so với Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan. Vậy, quỹ đạo phát triển của Trung Quốc sẽ theo quỹ đạo của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan, hay của Liên Xô cũ hoặc thậm chí là của Đế chế Thanh? Điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc thậm chí không thể duy trì sự ổn định? Câu trả lời phụ thuộc vào các thể chế của Trung Quốc và cách chúng sẽ thay đổi.

Tại sao Trung Quốc và Nga, mặc dù có những bước tiến ban đầu hướng tới quản trị lập hiến giống như Nhật Bản, cuối cùng lại đi theo hướng ngược lại? Tại sao, sau sự xâm nhập của chủ nghĩa toàn trị vào Trung Quốc, những nỗ lực gian khổ của giới trí thức Trung Quốc hướng tới chủ nghĩa lập hiến lại một phần tan biến và một phần chuyển động lực sang ủng hộ chủ nghĩa toàn trị? Tại sao chủ nghĩa toàn trị du nhập lại có một chỗ đứng sâu sắc hơn ở Trung Quốc so với ở Nga, nơi khai sinh ra nó? Giải quyết những câu hỏi này là điều cần thiết để hiểu các thể chế của Trung Quốc đương đại và để dự đoán các quỹ đạo tương lai của Trung Quốc.

Được khởi xướng vào năm 1868, cuộc Duy tân Minh Trị đã đại diện cho một sự khởi đầu quan trọng trong sự tiến hóa thể chế. Nó đã đặt nền móng cho nền quản trị lập hiến ở Nhật Bản. Bất chấp những khúc quanh lớn của chủ nghĩa quân phiệt, cuộc Duy tân Minh Trị và các cuộc cải cách dân chủ lập hiến sau đó được giới thiệu trong thời kỳ Taisho đã đặt nền móng cho việc thành lập cuối cùng một hệ thống dân chủ ở Nhật Bản sau Thế chiến thứ hai. Ngược lại, cả Nga Sa hoàng và Trung Quốc Đế chế, sau những thất bại quân sự tương ứng trước Nhật Bản Minh Trị, đã bắt tay vào một loạt các cuộc cải cách lập hiến và cách mạng nhằm thiết lập các nền quân chủ lập hiến và cộng hòa. Những thay đổi hỗn loạn này đã dẫn đến sự sụp đổ của cả hai đế chế. Tuy nhiên, thay vì thiết lập nền cai trị lập hiến, họ đã quay trở lại để hình thành các chế độ toàn trị đầu tiên và lớn nhất thế giới, một cách tương ứng. Và chính ở Trung Quốc, những hạt giống của chủ nghĩa toàn trị đã bén rễ sâu nhất.

Thất bại của Nga trong Chiến tranh Nga-Nhật năm 1905 đã châm ngòi cho một cuộc cách mạng dẫn đến việc thành lập một nền quân chủ lập hiến và Duma Quốc gia, cơ quan lập pháp. Mặc dù đã tổ chức nhiều kỳ họp từ năm 1905 đến 1917 sau các cuộc tổng tuyển cử, nền quân chủ lập hiến vẫn không ổn định, điều này đã mở đường cho Cách mạng Bolshevik. Những nỗ lực của Nga hướng tới chủ nghĩa lập hiến bắt đầu vào năm 1814, vào cuối cuộc chiến chống lại Napoleon. Trong năm đó, các thành viên của giới tinh hoa quân sự Nga đã được khích lệ bởi tấm gương của Cách mạng Pháp và mong muốn về một chính phủ lập hiến ở Nga lần đầu tiên được nhen nhóm. Nguồn cảm hứng này đã thúc đẩy nhiều thập kỷ làm việc không mệt mỏi của các nhà tiên phong cách mạng, đỉnh cao là việc thành lập một nền quân chủ lập hiến sau cuộc cách mạng năm 1905 và một chính phủ lâm thời cộng hòa vào năm 1917. Mặc dù cuộc đấu tranh kéo dài một thế kỷ cho chủ nghĩa lập hiến đầy biến động và gian khổ, và Chính phủ Lâm thời yếu kém và lung lay, nó không phải là ngoại lệ so với hành trình quanh co hướng tới chủ nghĩa lập hiến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Điều làm cho Nga có ảnh hưởng sâu sắc trong lịch sử nhân loại là cuộc đảo chính Bolshevik năm 1917 (được nhiều nhà sử học giải thích phần lớn là một tập hợp các sự trùng hợp ngẫu nhiên), đã chấm dứt hoàn toàn một thế kỷ nỗ lực hướng tới chính phủ lập hiến ở Nga và tạo ra hệ thống toàn trị đầu tiên trên thế giới. Tại sao Nga lại gặp khó khăn như vậy trong việc đạt được chủ nghĩa lập hiến, nhưng sau đó lại dễ dàng chuyển sang đối cực của nó, chủ nghĩa toàn trị?

Vào thời điểm chủ nghĩa toàn trị Soviet lan sang Trung Quốc, các điều kiện ở đó phần lớn phản ánh những điều kiện của nước Nga cách mạng. Sau thất bại trong Chiến tranh Trung-Nhật năm 1895, Trung Quốc đã hai lần cố gắng ban hành các cuộc cải cách lập hiến tương tự như ở Nhật Bản, nhưng cả hai nỗ lực đều thất bại. Động lực cải cách thể chế cuối cùng đã được chuyển thành một lời kêu gọi cách mạng và sau đó, mục tiêu cách mạng đã chuyển từ chủ nghĩa cộng hòa sang hướng ngược lại, chủ nghĩa cộng sản. Sau khi chịu đựng nhiều thất bại tàn khốc, một thế hệ cách mạng mới của Trung Quốc đã đón nhận các nhà truyền giáo Bolshevik, Comintern. Họ sẵn sàng chấp nhận các thể chế Soviet và xây dựng một hệ thống toàn trị, hoàn toàn trái ngược với khuôn khổ lập hiến mà những người tiền nhiệm của họ ban đầu đã nhắm đến. Tôi gọi sự thay đổi quan trọng này là "Sự Phân kỳ Thể chế Lớn".

Kể từ khi ra đời tại Nga vào năm 1917, chủ nghĩa toàn trị đã lan rộng toàn cầu với tốc độ chưa từng có, vượt qua sự bành trướng của bất kỳ hệ tư tưởng hay mô hình thể chế nào khác trong lịch sử nhân loại. Đến những năm 1970, dân số thế giới dưới các chế độ toàn trị đã vượt qua tổng số thành viên của tất cả các giáo phái Kitô giáo, tôn giáo lớn nhất thế giới. Hơn nữa, không có ngoại lệ, tất cả các quốc gia tự nguyện chấp nhận chủ nghĩa toàn trị đều là các nhà nước chuyên chế không có kinh nghiệm về chính phủ lập hiến trước đó. Rõ ràng là hiện tượng này không thể chỉ được quy cho sự trỗi dậy của một nhà lãnh đạo duy nhất hay chiến thắng của một cuộc nổi dậy vũ trang.

Tuy nhiên, nghiên cứu về các quy luật trong sự xuất hiện và tiến hóa của các hệ thống toàn trị vẫn còn thưa thớt. Nhiều học giả chuyên về nghiên cứu thể chế, bao gồm cả những người tập trung vào các chế độ chuyên chế, có xu hướng bỏ qua các đặc điểm riêng biệt của các hệ thống toàn trị, chẳng hạn như những hệ thống được tìm thấy ở Trung Quốc và Liên Xô, và ảnh hưởng của chúng đối với các thể chế của các quốc gia khác vượt ra ngoài địa chính trị. Nhiều chuyên gia về Trung Quốc có xu hướng đánh giá thấp vai trò nền tảng của Liên Xô trong việc định hình các thể chế của Trung Quốc đương đại. Ngoài ra, nhiều chuyên gia về Liên Xô thường bỏ qua nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị và tác động tiếp diễn của nó đối với nước Nga ngày nay và thế giới.

1.3. SỰ DIỄN BIẾN THỂ CHẾ CỦA TRUNG QUỐC

Sự sụp đổ của hệ thống đế chế ở Trung Quốc đã báo hiệu sự ra đời của chủ nghĩa toàn trị. Một thế kỷ trước, những người tiên phong của cải cách lập hiến và Cách mạng Cộng hòa đã nhận thức chủ nghĩa lập hiến là một con đường không thể tránh khỏi hướng tới sự tiến bộ của Trung Quốc. Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, cả Cải cách Bách nhật (戊戌变法-Mậu tuất Biến pháp) và Cách mạng Tân Hợi (辛亥) đều có chung mục tiêu thiết lập chủ nghĩa lập hiến và thay thế các thể chế đế chế của Trung Quốc bằng các mô hình thành công từ các nước phát triển. Nhưng những nỗ lực cải cách thể chế và cách mạng cộng hòa này đều thất bại.

Câu hỏi chính cần được phân tích và thảo luận trong cuốn sách này là tại sao Trung Quốc gặp khó khăn trong việc thiết lập một hệ thống lập hiến bắt nguồn từ phương Tây (bao gồm cả việc học hỏi từ Nhật Bản) nhưng cuối cùng lại nhanh chóng và vững chắc thiết lập một hệ thống toàn trị bắt nguồn từ Liên Xô trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Những tiền đề thể chế nào ở Trung Quốc đã dẫn đến sự phát triển như vậy? Sau đó, Trung Quốc đã biến đổi chủ nghĩa toàn trị Soviet thành chủ nghĩa toàn trị được quản lý theo vùng (RADT), chủ nghĩa toàn trị mang đặc sắc Trung Quốc, thông qua Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa Vô sản Vĩ đại.⁷ Đã bén rễ sâu trong xã hội, RADT đã hình thành nền tảng thể chế cho cuộc cải cách hậu Mao của Trung Quốc và làm cho chế độ cộng sản Trung Quốc trở nên dễ thích ứng và bền vững hơn. Nguồn gốc thể chế của RADT là gì? Mối quan hệ giữa RADT và những thách thức lớn mà Trung Quốc đang đối mặt ngày nay là gì?

Đã có ba quan điểm chủ đạo về cải cách chính trị trong giới học thuật và hoạch định chính sách về hơn bốn mươi năm cải cách của Trung Quốc. Quan điểm thứ nhất cho rằng điều kiện quốc gia hoặc thể chế của Trung Quốc là độc nhất và một hệ thống dân chủ lập hiến không phù hợp với Trung Quốc. Quan điểm thứ hai cho rằng dân chủ lập hiến là mục tiêu cuối cùng của cải cách nhưng cần có một giai đoạn chủ nghĩa chuyên chế mới như một giai đoạn chuyển tiếp để phát triển kinh tế làm nền tảng cho dân chủ.⁸ Quan điểm thứ ba bác bỏ hai quan điểm trên và cho rằng Trung Quốc có thể, nên, và thực sự phải thực hiện các cuộc cải cách hướng tới dân chủ lập hiến.

Chủ nghĩa ngoại lệ của Trung Quốc cũng thường biểu hiện dưới hình thức của cái gọi là "mô hình Trung Quốc". Liệu sự độc đáo của Trung Quốc có cho phép nó bỏ qua các quy luật được quan sát phổ biến bởi các quốc gia khác không? Liệu nền kinh tế Trung Quốc có thể duy trì tăng trưởng ổn định và liên tục trong điều kiện không có dân chủ lập hiến không? Những câu hỏi cơ bản này là những gì cuốn sách này nỗ lực giải quyết. Mỗi một trong ba quan điểm trên đều liên quan đến một loạt các câu hỏi khoa học xã hội cơ bản: Các đặc điểm chính của các thể chế cơ bản của Trung Quốc là gì? Tại sao những đặc điểm này lại như vậy? Chúng bắt nguồn và phát triển như thế nào? Tại sao các chế độ cộng sản lại xuất hiện ở Nga và Trung Quốc? Hơn nữa, những trở ngại nào Trung Quốc sẽ phải đối mặt khi chuyển đổi sang dân chủ?

Một quan điểm phổ biến khác trong giới học thuật và chính sách cho rằng phát triển kinh tế là một tiền đề thiết yếu để thiết lập dân chủ lập hiến. Quan điểm này lập luận rằng Trung Quốc cần một giai đoạn của chủ nghĩa chuyên chế mới để giải quyết các nhu cầu sinh tồn cơ bản và nuôi dưỡng một tầng lớp trung lưu hiện đại trước khi chuyển sang dân chủ lập hiến. Tuy nhiên, như bằng chứng lịch sử đã chứng minh một cách phong phú, ở các quốc gia như Anh và Hoa Kỳ, việc thiết lập một nền dân chủ lập hiến đã diễn ra trước một cuộc Cách mạng Công nghiệp và phát triển kinh tế.

Triết gia Bertrand Russell đã kết luận vào cuối Thế chiến thứ hai rằng:

"Kể từ thời [Rousseau], những người tự coi mình là nhà cải cách được chia thành hai nhóm, những người theo ông và những người theo Locke. Đôi khi họ hợp tác, và nhiều cá nhân không thấy có sự không tương thích. Nhưng dần dần sự không tương thích ngày càng trở nên rõ ràng. Vào thời điểm hiện tại, Hitler là một kết quả của Rousseau; Roosevelt và Churchill, của Locke." (Russell [1946] 1957, tr. 660)

John Locke là người tiên phong trong chủ nghĩa lập hiến hiện đại và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc soạn thảo các văn kiện của Cách mạng Vinh quang của Anh. Quan điểm của ông về nhân quyền đã ảnh hưởng đáng kể đến Hiến pháp Hoa Kỳ, hiến pháp của tất cả các nền dân chủ, và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Một thế kỷ sau Locke, triết gia người Pháp Jean-Jacques Rousseau đã đề xuất rằng các quyền cá nhân nên bị hạn chế, hoặc thậm chí bị vô hiệu hóa, vì lợi ích xã hội và cái gọi là "ý chí chung". Ông cũng cho rằng quyền sở hữu tư nhân là nguồn gốc của sự bất bình đẳng. Lý thuyết của Rousseau đã được đưa vào thực tiễn trong Thời kỳ Khủng bố của Cách mạng Pháp do những người Jacobin lãnh đạo và đã truyền cảm hứng cho Gracchus Babeuf, người đã tạo ra phong trào cộng sản đầu tiên với mục đích chiếm đoạt quyền lực và của cải thông qua bạo lực để đạt được sự bình đẳng tuyệt đối dưới sự cai trị của một tổ chức bí mật. Các khái niệm và phong trào của Rousseau và Babeuf đã được Marx và Lenin phát triển thêm, đặt nền móng cho chủ nghĩa toàn trị.

Triết học của Locke chưa bao giờ phổ biến trong giới trí thức Trung Quốc và Nga. Thay vào đó, tư duy bắt nguồn từ Rousseau và Babeuf, và sau này được Marx và Lenin phát triển, đã chiếm ưu thế trong giới trí thức Nga và các nhà cách mạng Trung Quốc. Để hiểu được nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị, một câu hỏi quan trọng nảy sinh: Tại sao giới trí thức Nga và các nhà cách mạng Trung Quốc lại đón nhận ý tưởng của Rousseau, Marx, và Lenin trong khi bác bỏ ý tưởng của Locke?*

1.4. CHẾ ĐỘ THỂ CHẾ Ở TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI: MỘT PHÁC THẢO

Bản chất của thể chế cơ bản của Trung Quốc đương đại là một chủ đề tranh luận không ngừng. Trong cuốn sách này, tôi mô tả nó là Chủ nghĩa toàn trị được quản lý theo vùng (RADT), như đã đề cập trước đó, một khái niệm mà tôi sẽ trình bày chi tiết trong Chương 12 và 13, cùng với một phân tích về sự tiến hóa của chế độ. Về cơ bản, nó bắt đầu với sự Soviet hóa toàn diện Trung Quốc vào đầu những năm 1950.

Nền tảng của mô hình toàn trị cổ điển mà Trung Quốc tiếp nhận từ Liên Xô là Đảng Cộng sản Trung Quốc, trước đây được biết đến là đảng "Bolshevik" của Trung Quốc. Thực thể này ban đầu nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ phía Liên Xô. Quyền lực của ĐCSTQ là tuyệt đối, với đảng duy trì sự kiểm soát toàn diện đối với các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp của chính phủ, các lực lượng vũ trang, bộ máy tuyên truyền và truyền thông, tất cả các nguồn lực, cũng như tất cả các tổ chức và doanh nghiệp nhà nước và phi nhà nước. Không có sự tách biệt giữa đảng và chính phủ. Đảng trực tiếp bổ nhiệm tất cả các quan chức cấp bộ và các nhà lãnh đạo chính quyền khu vực ở mọi cấp. Các chính quyền khu vực thiếu quyền tự chủ, chứ đừng nói đến chủ quyền, và các quan chức đảng-nhà nước địa phương được bổ nhiệm bởi cấp trên của họ trong ĐCSTQ. Ở những khía cạnh này, chế độ thể chế của Trung Quốc phản ánh mô hình toàn trị cổ điển được thiết lập ở Liên Xô.

Trong hệ thống RADT, các cơ quan đảng-nhà nước địa phương được giao các chức năng hành chính và kinh tế, cũng như phần lớn các nguồn lực, dưới tiền đề toàn trị là bổ nhiệm tập trung và kiểm soát chính trị và tư tưởng. Sự thay đổi thể chế này từ chủ nghĩa toàn trị cổ điển sang RADT bắt đầu vào năm 1958 với việc thực hiện Đại Nhảy Vọt và được củng cố trong Cách mạng Văn hóa (1966–1976).

RADT là nền tảng thể chế của cuộc cải cách hậu Mao. Trong ba thập kỷ đầu của cải cách, với mục đích bảo tồn chế độ, sự kiểm soát xã hội của đảng đã thụ động nới lỏng khi các doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ trong ngành sản xuất hạ nguồn và dịch vụ. Đồng thời, một mức độ đa nguyên hạn chế bắt đầu hình thành. Sự xuất hiện của quyền sở hữu tư nhân, các tổ chức cộng đồng, và sự đa dạng tư tưởng hạn chế, cùng với sự mở rộng của truyền thông, đã dần dần làm loãng đi sự thống trị của đảng trong các vấn đề kinh tế-xã hội và diễn ngôn tư tưởng. Giai đoạn này chứng kiến một sự chuyển đổi một phần sang chủ nghĩa chuyên chế, cụ thể hơn là chủ nghĩa chuyên chế được phân cấp theo vùng (RDA),⁹ mặc dù sự thay đổi này chỉ mang tính nhất thời. Kể từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, mặc dù nhiều người trong giới tinh hoa Trung Quốc háo hức mong đợi các cuộc cải cách hướng tới chủ nghĩa lập hiến, hệ thống của Trung Quốc thay vào đó đã quay trở lại chủ nghĩa toàn trị, tức là RADT. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là những cái gọi là sự lặp lại của lịch sử chỉ tái tạo một số đặc điểm cơ bản trong hoàn cảnh mới, chứ không phải mọi chi tiết. Sự trở lại của RADT ở Trung Quốc ngày nay cũng không ngoại lệ.

Chủ nghĩa lập hiến với tư cách là một hệ tư tưởng đã du nhập vào Trung Quốc nhiều thập kỷ trước khi chế độ toàn trị cộng sản đầu tiên được thành lập ở Nga. Khi những người Bolshevik Nga tạo ra ĐCSTQ, hầu hết các thành viên sáng lập của nó có một sự hiểu biết rất hạn chế về hệ tư tưởng cộng sản (như chi tiết trong Chương 10). Nhưng tại sao chủ nghĩa toàn trị cộng sản lại có chỗ đứng ở Trung Quốc thay vì chủ nghĩa lập hiến? Tại sao chủ nghĩa toàn trị không duy trì hình thức cổ điển của nó ở Trung Quốc, như ở các nước cộng sản khác, mà lại phát triển thành RADT? Tại sao RADT lại trở nên ăn sâu và khó loại bỏ ở Trung Quốc đến vậy? Câu trả lời cho những câu hỏi này có thể được tìm thấy bằng cách xem xét các đặc điểm của các gen thể chế của Trung Quốc và các gen thể chế cần thiết làm nền tảng cho chủ nghĩa toàn trị.

Các thể chế của Trung Quốc Đế chế đại diện cho các hệ thống chuyên chế bền bỉ và được tổ chức tỉ mỉ nhất trong lịch sử toàn cầu. Cấu trúc ổn định lâu dài của hệ thống đế chế Trung Hoa liên quan trực tiếp đến các gen thể chế độc đáo của nó. Một số thành phần cơ bản của các gen thể chế này bắt nguồn từ thời kỳ Chiến Quốc trước khi đế chế được thành lập. Trong giai đoạn đầu của đế chế thống nhất dưới thời Tần và Hán (từ 221 TCN đến 220 SCN), các thể chế đế chế bắt đầu hình thành. Trong quá trình dài của sự sụp đổ của hệ thống đế chế và sự thống nhất sau đó, các gen thể chế của hệ thống đế chế Trung Hoa đã được cải thiện đáng kể trong các triều đại Tùy, Đường và Tống (từ 581 đến 1279). Trong thiên niên kỷ tiếp theo, những gen thể chế được cải thiện này đã trở nên rất ổn định. Trong quá trình thay đổi triều đại, chúng liên tục tự tái tạo và phát triển. Sau khi người Mông Cổ và người Mãn Châu lật đổ các triều đại Tống và Minh, họ đã từ bỏ các phương pháp cai trị của riêng mình và áp dụng các thể chế đế chế của người Hán (xem Chương 4 và 5).

Các gen thể chế và vấn đề tương thích-khuyến khích của các tác nhân chính trong các thay đổi thể chế¹⁰ phần lớn đã quyết định số phận của các cuộc cải cách và cách mạng khác nhau trong lịch sử Trung Quốc hiện đại. Nỗ lực kéo dài nửa thế kỷ hướng tới dân chủ và chủ nghĩa lập hiến, từ cải cách lập hiến đến Cách mạng Cộng hòa, đã kết thúc trong thất bại. Ngược lại, quá trình thiết lập chủ nghĩa toàn trị ở Trung Quốc rất nhanh chóng và vững chắc. Sau sự sụp đổ của Đế chế Trung Hoa, một số gen thể chế từ thời kỳ đế chế tiếp tục tự tái tạo dưới các hình thức mới trong hệ thống toàn trị cho đến ngày nay (xem Chương 9–12). Điểm mấu chốt của sự thấu hiểu nằm ở việc nhận ra những điểm tương đồng giữa các gen thể chế của hệ thống đế chế vốn có của Trung Quốc và các gen của chế độ toàn trị du nhập.

1.5. CÁC GEN THỂ CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA TOÀN TRỊ ĐƯỢC QUẢN LÝ THEO VÙNG

Cấu trúc quản trị dưới chế độ RADT ở Trung Quốc đương đại tạo thành một bộ ba thể chế (institutional trinity): một sự pha trộn ba bên của các yếu tố thể chế cơ bản làm nền tảng cho toàn bộ khuôn khổ chính trị và kinh tế của Trung Quốc. Hình 1.1 phác họa các yếu tố thể chế này và các mối liên kết của chúng. Ô trung tâm ở trên cùng đại diện cho bộ máy quan liêu đảng-nhà nước, vốn thiếu sự tách biệt giữa các chức năng hành pháp và tư pháp. Ở phía dưới bên trái, chúng ta thấy sự kiểm soát của đảng-nhà nước đối với quyền sở hữu và luật pháp, thể hiện ở việc nhà nước sở hữu toàn bộ đất đai, một khu vực tài chính do nhà nước chi phối, và sự độc quyền đối với các đỉnh cao chỉ huy của nền kinh tế. Cuối cùng, ở phía dưới bên phải, chúng ta tìm thấy sự kiểm soát của ĐCSTQ đối với nhân sự và tư tưởng chính thức. Cấu trúc quyền lực này đảm bảo sự kiểm soát xã hội tuyệt đối của đảng, duy trì sự ổn định bằng cách đảm bảo sự hỗ trợ về chính trị, kinh tế và nhân sự cho hệ thống toàn trị. Các chương 3–5 và 10–12 đi sâu hơn vào những gì làm cho cấu trúc này đủ điều kiện là một gen thể chế của chế độ Trung Quốc đương đại và chúng truy tìm sự tiến hóa của nó.

HÌNH 1.1. Cấu trúc quyền lực của chủ nghĩa toàn trị được quản lý theo vùng (RADT)

Trong chế độ RADT, các chính quyền địa phương nắm giữ toàn bộ các chức năng hành chính và kinh tế dưới tiền đề rằng tất cả các quan chức đảng địa phương đều được bổ nhiệm từ trên xuống và rằng các vấn đề chính trị và nhân sự được tập trung cao độ. Việc không có các chỉ thị tập trung hay hướng dẫn kế hoạch cụ thể cho các địa phương về mặt quản lý hành chính và kinh tế là một khác biệt nền tảng giữa RADT và chủ nghĩa toàn trị cổ điển. Hình 1.2 tóm lược các thuộc tính nổi bật của khuôn khổ quản trị trung ương–địa phương và sự phân bổ quyền lực dưới chế độ RADT. Để nhấn mạnh sự phân cấp quyền lực hành chính và kinh tế, Hình 1.2 chỉ minh họa sự sắp xếp chức năng ở cấp quản trị trung ương và cấp huyện.

Mặc dù các cấu hình tương tự tồn tại ở các cấp trung gian, chúng được lược bỏ để ngắn gọn. Như được thể hiện trong Hình 1.2, các chính quyền đảng-nhà nước địa phương ở cấp cơ sở sở hữu gần như toàn bộ các chức năng cơ bản tương tự như của các cơ quan trung ương. Ngoài ra, các chính quyền đảng-nhà nước địa phương giữ vai trò chủ đạo trong việc giám sát việc quản lý toàn diện các chức năng này. Phần này sẽ đi sâu vào vai trò then chốt mà hệ thống RADT đã đóng trong cải cách kinh tế của Trung Quốc. Quan trọng hơn, các Chương 4, 5, và 9–12 sẽ phân tích nguồn gốc, sự tiến hóa, và tính liên tục của hệ thống này trong suốt thời kỳ đế chế của Trung Quốc cũng như trong các thời kỳ cách mạng và cầm quyền của ĐCSTQ.

HÌNH 1.2 Các gen thể chế của cấu trúc quản trị vùng dưới RADT

Hệ thống RADT đặc thù của Trung Quốc đã hình thành thông qua việc giải cấu trúc một phần các thể chế kiểu Soviet trong thời kỳ Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa. Chương 12 xem xét kỹ lưỡng tại sao, sau sự cấy ghép toàn diện chủ nghĩa toàn trị từ Liên Xô, cuộc "cách mạng liên tục" của Trung Quốc đã chuyển hóa thành hệ thống RADT.

Cội nguồn các Gen Thể chế của Hệ thống RADT

Các thể chế của Trung Quốc đương đại có mối liên hệ không thể tách rời với các thể chế của đế chế trước đây. Để thấu hiểu cội nguồn của các gen thể chế làm nền tảng cho hệ thống đương đại của Trung Quốc (như được mô tả trong Hình 1.1 và 1.2), chúng ta cần xem xét các gen thể chế của hệ thống đế chế Trung Hoa (Hình 1.3 và 1.4). Một sự so sánh giữa Hình 1.1 và 1.3 cho thấy những điểm tương đồng đáng kinh ngạc giữa các gen thể chế làm nền tảng cho các cấu trúc quyền lực của cả thời kỳ đế chế và thời kỳ hiện tại. Các chương tiếp theo của cuốn sách này sẽ đi sâu vào những điểm tương đồng cụ thể giữa các gen thể chế của thời cổ đại và Trung Quốc hiện đại, các yếu tố góp phần tạo nên những điểm tương đồng này, và cơ chế tạo điều kiện cho sự di truyền của chúng.

HÌNH 1.3 Bộ ba gen thể chế gồm cấu trúc quản trị của hệ thống đế chế của Trung Quốc

clip_image010

HÌNH 1.4 Các gen thể chế của hệ thống junxian của Trung Quốc kể từ các thời nhà Tùy và Đường

Ở phần trung tâm của bộ ba quyền lực thể chế của Trung Quốc đế chế, như được mô tả trong Hình 1.3, là hệ thống quan liêu được thiết lập dưới thời nhà Tần (221–206 TCN), được biết đến là hệ thống junxian 郡县 (quận-huyện).¹¹ Ngành tư pháp luôn là một bộ phận nội tại của bộ máy quan liêu. Trong bộ máy quan liêu từ trên xuống này, các quan lại do hoàng đế bổ nhiệm đã thay thế sự cai trị của tầng lớp quý tộc đối với các khu vực địa phương trong thời nhà Chu. Ngành tư pháp cũng vốn đã được gắn chặt vào bên trong bộ máy quan liêu. Mối đe dọa chính đối với quyền lực của hoàng đế là sự trỗi dậy tiềm tàng của một tầng lớp quý tộc mới từ chính bên trong hệ thống đế chế. Vì tầng lớp quý tộc có thể nảy sinh trong hệ thống đế chế là mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất thách thức quyền lực của hoàng đế, đế chế phải ngăn chặn điều đó xảy ra bất cứ khi nào có thể. Hệ thống ruộng đất của đế chế,¹² như được thể hiện ở ô dưới cùng bên trái trong Hình 1.3, được thiết lập từ thời nhà Tần, đã phục vụ mục đích triệt tiêu tầng lớp quý tộc.

Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hệ thống kiểm soát ruộng đất và hệ thống quan liêu của đế chế tỏ ra không đủ để ngăn chặn sự xuất hiện của một tầng lớp quý tộc cha truyền con nối, trên thực tế, những người thường có ý định độc lập khỏi hoàng đế. Hệ thống khoa cử của đế chế, được chính thức thiết lập trong các triều đại Tùy và Đường (với một phiên bản sớm hơn được giới thiệu trong triều đại Hán, mặc dù nó không được thể chế hóa hoàn toàn), như được thể hiện ở ô dưới cùng bên phải của Hình 1.3, đã phục vụ như một chiến lược nhân sự quan trọng làm gián đoạn sự truyền thừa quyền lực qua các thế hệ giữa các quan chức cấp cao. Đó là một công cụ kiểm soát nhân sự bảo vệ quyền lực tuyệt đối của hoàng đế đối với bộ máy quan liêu. Đồng thời, nó cũng phục vụ như một công cụ kiểm soát tư tưởng, đảm bảo rằng tất cả các cá nhân bước vào bộ máy quan liêu đều được thấm nhuần lòng trung thành với quân chủ. Sau sự củng cố và hoàn thiện của bộ ba thể chế này trong triều đại Tống (960–1279), quyền lực của hoàng đế và triều đình đã được củng cố một cách hiệu quả. Thể chế cai trị vững mạnh này của đế chế đã không bị thách thức bởi bất kỳ thế lực nào nổi lên từ bên trong trong thiên niên kỷ tiếp theo.

Thiết lập sự cai trị hiệu quả ở cấp địa phương là một ưu tiên quan trọng đối với bất kỳ đế chế nào. Hình 1.4 minh họa cấu trúc kiểm soát địa phương trong hệ thống đế chế Trung Hoa, phác họa các gen thể chế của hệ thống junxian. Bằng cách đặt cạnh nhau Hình 1.2 và 1.4, sự tương đồng đáng chú ý giữa hệ thống junxian và hệ thống RADT ngày nay trở nên rõ ràng. Chương 12 xem xét cách các gen thể chế của Trung Quốc đã địa phương hóa các gen thể chế toàn trị ngoại lai, điều đã dẫn đến sự hình thành các gen thể chế đương đại của Trung Quốc.

Hình 1.4 mô tả các chức năng cốt lõi của triều đình, được phân chia giữa Lục Bộ (Sáu Bộ), chịu trách nhiệm tương ứng về nhân sự, tài chính, khoa cử và lễ nghi, quân sự, tư pháp (chủ yếu là các vấn đề hình sự), và xây dựng công trình công cộng. Mỗi bộ được đứng đầu bởi một thượng thư do triều đình bổ nhiệm. Ở cấp địa phương, đế chế rộng lớn được quản lý bởi các chính quyền cấp phủ và huyện, hoặc bởi các chính quyền cấp tỉnh, phủ, và huyện, mỗi cấp đều dưới quyền các quan chức do triều đình trực tiếp bổ nhiệm. Đối mặt với sự đánh đổi giữa việc đảm bảo sự cai trị tuyệt đối của hoàng đế và hiệu quả của sự cai trị đó, cùng với những hạn chế về hậu cần trong giao tiếp và vận tải, đế chế đã giao phó tất cả các chức năng hành chính cho các quan chức ở các cấp chính quyền địa phương khác nhau trong khi vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với chính các quan chức đó. Mỗi cấp, từ triều đình đến huyện, đều có các văn phòng về nhân sự, tài chính, khoa cử và lễ nghi, quân sự, tư pháp, và xây dựng công trình công cộng. Các văn phòng này phản ánh các chức năng của Lục Bộ, với một quan huyện giám sát các chức năng này ở cấp huyện. Các cấu trúc chức năng ở các cấp trung gian cũng theo mô hình tương tự, mặc dù chúng không được mô tả trong sơ đồ.

Các gen thể chế được mô tả trong Hình 1.1 đến 1.4 đã tiến hóa và được hoàn thiện trong suốt 2.000 năm của đế chế, tự tái tạo một cách bền bỉ ở cốt lõi của hệ thống đế chế. Dù đó là một sự thay đổi triều đại do một cuộc khởi nghĩa nông dân hay một triều đại được cai trị bởi các thế lực ngoại xâm, những gen thể chế này vẫn tiếp tục được tái tạo. Ngay cả sau sự sụp đổ của hệ thống đế chế, những gen thể chế này vẫn tiếp tục chi phối con đường tiến hóa thể chế của Trung Quốc thông qua các lựa chọn của các nhà cải cách và giới tinh hoa cách mạng.

Ghi chú

6. Cuốn The Great Divergence (2000) của Kenneth Pomeranz thảo luận về các con đường phát triển khác nhau được thực hiện bởi các khu vực khác nhau trên thế giới trong thời đại nhà Minh. Tuy nhiên, Pomeranz không tập trung chủ yếu vào các thể chế.

7. Chương 12 và 13 sẽ đi sâu vào sự hình thành và cơ chế của RADT. Các phân tích trong các tài liệu hiện có về những sự kiện quan trọng này trong lịch sử Trung Quốc có xu hướng tập trung vào các yếu tố cá nhân và các tình huống ngẫu nhiên, thường bỏ qua các nguyên nhân thể chế. Tuy nhiên, để hiểu được cách các thể chế đã tiến hóa trong quá trình cải cách hậu Mao đòi hỏi phải hiểu được các nền tảng thể chế của cả Cách mạng Văn hóa và Đại Nhảy Vọt.

8. Trong những năm 1980, các nhà lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ như Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang, và Triệu Tử Dương đã đề cập đến chủ đề cải cách chính trị, dẫn đến sự xuất hiện của khái niệm chủ nghĩa chuyên chế mới. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận này đã bị dừng lại đột ngột. Chương 13 sẽ đi sâu hơn vào chủ đề này.

9. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên khi tôi phân tích các thể chế của Trung Quốc trong giai đoạn đầu cải cách (Xu, 2011).

10. Nguyên tắc tương thích-khuyến khích cho rằng trong bất kỳ thể chế nào, hành vi của các cá nhân sẽ phù hợp với các quy tắc của thể chế chỉ khi các khuyến khích và ràng buộc được thiết lập bởi thể chế hài hòa với các động cơ tư lợi của những cá nhân này. Nguyên tắc này đảm bảo tính bền vững của một thể chế hoặc sự thành công của sự thay đổi thể chế. Chúng ta gọi một thể chế thỏa mãn nguyên tắc tương thích-khuyến khích là một "thể chế tương thích-khuyến khích". Chương 2 cung cấp một giải thích chi tiết về tính tương thích-khuyến khích.

11. Hệ thống junxian, xuất hiện trong các thế kỷ trước triều đại nhà Tần, cho phép các quân chủ kiểm soát lãnh thổ trực tiếp thông qua các quan lại được bổ nhiệm kiểm soát các quận (jun) và huyện (xian) thay vì chia sẻ quyền kiểm soát với một tầng lớp quý tộc được phong đất. Nó đã là thể chế quản trị cơ bản ở Trung Quốc kể từ triều đại nhà Tần.

12. Điều quan trọng cần lưu ý là khái niệm quyền sở hữu được áp dụng trong cuốn sách này là "quyền kiểm soát tối hậu" (Chương 3), ngụ ý rằng hoàng đế là chủ đất tối cao miễn là ông duy trì quyền quyết định cuối cùng về đất đai, bất kể quyền sử dụng, bán, hoặc mua, và định đoạt đất đai có được giao cho thường dân hay quan lại hay không (Chương 4).

(Còn tiếp)

H.T.C.

Dịch giả gửi BVN


* Cũng tương tự, ở Việt Nam tuyệt đại bộ phận giới trí thức thời các cụ Phan và trước đó chịu ảnh hưởng của Trung quốc, các thế hệ sau dưới ảnh hưởng của văn hóa Pháp chịu ảnh hưởng của Rousseau chứ không phải Locke.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn