Những chuyện ít được biết về... Côn Đảo (Kỳ III)

Lê Nguyễn

CÔN ĐẢO TRONG QUAN HỆ VIỆT - PHÁP THẾ KỶ XVIII

Theo chính sử, thời gian chúa Nguyễn Ánh tránh quân Tây Sơn ở Côn Đảo rất ngắn. Chúa đến đó vào tháng 6 AL năm 1783 thì đến tháng 7 AL, Phò mã nhà Tây Sơn là Trương Văn Đa đã mang quân ra vây khốn quần đảo này. May mắn là một trận mưa to gió lớn nổi lên dữ dội khiến thuyền Tây Sơn bị tan vỡ, chìm đắm rất nhiều. Nhờ đó, thuyền của chúa mới vượt được vòng vây, ghé hòn Cổ Cốt rồi trở lại đảo Phú Quốc (Đại Nam thực lục – Tập I – sđd, trang 217-218). Lúc bấy giờ, ông mới thực hiện một mưu tính đã được sắp xếp từ lâu. Đó là cho mời Giám mục Bá Đa Lộc đang ở Chantabun (Thái Lan) đến tương kiến để bàn về kế hoạch cầu viện nước Pháp.

* TỪ HIỆP ƯỚC VERSAILLES NGÀY 28.11.1787 ...

Chúng ta biết rằng vào ngày 28.11.1787, Giám mục Bá Đa Lộc đã thay mặt chúa Nguyễn Phúc Ánh ký với triều đình vua Louis XVI hiệp ước Versailles có sự trao qua đổi lại giữa hai phía trên tinh thần tương nhượng. Câu hỏi được đặt ra là liệu nội dung hiệp ước do Bá Đa Lộc tự ý thương thảo hay có sự sắp xếp, đồng thuận trước chuyến đi?

Trước đây, hầu hết tư liệu viết về sự kiện này đã bỏ sót một chi tiết quan trọng, đó là trước chuyến đi của Bá Đa Lộc, vào năm 1783, “Hội đồng hoàng gia ở Đàng Trong” (Người Pháp viết “Conseil royal de la Cochinchine”) đã nhóm họp và thông qua một nghị quyết (délibération) với 14 điều khoản, trong đó quan trọng hơn cả có điều 6 (Pháp giúp chúa Nguyễn 1.500 quân), điều 8 (nhượng cảng Đà Nẵng cho Pháp), điều 10 (nhượng Côn Đảo cho Pháp).

Bản nghị quyết đề ngày mùng 10 tháng 7 âm lịch năm Cảnh Hưng thứ 43, nhằm ngày 18.8.1782 và hiện bản gốc của văn kiện này còn được lưu trữ tại văn khố Bộ Ngoại giao Pháp (Alexis Faure – sđd, trang 53-54). Nội dung bản nghị quyết gần như được tái hiện hoàn toàn trong Hiệp ước Versailles được hai bên Việt-Pháp ký tại Paris 5 năm sau đó (28.11.1787). Phần phụ lục trong tác phẩm L’empire d’Annam của Đại úy Ch. Gosselin, xuất bản tại Paris năm 1904, có đăng toàn văn bằng tiếng Pháp nghị quyết này (trang 491-493), tiếp đó là bản dịch ra tiếng Pháp của lá thư do chúa Nguyễn Ánh viết gửi cho vua Louis XVI (trang 493-494)

Với nghị quyết trên, Côn Đảo đã trở thành một “món hàng” đắt giá mà chúa Nguyễn Ánh muốn sử dụng để có được những phương tiện cần thiết hòng lật lại thế cờ đang nghiêng về phía nhà Tây Sơn. Như vậy, số phận của nó đã được quyết định từ năm 1782, không phải chờ đến khi chúa Nguyễn lưu lạc trên đất Xiêm (Thái Lan) vào năm 1784 như nhiều người lầm tưởng.

Theo thông lệ về giao ước giữa hai nước, khi vị quốc trưởng không đích thân thương thảo với phía đối tác, sẽ cho một người con của mình đi để làm tin, chúa Nguyễn quyết định cho con trai cả mới bốn tuổi là hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh đi theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp (Đại Nam Thực Lục - Tập 1- sđd, trang 218).

Tuy nhiên, phải chờ đến đầu năm 1785, hoàng tử Cảnh mới xuống tàu đi Pháp, có sự kèm cặp của Bá Đa Lộc và hai thuộc tướng của chúa Nguyễn Ánh là Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Liêm.

Ngay trong thời gian đầu của chuyến đi, đã có những dấu hiệu bất ổn, báo trước một tương lai không mấy sáng sủa trong sứ mạng của Bá Đa Lộc. Trong hành trình sang Pháp, cuối tháng 2.1785, tàu của phái bộ ghé lại vùng Pondichéry thuộc Pháp trên đất Ấn Độ đang nằm dưới quyền cai trị của một Thiếu tướng Pháp tên Coutanceau des Algrains (1730-1788).

Sau khi nghe qua lời kể của vị Giám mục về tình hình cuộc nội chiến tại Việt Nam và nhu cầu hỗ trợ của chúa Nguyễn, Coutanceau khẳng định dứt khoát chủ trương không nhúng tay vào chuyện này. Trong bức thư viết riêng cho một người bạn thân, viên chức này đã thổ lộ “Tôi nghi ngờ là ông Giám mục thân mến (ám chỉ Bá Đa Lộc – LN) mà người ta cho biết là rất thân tình với quốc vương Đàng Trong đang có một tham vọng lớn muốn gia tăng lợi tức và sự cả tin của những người theo Thiên Chúa giáo ở vương quốc này…” (Georges Taboulet –La geste française en Indochine – Paris 1955, trang 180).

Thái độ bất hợp tác của viên Toàn quyền đẩy Bá Đa Lộc vào một tâm trạng hụt hẫng.

Bên cạnh thái độ gần như bất hợp tác của Toàn quyền Pondichéry thuộc Pháp tại Ấn Độ là Coutanceau des Algrains, Giám mục Bá Đa Lộc còn đối mặt với sự chỉ trích kịch liệt của các tu sĩ dòng Phan-xi-cô (Franciscains) tại La Mã. Ông ta kéo dài thời gian ở lại Ấn Độ trong một tâm trạng vô cùng thất vọng, đến nổi đã làm một việc bất ngờ hầu như không thấy các tài liệu viết về thời kỳ này đề cập đến. Đó là vào ngày 8.7.1785, Bá Đa Lộc đã viết thư cho Thượng viện Macao (Sénat de Macao) mượn lý do tôn giáo, xin được phó thác hoàng tử Cảnh cho người Bồ Đào Nha trông nom! (Georges Taboulet – sđd, trang 178).

Người ta không rõ do đâu mà Bá Đa Lộc làm như vậy, vì hoàng tử Cảnh là người con trưởng mà chúa Nguyễn Ánh ủy thác cho ông ta để làm tin trước triều đình của Pháp hoàng Louis XVI. Nếu làm việc này không có sự thỏa thuận của chúa Nguyễn, ông ta đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng. Có lẽ đó là lý do mà hơn một năm sau, vào tháng 10.1786, trong thời gian nương náu tại Vọng Các (Bangkok), kinh đô của nước Xiêm (Thái Lan), chúa Nguyễn Ánh nhận được một thư của Thống đốc đảo Goa (thuộc Bồ Đào Nha), mời ông đến thăm Goa, nơi đã có sẵn 56 chiến thuyền sẵn sàng hỗ trợ ông.

Điều dễ hiểu là chúa Nguyễn đã từ khước lời đề nghị của viên Thống đốc Bồ Đào Nha, vì kế hoạch trao đổi với Pháp đã được bàn thảo kỹ. Khoảng giữa năm 1786, Toàn quyền Coutanceau được thay thế bằng một viên chức khác có lập trường mềm dẻo hơn, sau hơn 15 tháng lưu trú tại Ấn Độ, Giám mục Bá Đa Lộc cùng phái bộ lên đường đến Pháp, đặt chân lên Lorient và Paris vào những tháng đầu năm 1787.

Cuộc tiếp xúc của phái bộ Việt trên đất Pháp xem ra có nhiều thuận lợi, sự hiện diện của vị hoàng tử Đại Việt mới 7 tuổi, khôi ngô, tuấn tú, tạo ra được nhiều mỹ cảm của triều đình Pháp, đặc biệt là bà hoàng hậu Marie Antoinette. Hiệp ước Versailles được ký kết ngày 28.11.1787 giữa đại diện hoàng đế Louis XVI là Bộ trưởng Ngoại giao, bá tước Montmorin và đại diện chúa Nguyễn Ánh là Giám mục Bá Đa Lộc, với những điều khoản căn bản phù hợp với bản “nghị quyết hoàng gia” năm 1782, và Côn Đảo vẫn là một trong hai món hàng trao đổi quan trọng nhất.

Chân dung hoàng tử Cảnh do họa sĩ cung đình Pháp Gustave Maupérin vẽ tại Paris năm 1787

Bộ trưởng Ngoại giao, bá tước de Montmorin, người thay mặt Pháp hoàng Louis XVI ký hiệp ước Versailles ngày 28.11.1787 - Nguồn: Wikipedia

Trang cuối Hiệp ước Versailles 28.11.1787 có chữ ký của de Montmorin (trên) và Bá Đa Lộc (dưới) - Nguồn : Wikipedia

Song giai đoạn thi hành hiệp ước lại không dễ dàng như kỳ vọng của Bá Đa Lộc. Vào thời điểm này, công khố của nước Pháp lâm vào tình trạng kiệt quệ, chính quyền Paris đã ủy thác sự thi hành hiệp ước cho Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Pondichéry là Thiếu tướng, bá tước De Conway.

Bá tước, Trung tướng Thomas de Conway, Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Pondichéry (1787)

Để khích lệ viên tướng này, vua Louis XVI đã thăng ông ta lên Trung tướng và đích thân Bá Đa Lộc mang cấp bậc mới đến Ấn Độ, trực tiếp trao cho De Conway để mua lòng ông ta. Song vì nhiều lý do, trong đó không thể không có lý do thiếu thốn về tài chánh mà mối quan hệ giữa De Conway và Bá Đa Lộc trên đất Ấn Độ ngày càng tồi tệ. Cả hai trao đổi thư qua tin lại nhiều lần, mỉa mai, xúc xiểm nhau, gửi thư cho nhiều quan chức của triều đình Pháp để kêu gọi họ hỗ trợ cho lập trường của mình.

Côn Đảo là một trong những vấn nạn mà De Conway đặt ra cho Bá Đa Lộc một cách gay gắt nhất. Có lần, trong một cuộc gặp mặt, viên Tổng chỉ huy quân đội ở Pondichéry hỏi vị Giám mục về nguồn tài nguyên ở Côn Đảo, muốn biết ở đảo có bò để kéo xe hay kéo pháo không. Song, hỏi thì hỏi, ông ta vẫn không tin ở lời miêu tả của vị Giám mục về món hàng trao đổi này. Cuối cùng ông ta quyết định cử Hiệp sĩ Kersaint, Đại tá hải quân hoàng gia Pháp, đích thân đến Côn Đảo, thực hiện cuộc khảo sát tường tận về quần đảo này.

Bá tước - Đại tá Armand de Kersaint (1742-1793)-Nguồn: musee-collection-privee-

* ... ĐẾN CUỘC KHẢO SÁT CÔN ĐẢO CỦA ĐẠI TÁ KERSAINT

Ngày 15.8.1788, Hiệp sĩ Kersaint, Đại tá hải quân hoàng gia Pháp, cùng tùy tùng hướng đến Côn Đảo trên hai chiếc tàu mang tên Dryade và Pandour, sau khi đã được bá tước De Conway dặn dò kỹ lưỡng. Trong thời gian chờ kết quả khảo sát của Kersaint tại Côn Đảo, cuộc đấu khẩu giữa Giám mục Bá Đa Lộc và bá tước De Conway tạm dừng lại.

Ngày 13.3.1789, Kersaint quay về Pondichéry, mang theo bản tường trình về kết quả công tác được giao phó trên hai vùng đất Tourane (Đà Nẵng) và Côn Đảo. Những thông tin thu thập được bi quan đến mức bao nhiêu lời tô vẽ của Giám mục Bá Đa Lộc về Côn Đảo trở thành những lời sáo rỗng và dối trá.

Thế rồi cả Bá Đa Lộc và De Conway củng báo cáo về Paris những gì Kersaint tường trình về Côn Đảo, mỗi người một cách trình bày và suy diễn khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Nhận định dứt khoát của viên Trung tướng Tổng chỉ huy quân đội ở Pondichéry là những gì nước Pháp được hứa hẹn trao đổi chẳng có giá trị là bao, trong khi chiến phí hỗ trợ cho chúa Nguyễn lên đến một con số rất cao (Georges Taboulet – sđd, trang 180-207).

Đoán biết trước kết quả thảm hại trong sứ mạng được chúa Nguyễn Ánh giao phó, giám mục Bá Đa Lộc lợi dụng thời gian nấn ná ở Pondichéry để thực hiện cuộc huy động tài chánh hầu mua thêm tàu bè, vũ khí và thuê một số cựu sĩ quan, chuyên gia Pháp đang sống ở đây, đưa họ về Gia Định, cộng tác cùng chúa Nguyễn.

Cuối cùng, việc phải đến đã đến. Ngày 15.6.1789, chiếc tàu La Méduse đưa phái bộ Bá Đa Lộc, hoàng tử Cảnh cùng những người Pháp vừa tuyển dụng được trở lại Gia Định, lúc này đã nằm dưới sự kiểm soát của chúa Nguyễn Ánh. Trên đường về, tàu La Méduse dừng lại Côn Đảo một thời gian ngắn.

Như vậy, với sự thất bại hoàn toàn của Thỏa ước Versailles ngày 28.11.1787, mọi kết ước giữa hai phía Việt-Pháp xem như vô hiệu, một lần nữa Côn Đảo vuột khỏi tầm tay của người Pháp, và những thuyền trưởng phương Tây vẫn thỉnh thoảng ghé lại đây trong những hải trình đầy gian khó.

Năm 1792, trong chuyến trở về Bắc Kinh, một viên chức trong sứ quán Anh tại Trung Quốc là John Barrow đã tình cờ thả neo tại Côn Đảo. Dù là không định trước, song những gì Barrow chứng kiến và kể lại trong tập du ký “A voyage to Cochinchina” ( Một chuyến đi đến xứ Nam Hà - London 1806) là những thông tin khá thú vị về Côn Đảo. Trên đường từ đảo Sumatra trở về, tình trạng bệnh hoạn của thủy thủ đoàn buộc Barrow phải thả neo lại trên cái vịnh của một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Côn Đảo và những gì ông ta chứng kiến thật hết sức bất ngờ.

Trông thấy những chiếc tàu to lớn gần bờ biển, cư dân trên đảo kéo nhau chạy lên núi để trốn, bỏ vương vải thức ăn trước cửa lều và để lại đó một tờ giấy viết bằng chữ Tàu với nội dung là thủy thủ đoàn của Barrow muốn lấy gì cứ lấy thoải mái, xong rồi đi khỏi đảo cho họ nhờ (John Barrow - A voyage to Cochinchina – London 1806, trang 244).

Không có mô tả ảnh.

Nhà ngoại giao John Barrow, tác giả quyển A voyage to Cochinchina. Nguồn: Wikipedia

L.N.

6.4.2026

(Lược trích từ Chương I một bản thảo sẽ in thành sách vào nửa sau năm 2026)

KỲ SAU (KỲ CUỐI):

Côn Đảo trở thành nhà tù từ bao giờ?

Nguồn: FB Lê Nguyễn

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn