Gen thể chế (Kỳ 4 – Phần cuối Dẫn nhập)

Hứa Thành Cương (Chenggang Xu-許成鋼)

Đại học Stanford

Nguyễn Quang A dịch

DẪN NHẬP

1.6. GEN THỂ CHẾ: TỪ HỆ THỐNG ĐẾ CHẾ ĐẾN CHỦ NGHĨA TOÀN TRỊ CỘNG SẢN

Chủ nghĩa toàn trị cộng sản không phải là sản phẩm bản địa của Trung Quốc; trên thực tế, nó là một hệ thống được du nhập. Những người phản đối việc áp dụng chủ nghĩa lập hiến và dân chủ ở Trung Quốc khẳng định rằng đây là những thể chế ngoại lai và do đó chúng không phù hợp với Trung Quốc, dự đoán sự thất bại không thể tránh khỏi của chúng. Tuy nhiên, chủ nghĩa toàn trị cũng là ngoại lai đối với Trung Quốc. Vậy tại sao, nó lại được coi là "phù hợp với Trung Quốc"? Hơn nữa, tại sao chủ nghĩa toàn trị lại bén rễ sâu đến vậy trong xã hội Trung Quốc? Những vấn đề này được đề cập trong các Chương 4, 5, và 9–12.

Một lời giải thích phổ biến cho các cuộc cách mạng ở Trung Quốc thế kỷ 20 tập trung vào chủ nghĩa dân tộc sâu sắc của đất nước. Lời giải thích này thực sự nắm bắt được một phần sự thật, vì chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, dù công khai hay ngấm ngầm, đã đóng một vai trò then chốt trong Cách mạng Cộng hòa và Phong trào Ngũ Tứ, vốn đã đặt nền móng cho ĐCSTQ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là Nga là kẻ chiếm đóng lãnh thổ Trung Quốc lớn nhất vào cuối thế kỷ 19, một sự thật mà người Trung Quốc đều biết rõ. Ngoài ra, trong Chiến tranh Nga-Nhật, Đế chế Thanh đã ủng hộ những nỗ lực của Nhật Bản nhằm trục xuất lực lượng Nga khỏi Trung Quốc. Nếu áp dụng quan điểm chủ nghĩa dân tộc một cách máy móc, cuộc cách mạng lấy cảm hứng từ Nga lẽ ra phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa trong thời kỳ dâng cao của chủ nghĩa dân tộc sau Ngũ Tứ. Kỳ lạ thay, các nhà cách mạng cấp tiến của Trung Quốc, bao gồm các nhân vật nổi bật như Tôn Trung Sơn, Uông Tinh Vệ, Liêu Trọng Khải, và những người tham gia có ảnh hưởng trong Phong trào Ngũ Tứ như Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu, đã nồng nhiệt đón nhận các ý tưởng cách mạng của những người Bolshevik Nga ngay khi tiếp xúc với chúng.

Tại sao?

Bất kể những lựa chọn chiến lược của các nhà lãnh đạo cách mạng cá nhân, sự nhiệt thành cách mạng của quần chúng tham gia, những người dân tộc chủ nghĩa cuồng nhiệt, không chỉ là một yếu tố mà những nhân vật này hiếm khi có thể tự tạo ra mà còn là một yếu tố không thể bỏ qua. Cuốn sách này đi sâu vào câu hỏi này bằng cách xem xét các gen thể chế của hệ thống đế chế Trung Hoa truyền thống và hệ thống toàn trị qua lăng kính của sự tiến hóa thể chế tương thích-khuyến khích (incentive-compatible).

Cuộc Cải cách Bách nhật năm 1898, nhằm mục đích thiết lập một nền quân chủ lập hiến, là nỗ lực đầu tiên trong lịch sử 2.000 năm của Trung Quốc nhằm thách thức hệ thống đế chế. Lương Khải Siêu, một người ủng hộ hàng đầu của cuộc cải cách này, từng nói rằng trong lịch sử Trung Quốc chỉ có các cuộc nổi loạn, chứ không có các cuộc cách mạng. Theo ông, cách mạng có nghĩa là thay thế chế độ chuyên chế bằng chính phủ lập hiến; còn nổi loạn có nghĩa là một sự thay đổi triều đại nhưng giữ nguyên các thể chế. Bất kỳ thay đổi thể chế nào làm hạn chế quyền lực của hoàng gia đều không thể tránh khỏi việc không tương thích với lợi ích của những người cầm quyền. Do đó, những thay đổi thành công như vậy đòi hỏi sự tham gia của các lực lượng bên ngoài nằm ngoài sự kiểm soát của chế độ quân chủ. Chính quyền hoàng gia sẽ không bao giờ tự nguyện tán thành một sự chuyển đổi hòa bình sang chế độ quân chủ lập hiến nếu không có áp lực đáng kể từ bên ngoài, đủ mạnh và có cơ sở quyền lực riêng. Tuy nhiên, hai thiên niên kỷ cai trị của đế chế ở Trung Quốc đã xóa bỏ tầng lớp quý tộc và các nguồn quyền lực độc lập quan trọng khác, và các lĩnh vực ảnh hưởng còn lại bên ngoài sự kiểm soát trực tiếp của hoàng gia đều bị giữ ở mức nhỏ và yếu.¹³ Các gen thể chế của hệ thống đế chế, với sự kiểm soát độc quyền cao độ đối với quyền sử dụng đất, đã định trước rằng một nền quân chủ lập hiến sẽ là một sự thay đổi không tương thích về mặt thể chế.

Thật vậy, Cải cách Bách nhật và các cuộc Cải cách cuối thời Thanh sau đó chỉ là những nỗ lực nhất thời nhằm tự bảo tồn của triều đình. Theo nguyên tắc tương thích-khuyến khích, một khi mối đe dọa đối với sự tồn vong được loại bỏ, chính quyền đế chế sẽ sử dụng mọi nguồn lực có trong tay để chống lại các hạn chế và phá hoại chủ nghĩa lập hiến. Do đó, các cuộc cải cách thể chế không tương thích-khuyến khích được đưa vào Trung Quốc trong giai đoạn này đều lần lượt thất bại. Cuối cùng, nhiều nhà cải cách ban đầu ủng hộ một nền quân chủ lập hiến đã coi các cuộc cải cách của triều đình chỉ là hữu danh vô thực, và họ đã chuyển sang ủng hộ cuộc cách mạng nhằm lật đổ đế chế. Cách mạng Cộng hòa năm 1911 đã chấm dứt hệ thống đế chế tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng nó đã thất bại trong việc thiết lập một giải pháp thay thế lập hiến ổn định. Lực lượng tàn phá nhất làm mất ổn định nền Cộng hòa chính là Tôn Trung Sơn, nhà lãnh đạo của Cách mạng Cộng hòa. Ông đã khởi xướng một "Cuộc Cách mạng thứ hai" và đích thân phá bỏ hệ thống lập hiến mong manh vừa được thiết lập. Chương 9 sẽ đi sâu vào vai trò then chốt mà các gen thể chế của đế chế đã đóng trong nhiều sự kiện lịch sử có vẻ ngẫu nhiên.

Một loạt các cuộc cải cách lập hiến thất bại và Cách mạng Cộng hòa đã mở đường cho sự xuất hiện của chủ nghĩa toàn trị ở Trung Quốc. Ngay sau khi những người Bolshevik thiết lập một chế độ toàn trị ở Nga, họ đã tạo ra một cánh tay quốc tế, Comintern, và đã thiết lập một chi nhánh ở Trung Quốc, đó là ĐCSTQ. Điều này đánh dấu sự khởi đầu lịch sử của chủ nghĩa toàn trị ở Trung Quốc. Khi Comintern đang tìm cách thúc đẩy cách mạng toàn cầu, Trung Quốc được coi là một mục tiêu ngoại vi. Nhưng những nỗ lực của Comintern ở tất cả các quốc gia mục tiêu chính của chúng cuối cùng đều thất bại. Mặc dù quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa lập hiến hiếm khi suôn sẻ ở bất cứ đâu trên thế giới, nhưng việc một quốc gia tự nguyện lựa chọn và thực hiện thành công chủ nghĩa toàn trị là cực kỳ hiếm. Điều gì đã làm cho Trung Quốc trở nên đặc biệt đến nỗi ĐCSTQ, với sự hỗ trợ của Comintern, đã phát triển nhanh chóng như vậy, cuối cùng chiếm được quyền lực, thực hiện hệ thống Soviet, và tiếp tục thiết lập chủ nghĩa toàn trị mang đặc sắc Trung Quốc? Câu trả lời cho sự bất thường lịch sử này, được khám phá trong các chương tiếp theo, nằm ở mối quan hệ chặt chẽ giữa các gen thể chế của chủ nghĩa toàn trị và các gen của Đế chế Trung Hoa. Mặt khác, các gen thể chế của hệ thống đế chế Trung Hoa và những gen cần thiết cho một hệ thống lập hiến không chỉ cách xa nhau mà còn xung đột với nhau.

1.6.1. Cội nguồn Chủ nghĩa Toàn trị ở nước Nga Soviet

Chủ nghĩa Bolshevik Nga là hệ thống toàn trị đầu tiên trên thế giới. Mặc dù Marx khẳng định rằng một cuộc cách mạng vô sản chỉ có thể xuất hiện ở các nền kinh tế tư bản phát triển nhất, chứ không phải ở một nơi lạc hậu như Nga hay Trung Quốc, những người Bolshevik đã tự nhận là người Marxist và gọi cuộc cách mạng của họ là cách mạng vô sản. Vậy tại sao Nga lại là nơi khai sinh ra chủ nghĩa toàn trị? Câu hỏi này liên quan trực tiếp đến việc hiểu sự xuất hiện của chủ nghĩa toàn trị ở Trung Quốc và tương lai của Trung Quốc. Lời giải thích trong cuốn sách này tập trung vào cách các gen thể chế của nước Nga Sa hoàng đã góp phần tạo ra hệ thống toàn trị Soviet.

Một số tác giả mô tả việc những người Bolshevik thành lập chính quyền Soviet là một tập hợp các sự kiện ngẫu nhiên hoặc sự xuất hiện của chủ nghĩa toàn trị Soviet ở Nga là kết quả của âm mưu, xảo quyệt và bạo lực tàn bạo. Mỗi chuyện kể (narrative) đều phản ánh những khía cạnh quan trọng của lịch sử. Tuy nhiên, việc thực hiện bạo lực quy mô lớn như vậy đòi hỏi nhiều người phải thực hiện nó một cách tự nguyện, thậm chí một cách sáng tạo và cuồng tín. Sự kích động, cuồng tín, tổ chức và tàn bạo của những người Bolshevik đòi hỏi một cơ chế khuyến khích cực kỳ mạnh mẽ.¹⁴ Vì vậy, lịch sử không thể được giải thích hoàn toàn chỉ vì sự tàn bạo của một băng nhóm âm mưu. Những đặc điểm tương tự này đã đặc trưng cho dòng Bolshevik sau này phát sinh ở Trung Quốc với sự hỗ trợ của Comintern.

Các thảm kịch của phong trào Cải cách Ruộng đất, Chiến dịch Trấn áp Phản cách mạng, Chiến dịch Chống Cánh hữu, và Đại Nhảy Vọt của Trung Quốc, theo sau là Cách mạng Văn hóa, tất cả đều cho thấy sự tham gia nhiệt tình và tích cực của hàng triệu tín đồ cuồng tín, được hướng dẫn và thúc đẩy bởi các nhà lãnh đạo toàn trị. Cuộc cách mạng do ĐCSTQ dẫn đầu đã tạo ra những động lực đủ mạnh để đoàn kết cả dân tộc, bất chấp mô tả của Tôn Trung Sơn về người dân Trung Quốc là rời rạc như "một tấm cát rời". Vậy, điều gì đã kích động sự đoàn kết này? Sự cộng hưởng cảm xúc và kỷ luật tổ chức của đảng không thể chỉ được quy cho sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nếu nó không hoàn toàn là ngẫu nhiên, thì cơ chế cơ bản là gì?

Các chương 7 và 8 phân tích sự xuất hiện của ba gen thể chế trong thời kỳ Sa hoàng đã dẫn đến chủ nghĩa toàn trị của Liên Xô: các tổ chức khủng bố chính trị bí mật của cuối thời Nga Sa hoàng, Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, và các thể chế cai trị của đế chế dưới thời các sa hoàng. Ngay từ đầu, những người Bolshevik đã khác biệt rõ rệt so với các đảng Marxist khác trong các nguyên tắc và phương pháp tổ chức của họ, vốn được thừa hưởng từ các tổ chức chính trị khủng bố bí mật phổ biến trong xã hội Nga.

Khi Lenin thành lập phe Bolshevik của Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga (RSDLP) vào năm 1903, các nguyên tắc nền tảng của nó phản ánh gần gũi những nguyên tắc của Narodnaya Volya (Наро́дная во́ля), hay Ý chí Nhân dân, một tổ chức khủng bố chính trị nổi bật của thời đại đó. Anh trai của Lenin, người bị xử tử sau một vụ ám sát Sa hoàng bất thành, là một nhà lãnh đạo địa phương của Narodnaya Volya và một số nhà lãnh đạo Bolshevik ban đầu có mối liên hệ chặt chẽ với tổ chức này. Ngay cả những nhân vật hàng đầu của phong trào cộng sản quốc tế vào thời điểm đó, như Karl Kautsky và Rosa Luxembourg, cũng chỉ trích những người Bolshevik của Lenin là một tổ chức khủng bố và khẳng định rằng chế độ Soviet sẽ mang lại một triều đại khủng bố.¹⁵

Tuy nhiên, đảng toàn trị vượt xa các tổ chức khủng bố chính trị bí mật về năng lực. Sự khác biệt lớn nhất nằm ở hệ tư tưởng có hệ thống, có sức hấp dẫn cao, sự kích động cực kỳ mạnh mẽ, và khả năng huy động rộng rãi, giống như tôn giáo, lan tỏa khắp xã hội. Nguồn gốc của năng lực huy động phi thường này có thể được truy ngược lại hơn một nghìn năm qua lịch sử của Kitô giáo và Giáo hội (xem Chương 6).

Trong những năm cuối đời, Engels đã viết về nguồn gốc của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội trong Kitô giáo sơ khai (Engels, 1895). Kautsky cũng đã khám phá nguồn gốc của tư tưởng cộng sản trong Kinh thánh, chỉ ra Cải cách thời trung cổ là nguồn gốc của các phong trào cộng sản sớm nhất. Đặc trưng bởi sự cuồng tín và tàn bạo cực đoan, những phong trào này – một số được thực hiện trên quy mô đáng kể – là một đặc điểm đặc trưng của Cải cách ở một số vùng của châu Âu (Kautsky, 1897, tr. 12–17). Chúng thể hiện rõ ở một số thị trấn và thành phố trên khắp Trung và Tây Âu, và đôi khi trong các xã hội cộng sản tồn tại ngắn ngủi đã được thành lập, chẳng hạn như những người Hussite ở Bohemia và Công xã Münster ở Đức. Nhiều khía cạnh khác của tư tưởng Marxist, bao gồm ý tưởng về tính tất yếu lịch sử, sự sụp đổ của thế giới cũ và sự trỗi dậy của một thế giới mới, niềm tin vào một vị cứu tinh và sự cứu rỗi, và sự tử vì đạo, đều có nguồn gốc sâu xa trong Kitô giáo (xem Chương 6). Theo nhiều cách, phong trào cộng sản quốc tế do Marx và Engels lãnh đạo giống như một cuộc Cải cách thứ hai nhưng với tính tất yếu lịch sử, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Marx, và Das Kapital (Tư bản luận) thay thế cho Chúa, Thiên đường, Chúa Giê-su, và Kinh thánh. Chương 6, dựa trên bằng chứng lịch sử từ châu Âu, giải thích nguồn gốc Kitô giáo của một tôn giáo thế tục, tức là, chủ nghĩa toàn trị cộng sản. Nó cũng giải thích cách gen thể chế này đã làm cho chủ nghĩa toàn trị cộng sản trở thành hệ tư tưởng và thể chế có ảnh hưởng nhất vào một thời điểm. Đây là điểm khởi đầu trí tuệ để hiểu các phong trào cộng sản cuồng tín ở Nga và Trung Quốc.

Giống như đóng góp lớn nhất của Đế chế La Mã đối với Kitô giáo là việc thiết lập nó làm quốc giáo, đóng góp chính của những người Bolshevik cho phong trào cộng sản là việc tạo ra một chế độ caesaropapism toàn trị thế tục được thành lập dựa trên hệ tư tưởng Marxist. Về hệ tư tưởng và sự huy động, các gen thể chế cho chủ nghĩa toàn trị ở Nga bắt nguồn từ nhánh Kitô giáo thống trị ở nước Nga Sa hoàng: Chính thống giáo Nga, vốn đã thấm nhuần vào dân chúng của vùng đất này từ rất lâu trước khi Đế chế Nga tồn tại. Dù là do thiết kế hay vô tình, những người Bolshevik đã chiếm đoạt các cơ chế tuyên truyền, tổ chức và trừng phạt đã được thiết lập tốt của Giáo hội Chính thống để huy động, thu hút và cai trị trong nhiều thế kỷ. Thông qua những đặc điểm được thừa hưởng này của Giáo hội Chính thống, những người Bolshevik đã thâm nhập và thực thi quyền kiểm soát đối với xã hội Nga, từ hệ tư tưởng đến tổ chức và cấu trúc quyền lực. Mặc dù có thể là ngẫu nhiên khi Stalin nhận được một nền giáo dục chính quy tại một chủng viện Chính thống giáo, sự mô phỏng thành công của những người Bolshevik đối với Giáo hội Chính thống còn hơn cả sự tình cờ. Trong tôn giáo chính trị này,¹⁶ các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lênin đã thay thế Kinh thánh, các liệt sĩ cách mạng thay thế các liệt sĩ Kitô giáo, và xã hội cộng sản nổi lên như một thiên đường mới. Phản ánh các phương pháp của các tông đồ trong việc truyền bá tin tức về Chúa Giê-su Kitô, những người Bolshevik đã thiết lập một sự sùng bái cá nhân xung quanh nhà lãnh đạo của họ, nâng ông lên địa vị của một vị thánh và vị cứu tinh. Các anh hùng và liệt sĩ cách mạng đã được phong thánh, các chiến công của họ được tưởng niệm, và các đền thờ được dựng lên để vinh danh họ. Phong tục tôn giáo về các nghi lễ quần chúng đã được sao chép, trong khi sự sám hối với Chúa đã được chuyển thành sự sám hối với đảng. Lưu Thiếu Kỳ đã đặt ra cụm từ tương ứng "phê bình và tự phê bình" để sử dụng ở Trung Quốc, một quốc gia không có truyền thống tôn giáo tương đương, trong cuốn sách năm 1939 của ông Luận về Tu dưỡng của người Đảng viên Cộng sản. Dưới chế độ của Stalin ở Liên Xô, các tác phẩm Marxist kinh điển đóng vai trò là Cựu Ước, trong khi cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô (Bolshevik): Khóa học ngắn của Stalin (Stalin, 1975), được bổ sung bằng công trình của Lenin về chủ nghĩa Bolshevik, đã cấu thành Tân Ước. Mao Trạch Đông đã áp dụng bản thiết kế này, chuyển đổi các tập lịch sử được viết lại thành "kinh điển" không thể tranh cãi của Trung Quốc và tự giới thiệu mình là "Vị Cứu tinh Vĩ đại của Nhân dân Trung Quốc".

Khi chiếm được quyền lực, những người Bolshevik đã sớm thống trị mọi khía cạnh của xã hội Nga bằng cách kiểm soát chính phủ và tất cả các nguồn lực. Các gen thể chế cho chủ nghĩa toàn trị, về mặt kiểm soát thực tế, bắt nguồn từ Đế chế Sa hoàng. Chúng bao gồm sự độc quyền của Sa hoàng và triều đình của ngài đối với các quyền lực chính trị, kinh tế, quân sự và tư pháp, cấu trúc quyền lực độc quyền cao độ của hệ thống, sự kiểm soát đối với Giáo hội, và sự đồng thuận xã hội (tính chính danh) ủng hộ việc độc quyền hóa quyền lực thông qua bạo lực. Trên cơ sở này, những người Bolshevik đã phát triển một hệ thống toàn trị với sự độc quyền toàn bộ về quyền lực và quyền sở hữu chưa từng có trong lịch sử nhân loại, kiểm soát toàn bộ và toàn diện mọi khía cạnh của xã hội.

Lý thuyết Marxist, vang vọng chủ đề cứu rỗi của Kitô giáo, cho rằng cuộc cách mạng cộng sản quốc tế chỉ có thể chiến thắng một khi mọi người trên thế giới đều được giải phóng.

1.6.2. Sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Toàn trị Cộng sản ở Trung Quốc

Comintern đã cử đại diện đến Trung Quốc ngay sau khi được thành lập nhưng các đại biểu của họ phát hiện ra rằng Trung Quốc đi sau các nền kinh tế tiên tiến 500 năm. Theo chủ nghĩa Marx-Lênin, sự lạc hậu như vậy chỉ có thể là ngoại vi đối với các hoạt động của Comintern. Tuy nhiên, nghịch lý thay, Trung Quốc lại nổi lên như là thành công quan trọng nhất của Comintern, nếu không muốn nói là thành công duy nhất của nó. Như được làm sáng tỏ trong các Chương 8–10, các gen thể chế của Trung Quốc có một sự tương đồng đáng kinh ngạc với những gen đã tạo ra chủ nghĩa Bolshevik, trong khi chúng lại khác biệt rõ rệt so với những gen ở phương Tây. Trong ba gen thể chế đã tạo ra chủ nghĩa toàn trị Soviet, hai gen tương tự đã có mặt ở Trung Quốc: hệ thống đế chế và truyền thống các hội kín. Sự độc quyền hóa quyền lực, sự kiểm soát nghiêm ngặt, và sự ổn định thể chế tổng thể của hệ thống đế chế Trung Hoa còn rõ rệt hơn cả của nước Nga Sa hoàng. Hơn nữa, các hội kín của Trung Quốc, chẳng hạn như Bạch Liên giáo, Thanh Bang, Thiên Địa hội, Hội Tam Hoàng, và Hội Anh em, có một lịch sử lâu dài hơn và có khả năng tinh vi hơn về mặt tổ chức so với các đối tác Nga của chúng. Dòng dõi chung này của các gen thể chế đã tạo điều kiện cho việc tạo ra một hệ thống Bolshevik ở Trung Quốc và sự khởi đầu của các phong trào toàn trị cộng sản tương thích-khuyến khích ở đó.

Tuy nhiên, một gen thể chế quan trọng trong nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị đã vắng mặt ở Trung Quốc: một truyền thống Chính thống giáo Đông phương. Các hoàng đế đã hạn chế sự du nhập của Kitô giáo và các hệ tư tưởng phương Tây khác vào Trung Quốc. Không có niềm tin hoặc sự đồng thuận rộng rãi về một Thiên Chúa độc thần, Chân lý của Chúa, hay một Đấng Cứu thế, cũng như không có Giáo hội nào giữ vị trí có thẩm quyền quốc gia. Sự vắng mặt này đã hạn chế tiềm năng tạo ra các ý tưởng toàn trị theo kiểu chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa Lênin và làm cho việc biểu hiện một hệ tư tưởng như vậy dưới hình thức các thể chế toàn trị có khả năng thâm nhập và kiểm soát xã hội trở nên khó khăn. Do đó, việc tạo ra một hệ thống toàn trị ở Trung Quốc đòi hỏi sự tham gia trực tiếp từ một lực lượng bên ngoài, chẳng hạn như Comintern, để vun trồng và hỗ trợ các khía cạnh khác nhau, bao gồm thúc đẩy niềm tin, thống nhất tư tưởng, phát động tuyên truyền, và thành lập các tổ chức.

Cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong thời kỳ cuối của đế chế Trung Hoa, cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, kéo dài từ năm 1850 đến 1864, đã mượn các yếu tố của Kitô giáo. Một số giáo lý Kitô giáo đã được sử dụng để hợp pháp hóa cuộc nổi dậy và tỏ ra rất hiệu quả trong việc huy động quần chúng. Tuy nhiên, các nhà truyền giáo phương Tây và các cường quốc phương Tây đã từ chối hỗ trợ cuộc nổi dậy khi họ nhận ra rằng nó chỉ mang danh nghĩa Kitô giáo. Trong những năm tiếp theo, cả Tôn Trung Sơn và Mao Trạch Đông đều lấy Hồng Tú Toàn, nhà lãnh đạo của cuộc nổi dậy, làm hình mẫu. Không giống như cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, Comintern đã trực tiếp đưa một hệ tư tưởng mới vào Trung Quốc, dựng lên các thể chế mới, và tích cực nỗ lực sửa đổi các gen thể chế của Trung Quốc. Như Mao Trạch Đông đã tuyên bố, "Tiếng súng của Cách mạng Tháng Mười đã mang chủ nghĩa Marx-Lênin đến cho chúng ta".

Năm 1920, Comintern đã cử đại diện để thành lập chi nhánh của mình tại Trung Quốc. Từ khi ĐCSTQ chính thức thành lập vào năm 1921 cho đến khi Comintern giải thể vào năm 1943, ĐCSTQ đã hoạt động như một chi nhánh của Comintern và tự nhận mình là Bolshevik. Tất cả các quyết định lớn của ĐCSTQ đều phải được Comintern phê duyệt, tổ chức này đã cung cấp các nguồn lực tài chính và vật chất và lựa chọn các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng. Năm 1931, dưới sự hướng dẫn của Comintern, ĐCSTQ đã thành lập Cộng hòa Soviet Trung Hoa, chế độ toàn trị sơ khai đầu tiên của Trung Quốc. Từ năm 1931, khi Mao Trạch Đông tham gia vào ban lãnh đạo ĐCSTQ, đến năm 1938, khi ông lên đến vị trí lãnh đạo cao nhất của đảng, ông đã dựa rất nhiều vào Comintern để được công nhận, hỗ trợ trực tiếp và giám sát. Chiến dịch Chỉnh phong Diên An của đảng vào năm 1942 là một cuộc thanh trừng theo kiểu Stalin mang đặc sắc Trung Quốc, sau đó Mao Trạch Đông được nâng lên làm nhà lãnh đạo không thể thách thức, người có toàn quyền kiểm soát ĐCSTQ. Kể từ đó, ĐCSTQ đã trở thành một đảng Bolshevik độc lập với sự pha trộn các gen thể chế từ cả Trung Quốc Đế chế và Liên Xô, do đó tạo thành một gen thể chế Trung Quốc mới và độc đáo.

Sau Thế chiến thứ hai, ĐCSTQ, với sự hỗ trợ từ Liên Xô, đã chiến thắng trong Nội chiến Trung Quốc và sau đó thiết lập quyền kiểm soát toàn bộ đối với Trung Quốc. Từ năm 1949 trở đi, với đảng đóng vai trò là trụ cột của chế độ, chủ nghĩa toàn trị Soviet đã được cấy ghép toàn diện vào Trung Quốc, bao trùm các lĩnh vực đa dạng như kinh tế, chính trị, luật pháp, quân sự, giáo dục, và nghiên cứu khoa học, cùng nhiều lĩnh vực khác. Ngay cả hiến pháp đầu tiên của CHNDTH (PRC) cũng được xây dựng dưới áp lực từ Stalin và với sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô; Stalin đã đích thân xem xét bản dự thảo cuối cùng.

Ở những nơi mà các hệ thống toàn trị đã phát triển, chúng thường thể hiện sức mạnh đáng kể trong giai đoạn đầu. Các đảng toàn trị sử dụng các phương pháp như kích động, bạo lực, và cưỡng chế để tạo ra những động lực mạnh mẽ phi thường dẫn đến sự hình thành của "quần chúng". Những quần chúng này bị thao túng để trở thành những lực lượng đáng gờm phá hủy "thế giới cũ" và xây dựng một "thế giới mới" mà nghịch lý thay, cuối cùng lại khuất phục chính họ. Do đó, các đảng toàn trị dường như sở hữu năng lực thiết lập các hệ thống mâu thuẫn cơ bản với các động lực của đa số cá nhân trong xã hội.

Không giống như việc thiết lập các chế độ toàn trị, các hệ thống tương thích-khuyến khích ổn định và lâu dài đã xuất hiện trong lịch sử nhân loại đã tiến hóa một cách chậm chạp. Sự tiến hóa này là quá trình tổng hợp một số lượng lớn các thay đổi hoặc sự kiện ngắn hạn, cạnh tranh, có vẻ ngẫu nhiên. Trong một quá trình tiến hóa thể chế như vậy, các nhà lãnh đạo và những người tham gia ở tất cả các bên của cuộc cạnh tranh chủ yếu tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn, cục bộ. Đối với một đảng chính trị thông thường, bao gồm cả các đảng Dân chủ-Xã hội ban đầu trong phong trào cộng sản, các mục tiêu dài hạn không tương thích-khuyến khích là không khả thi do thiếu sức hấp dẫn để hỗ trợ bầu cử.

Nhưng một đảng toàn trị là một tổ chức bị chi phối bởi hệ tư tưởng, được kiểm soát chặt chẽ với kỷ luật sắt (các phe phái nội bộ bị cấm). Tổ chức chặt chẽ từ trên xuống và kỷ luật sắt của các đảng này cho phép họ thúc đẩy các hệ tư tưởng có sức quyến rũ và kích động cao độ, che giấu sự thật và đạt được mục tiêu cuối cùng là loại bỏ các đối thủ cạnh tranh và giành quyền kiểm soát toàn bộ xã hội thông qua một kế hoạch từng bước. Hệ tư tưởng cung cấp tính chính danh cho các mục tiêu toàn trị của họ và việc thực hiện từng bước là chiến lược của họ. Các chương 8 và 10–13 sử dụng bằng chứng lịch sử để phân tích cách những người Bolshevik và ĐCSTQ đã phân tách các mục tiêu lớn không tương thích-khuyến khích của họ thành nhiều mục tiêu ngắn hạn tương thích-khuyến khích, thường mâu thuẫn với nhau, được thực hiện một cách có hệ thống và bạo lực thông qua phương pháp chia để trị.

Bạo lực là một thành phần cố hữu của chủ nghĩa toàn trị. Tuy nhiên, các nguồn lực sẵn có cho bạo lực gắn liền mật thiết với năng lực huy động của chế độ toàn trị. Sự biến động bạo lực của cách mạng, qua đó các hệ thống toàn trị được rèn giũa và hoàn thiện, dựa vào sự huy động quần chúng của một bộ phận tinh hoa xã hội và tầng lớp lao động đáng kể, tập hợp họ cho sự nghiệp cách mạng.¹⁷ Ở Trung Quốc, ĐCSTQ đã huy động được sự ủng hộ của quần chúng một cách hiệu quả bằng cách tận dụng các gen thể chế của Trung Quốc để biến các mục tiêu tạm thời thành các hành động hoặc chiến dịch cách mạng phù hợp với các động lực ngắn hạn của một bộ phận dân chúng lớn. Ví dụ, nó đã hứa hẹn các quyền tự do dân chủ cho giới tinh hoa và cam kết đảm bảo quyền sử dụng đất và tài sản cho dân nghèo nông thôn. Tuy nhiên, ĐCSTQ đã bội ước tất cả những lời hứa này, được hậu thuẫn bởi các lực lượng cưỡng chế, chỉ trong vòng vài năm (xem Chương 11). Hơn nữa, những hành động này của ĐCSTQ giống như một sự lặp lại của những hành động của những người Bolshevik (xem Chương 8).

Bằng cách thiết kế một cách chiến lược một cơ chế cho cách mạng liên tục, các mục tiêu vốn không tương thích-khuyến khích có thể được phân tách thành một loạt các giai đoạn ngắn hạn, có vẻ như tương thích-khuyến khích. Đây là phương pháp được những người Bolshevik áp dụng và ĐCSTQ đã mở rộng chiến lược này đến cực điểm, với mỗi giai đoạn của cuộc cách mạng được lên kế hoạch tỉ mỉ từ trước. Hệ tư tưởng, được đảng tuyên bố là "lý luận", đã cung cấp một vẻ ngoài chính danh cho các sáng kiến thường tự mâu thuẫn như phong trào Cải cách Ruộng đất và tập thể hóa nông nghiệp. Trong một số trường hợp, các chiến dịch phục vụ các mục tiêu đã được thiết lập và lâu dài đã được phát động để đối phó với các sự kiện cụ thể. Một trường hợp như vậy là Chiến dịch Chống Cánh hữu, được khởi xướng để đối phó với các "tình tiết" của Cách mạng Hungary năm 1956 và bài phát biểu bí mật của Khrushchev tại Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô (ĐCSLX). Điều quan trọng là, mỗi bước ngắn hạn, tương thích-khuyến khích trong quá trình này đã làm suy yếu hoặc tiêu diệt một bộ phận của các lực lượng chính trị hoặc xã hội chống lại cách mạng, bao gồm cả những người trong chính đảng, qua đó đẩy đảng đến gần hơn với các mục tiêu toàn trị không tương thích-khuyến khích của mình.

Đại đa số các cá nhân, bao gồm nhiều người trong hàng ngũ tinh hoa và giới lãnh đạo của ĐCSTQ, có lẽ đã không lựa chọn chủ nghĩa toàn trị nếu họ biết trước được các đặc điểm thực sự của nó. Với mỗi bước tiến tới chủ nghĩa toàn trị hoàn toàn, sự không tương thích-khuyến khích lâu dài của hệ thống càng trở nên rõ ràng hơn với nhiều người hơn. Lý do tại sao một hệ thống toàn trị vẫn có thể được thiết lập và củng cố trong những điều kiện như vậy là do việc loại bỏ sự kháng cự và thiết lập chế độ chuyên chế toàn trị được tiến hành theo một chiến lược từng giai đoạn. Mỗi bước đi trên quỹ đạo này đều liên quan đến việc triển khai các tổ chức và tập thể toàn trị chống lại các cá nhân. Ở mỗi giai đoạn, đảng thiết kế các cuộc cách mạng hoặc phong trào phù hợp với các động lực ngắn hạn để huy động càng nhiều người càng tốt, nhằm mục đích dần dần đàn áp hoặc thậm chí loại bỏ các cá nhân hoặc nhóm bất đồng chính kiến một cách từng phần. Tại mỗi thời điểm, đảng khai thác các nguồn lực đủ mạnh, được củng cố bằng bạo lực, để đàn áp hoặc tiêu diệt các mục tiêu của cách mạng cụ thể cho giai đoạn đó. Các cá nhân, nhận ra sự nhỏ bé và bất lực của mình khi đối mặt với hệ thống bạo lực này, hoặc đầu hàng hoặc thậm chí tham gia vào việc thanh trừng người khác, do đó trở thành đồng lõa trong việc duy trì hệ thống. Khi quá trình này lặp lại, hệ thống tích lũy đủ quyền lực để đàn áp bất kỳ sự bất đồng nào đối với nhà lãnh đạo. Đối mặt với sự lựa chọn giữa tuân theo hoặc bị thanh trừng dưới sự đe dọa của các hình phạt nghiêm khắc, mọi người thường chọn tuân theo, ngay cả khi điều đó đòi hỏi phải tham gia vào việc thanh trừng người khác. Điều này hình thành nên trạng thái cân bằng của hệ thống toàn trị dưới điều kiện tương thích-khuyến khích của chế độ chuyên chế.

Mặc dù hệ thống đế chế của Trung Quốc, có thể cho là, hệ thống đế chế tập trung nhất trong lịch sử nhân loại, hệ thống toàn trị hiện đại vẫn còn tập trung hơn nhiều. Trong một hệ thống toàn trị, tất cả các tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu của nhà nước. Đảng, được tổ chức và kiểm soát từ trên xuống, sử dụng hệ tư tưởng, nhân sự, và các lực lượng vũ trang làm phương tiện cơ bản để nắm toàn quyền kiểm soát chính phủ, chính trị, kinh tế, tư pháp, hệ tư tưởng, lực lượng vũ trang của quốc gia, và mọi ngóc ngách của xã hội. Về mặt kinh tế, cùng với hàng nghìn chuyên gia Liên Xô và nhiều dự án phát triển do Liên Xô viện trợ trong những năm 1950, hoạt động toàn diện của một hệ thống toàn trị kiểu Soviet cũng đã du nhập vào Trung Quốc. Trong hệ thống kế hoạch hóa tập trung này, các bộ trung ương đã cai trị toàn bộ nền kinh tế từ trên xuống, một hệ thống mà Mao đã mô tả là một "chuyên chính theo ngành dọc" (điều điều chuyên chính-tiaotiao zhuanzheng 条条专政).

1.6.3. Gen Thể chế: Chủ nghĩa toàn trị được quản lý theo vùng

Mặc dù vai trò cá nhân của Mao Trạch Đông là quan trọng trong việc biến đổi hệ thống toàn trị ở Trung Quốc từ một hệ thống cổ điển sang một hệ thống mang đặc sắc Trung Quốc, một yếu tố quan trọng hơn nhiều chính là các gen thể chế của Trung Quốc. Phần trực tiếp nhất của điều đó là mô hình quyền lực địa phương ở các vùng giải phóng trước khi ĐCSTQ nắm được quyền lực quốc gia. Và bản thân điều đó là một dạng mở rộng của các gen thể chế của hệ thống junxian thời đế chế. Trước khi ĐCSTQ kiểm soát hoàn toàn Trung Quốc, các vùng giải phóng được cai trị tương tự như hệ thống junxian của đế chế. Các vấn đề chính trị và nhân sự được tập trung cao độ, nhưng các khu vực vẫn duy trì quyền tự trị đáng kể trong các lĩnh vực hành chính và kinh tế. Quá trình thiết lập một hệ thống toàn trị là một quá trình biến đổi các gen thể chế của Trung Quốc bằng các gen thể chế toàn trị từ bên ngoài. Tuy nhiên, mô hình "chuyên chính theo ngành dọc" của chủ nghĩa toàn trị kiểu Soviet, được du nhập toàn bộ vào Trung Quốc năm 1950, đã tỏ ra không tương thích đáng kể về mặt khuyến khích với cơ sở quyền lực địa phương của ĐCSTQ. Cả Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa, được phát động lần lượt vào năm 1958 và 1966, đều là những nỗ lực nhằm loại bỏ mô hình Soviet này và tạo ra một hệ thống toàn trị giao phó nhiều quyền lực hơn cho các chính quyền khu vực. Với việc quá trình chuyển đổi sang RADT liên quan đến việc tái sinh các gen thể chế của đế chế được thừa hưởng từ thời kỳ đế quốc, có một mức độ chân thực nhất định trong lời tự tuyên bố của Mao vào năm 1958 là sự pha trộn giữa Karl Marx và Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc.

Việc phát động Đại Nhảy Vọt như một vòng thay đổi thể chế trước hết đã tăng cường quyền lực chính trị của nhà lãnh đạo tối cao, đồng thời làm suy yếu hoặc loại bỏ các cơ chế kiểm soát và cân bằng vốn đã yếu kém tồn tại trong đảng và chính phủ. Quyền lực của các bộ trung ương đã bị cắt giảm đáng kể và một loạt các chức năng hành pháp và nguồn lực đã được giao cho các chính quyền địa phương. Các chính quyền địa phương mới được trao quyền đã được thúc đẩy để cạnh tranh lòng trung thành với nhà lãnh đạo, với sự cạnh tranh khu vực thay thế cho kế hoạch hóa tập trung. Các chính quyền địa phương được khuyến khích thử nghiệm các hệ thống và chiến lược mới để đẩy nhanh sự phát triển hướng tới chủ nghĩa toàn trị cộng sản (chính thức được gọi là quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa cộng sản). Tuyên truyền chính thức tuyên bố rằng Trung Quốc nên nỗ lực trở thành quốc gia đầu tiên trong phong trào cộng sản quốc tế tiến vào chủ nghĩa cộng sản. Hệ thống Công xã Nhân dân là một phát minh của các chính quyền địa phương trong quá trình thử nghiệm, trong khi cạnh tranh địa phương là cơ chế để thúc đẩy nhanh chóng hệ thống này trên toàn quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phá bỏ chủ nghĩa toàn trị kiểu Soviet và thiết lập RADT, phong trào Đại Nhảy Vọt và Công xã Nhân dân đã tàn phá nền kinh tế và gây ra một nạn đói ở quy mô chưa từng có.

Cách mạng Văn hóa, được khởi xướng vào năm 1966 và kéo dài một thập kỷ, đã đánh dấu nỗ lực lớn thứ hai của Mao nhằm thúc đẩy hệ thống RADT. Được tạo điều kiện bởi một hệ thống khuyến khích thử nghiệm khu vực, Cách mạng Văn hóa đã châm ngòi cho một làn sóng Hồng vệ binh, Phiến quân Cách mạng, và các Phong trào Chiếm đoạt Quyền lực trên toàn quốc. Những lực lượng này, được thúc đẩy bởi sự sùng bái cá nhân và được tiếp sức bởi mệnh lệnh cách mạng không ngừng, đã tạo ra những thay đổi sâu sắc cho bối cảnh chính trị của Trung Quốc. Các quan chức bị coi là không đủ trung thành đã bị hạ bệ. Tất cả các quyền lực liên quan đến chính trị, quản lý nhân sự, và hệ tư tưởng đều được tập trung vào tay Mao và các cộng sự của ông. Các bộ và ủy ban trung ương phần lớn bị tê liệt và một số đã bị giải thể vĩnh viễn. Các trách nhiệm hành chính và kinh tế của chính phủ trung ương đã được chuyển giao gần như hoàn toàn cho các chính quyền địa phương ở một quy mô thậm chí còn vượt qua cả quy mô được quan sát trong Đại Nhảy Vọt. Đến đầu những năm 1970, Trung Quốc đã biến thành một nền kinh tế RADT được đặc trưng bởi nhiều nền kinh tế tự cung tự cấp ở các cấp độ khác nhau. Các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương chủ yếu hoạt động thông qua tự cung tự cấp. Chính quyền đảng-nhà nước trung ương phải dựa vào các thực thể địa phương để thực hiện các chỉ thị của mình, do đó biến cái gọi là kế hoạch hóa tập trung thành một nhiệm vụ điều phối giữa các nền kinh tế địa phương. Mao gọi đây là một "chuyên chính phối hợp theo khối" (khối khối chuyên chính-kuaikuai zhuanzheng 块块专政).

Năm 1975, các nguyên tắc và đường lối của RADT đã chính thức được đưa vào hiến pháp. So với chủ nghĩa toàn trị cổ điển, sự thay đổi chính mà điều này tạo ra là trong mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương. Cấu trúc quản trị trung ương–địa phương vốn có trong các gen thể chế của RADT được minh họa trong Hình 1.2. Như đã lưu ý trước đây, về mối quan hệ trung ương–địa phương, RADT có một sự tương đồng đáng kinh ngạc với các gen thể chế đã chi phối mối quan hệ giữa triều đình và các khu vực pháp lý địa phương dưới hệ thống đế chế truyền thống, như được thể hiện trong Hình 1.4. Mặc dù các thảm họa do Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa gây ra đã được nghiên cứu rộng rãi, cuốn sách này tìm cách làm sáng tỏ cách những tai họa này đã thiết lập nền tảng cho các chuyển đổi ở Trung Quốc trong thời kỳ hậu Mao.

1.6.4. Các Gen Thể chế đã Thay đổi và Không thay đổi trong Cuộc Cải cách hậu Mao

Sự hỗn loạn do Cách mạng Văn hóa gây ra cho đảng-nhà nước ĐCSTQ đã thúc đẩy những thay đổi trong thời kỳ hậu Mao, trong đó đảng đã chuyển trọng tâm từ đấu tranh giai cấp và cách mạng vô sản sang tăng trưởng kinh tế. Theo bước chân của khối Đông Âu, nơi các cuộc cải cách kinh tế đã diễn ra trong hơn một thập kỷ, ĐCSTQ đã chấp nhận chủ nghĩa xã hội thị trường và duy trì một tuyên bố vô căn cứ rằng Đặng Tiểu Bình là người khởi xướng chủ nghĩa xã hội thị trường.

Kể từ cuối những năm 1960, các nước khối Đông Âu đã bắt đầu một loạt các cuộc cải cách kinh tế để chống lại các nền kinh tế trì trệ của họ nhằm duy trì sự cai trị của cộng sản. Tuy nhiên, trong các chế độ toàn trị, các nguồn lực kinh tế hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của đảng-nhà nước và bộ máy quan liêu của nó. Do đó, mức độ, hình thức, và các tác nhân của sự thay đổi vốn đã gắn liền với lợi ích của các quan chức đảng-nhà nước. Các quan chức này có thể chống lại cải cách một cách thụ động thông qua hành động tập thể không phối hợp hoặc họ thậm chí có thể tích cực chống lại nếu cải cách đe dọa lợi ích đã có của họ. Do đó, giải quyết các vấn đề khuyến khích của họ là một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của bất kỳ cuộc cải cách và tăng trưởng kinh tế nào. Nếu các vấn đề khuyến khích của họ không được giải quyết thỏa đáng, chương trình cải cách sẽ trì trệ, bất kể tính hợp lý về mặt lý thuyết của bản kế hoạch được đề xuất. Do đó, giải quyết các vấn đề khuyến khích cho các quan chức ở mọi cấp trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong việc thực hiện cải cách. Tuy nhiên, điều này đặt ra một thách thức ghê gớm cho bất kỳ cuộc cải cách nào trong một nhà nước toàn trị, bao gồm cả Trung Quốc.

Các cuộc cải cách kinh tế ở FSU-EE (LX-Đông Âu) chưa bao giờ có thể vượt qua được những xiềng xích chính trị, tư tưởng và thể chế cơ bản của chủ nghĩa toàn trị, cũng như không giải quyết được các vấn đề khuyến khích nền tảng, dẫn đến sự thất bại của chúng. Sau hơn hai thập kỷ nỗ lực cải cách, toàn bộ hệ thống FSU-EE đã sụp đổ từ năm 1989 đến 1992. Ngược lại, Trung Quốc bắt đầu con đường cải cách của mình muộn hơn các nước FSU-EE nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể hơn trong việc bảo tồn chế độ. Sự khác biệt quan trọng nhất là các doanh nghiệp tư nhân đã phát triển từ con số không để trở thành một động lực của nền kinh tế ở Trung Quốc, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng trong quá trình cải cách. Cùng với sự phát triển của khu vực tư nhân, đã có một sự chuyển đổi ngắn ngủi từ một hệ thống toàn trị sang một hệ thống chuyên chế có phần nới lỏng. Tuy nhiên, kể từ năm 2012, các thành phần cơ bản của chủ nghĩa toàn trị đã được phục hồi, làm cho cuộc cải cách thành công của Trung Quốc chỉ là tạm thời và ngăn cản nó đi chệch khỏi quỹ đạo của các cuộc cải cách của Liên Xô và châu Âu. Chương 13 xem xét kỹ lưỡng các phần đã tiến hóa và không thay đổi của các gen thể chế của Trung Quốc và vai trò của chúng trong việc thúc đẩy sự tiến hóa thể chế.

Hai yếu tố chính giải thích tại sao các cuộc cải cách ban đầu của Trung Quốc lại vượt qua các cuộc cải cách ở các nước FSU-EE. Thứ nhất, trong giai đoạn đầu của cải cách, cách tiếp cận của Trung Quốc đối với cạnh tranh và thử nghiệm liên khu vực, dựa trên chủ nghĩa toàn trị phi tập trung, đã tương đối hiệu quả trong việc giải quyết các thách thức khuyến khích ở tất cả các cấp quản trị. Đã có một sự chuyển đổi dần dần sang thị trường thay thế kế hoạch hóa tập trung, phản ánh hướng đi của các cuộc cải cách ở Đông Âu. Những thay đổi này đã cung cấp cho các quan chức địa phương lý do để dung túng, và thậm chí tạo điều kiện, cho sự xuất hiện và phát triển của các công ty tư nhân, mặc dù về mặt kỹ thuật chúng không hợp pháp. Thứ hai, để đảo ngược tác động tàn phá của Cách mạng Văn hóa, thời kỳ hậu Mao đã chứng kiến những thay đổi nhân sự quy mô lớn trong toàn bộ bộ máy đảng-nhà nước, với các quan chức ủng hộ phát triển kinh tế thay thế những người ủng hộ đấu tranh giai cấp. Những thay đổi sâu rộng này ở các cấp cao nhất đã làm giảm sự kháng cự đối với cải cách và mở đường cho sự tiến bộ trên mọi phương diện.

Khi Cách mạng Văn hóa kết thúc và các cuộc cải cách bắt đầu, Trung Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới và khoảng cách với các quốc gia giàu có ngày càng gia tăng, đe dọa tính chính danh của sự cai trị của ĐCSTQ. Dưới những hoàn cảnh chính trị và kinh tế đặc biệt này, ĐCSTQ đã chuyển hướng sang phát triển kinh tế thay vì đấu tranh giai cấp. Trong các cuộc thi đua khu vực từ trên xuống của hệ thống RADT, mục tiêu cạnh tranh đã được chuyển sang tốc độ tăng trưởng GDP. Được thúc đẩy bởi động lực mạnh mẽ của cạnh tranh và được khuyến khích đổi mới để đạt được tăng trưởng cao hơn, các chính quyền địa phương đã dung túng và thậm chí nuôi dưỡng khu vực tư nhân, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng đáng kể từ gốc rễ của nền kinh tế tư nhân ở nhiều khu vực. Một làn sóng các doanh nghiệp tư nhân sau đó đã lan rộng khắp cả nước, củng cố đáng kể các cuộc cải cách và thúc đẩy phát triển kinh tế. Quyền sở hữu tư nhân đã được thừa nhận và bảo vệ theo hiến pháp, trong khi các tổ chức phi chính phủ mở rộng cùng với khu vực tư nhân đang phát triển. Sự tiến hóa này hướng tới chủ nghĩa đa nguyên hạn chế, bao gồm sự xuất hiện của các doanh nghiệp tư nhân, quyền sở hữu tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, các cộng đồng tự trị, và các tín ngưỡng đa dạng đã nuôi dưỡng những hạt giống của các gen thể chế mới ở Trung Quốc.¹⁸ Ở một số khía cạnh nhất định, các thể chế quản trị của Trung Quốc đã dần chuyển đổi từ chủ nghĩa toàn trị phi tập trung sang chủ nghĩa chuyên chế phi tập trung.

RADT khác với chủ nghĩa toàn trị cổ điển ở cấp độ hoạt động nhưng về cơ bản, chúng đều là các hệ thống toàn trị. Nếu, trong quá trình cải cách, các gen thể chế mới được hình thành dưới hệ thống RADT (hoặc RDA [chủ nghĩa chuyên chế được phân cấp theo vùng]) tỏ ra đủ mạnh mẽ và nếu hệ thống toàn trị cộng sản của Trung Quốc trải qua sự xói mòn bền vững và dần dần, thì Trung Quốc có thể bắt đầu một con đường chuyển đổi thể chế tương đối suôn sẻ. Tuy nhiên, hệ thống toàn trị cộng sản không chỉ cảnh giác cao độ với những rủi ro của sự diễn biến hòa bình mà còn bén rễ sâu trong các gen thể chế RADT. Do sự kháng cự mạnh mẽ của ĐCSTQ đối với cải cách thể chế toàn trị cơ bản, "lợi tức cải cách" tích lũy được trong giai đoạn đầu của cải cách đã nhanh chóng tan biến, ngăn cản Trung Quốc trở thành một ngoại lệ trong số tất cả các chế độ toàn trị cộng sản. Cuối cùng, Trung Quốc sẽ khuất phục trước cùng một khuôn mẫu đã hủy hoại các nỗ lực cải cách thể chế ở các nước FSU-EE.

Thực tế quan trọng là ngay cả trong những giai đoạn ĐCSTQ dung túng cho chủ nghĩa đa nguyên hạn chế, nó vẫn cố tình bảo tồn các yếu tố cơ bản của sự cai trị toàn trị. Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo tối cao, đã nhấn mạnh điều này trong Bốn Nguyên tắc Kiên trì của mình, liên tục tuyên bố rằng ĐCSTQ phải vẫn là đảng cầm quyền không thể thách thức của Trung Quốc và chuyên chính vô sản phải được duy trì. Trên thực tế, sự độc quyền và phụ thuộc của đảng vào cảnh sát mật và các lực lượng vũ trang chưa bao giờ suy yếu. Đảng luôn tìm cách kiểm soát mọi doanh nghiệp và tổ chức trong nước, bất chấp thực tế là các doanh nghiệp tư nhân đã trở thành xương sống của nền kinh tế Trung Quốc. Nó duy trì quyền kiểm soát đối với các phương tiện truyền thông, ngay cả trong những giai đoạn ngắn ngủi của sự độc quyền được nới lỏng và những khoảnh khắc thoáng qua của chủ nghĩa đa nguyên. Mặc dù ĐCSTQ đã phần nào nới lỏng sự kìm kẹp của mình đối với hệ tư tưởng, cho phép một mức độ tư tưởng khác biệt khi cường độ của các cuộc đàn áp liên quan đến hệ tư tưởng đã giảm bớt, sự thống trị của nó trong lĩnh vực tư tưởng vẫn không thay đổi. Ngoài ra, nó duy trì quyền kiểm soát đối với tất cả các ngân hàng và phần lớn các nguồn tài chính của đất nước. Việc nhà nước sở hữu hoàn toàn đất đai không chỉ không thay đổi mà nó còn trở nên quan trọng hơn đối với các hoạt động địa phương của đảng-nhà nước. Trong các chương sau, chúng ta sẽ đi sâu hơn vào bản chất của các gen thể chế mới nổi và mối quan hệ của chúng với các gen thể chế đã tồn tại từ trước của Trung Quốc. Chúng ta cũng sẽ xem xét sự độc quyền về quyền lực và nguồn lực của ĐCSTQ và khả năng của nó trong việc bảo vệ lợi ích của chính mình. Bằng cách duy trì quyền kiểm soát tuyệt đối đối với xã hội và dựa vào các gen thể chế toàn trị đã ăn sâu, ĐCSTQ có khả năng quay trở lại một hệ thống toàn trị, ngay cả sau khi đã nới lỏng có chọn lọc sự kiểm soát của mình và khuyến khích một mức độ đa nguyên hạn chế.

Trong giai đoạn đầu của cải cách, khi Trung Quốc chưa công nghiệp hóa và vẫn còn cực kỳ nghèo đói, cuộc cải cách đã có thể mang lại lợi ích cho đa số dân chúng. Trong giai đoạn này, cơ chế khuyến khích của cạnh tranh địa phương đã cung cấp một động lực mạnh mẽ cho các quan chức, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và các cuộc cải cách gắn liền với sự tăng trưởng này, miễn là những cải cách này không đe dọa cấu trúc chính trị-tài sản toàn trị. Kết quả của cuộc cải cách này, các doanh nghiệp tư nhân bắt đầu xuất hiện và phát triển trên khắp Trung Quốc, đưa vào các gen thể chế non trẻ liên quan đến quyền sở hữu tư nhân, các tổ chức dân sự, các địa phương tự trị, và các tín ngưỡng khác nhau. Tình hình của Trung Quốc sẽ khác đi rất nhiều nếu ĐCSTQ không khăng khăng duy trì sự cai trị toàn trị của mình, điều mà tất nhiên, sẽ không tương thích về mặt khuyến khích với lợi ích của ĐCSTQ. Trong kịch bản đó, trong khoảng thời gian cơ hội khi cơ chế cạnh tranh khu vực có hiệu quả, nếu các cuộc cải cách thể chế liên quan đã được thúc đẩy, nếu nhà nước pháp quyền đã được phát triển theo hướng một nền tư pháp độc lập, nếu cộng đồng và các tổ chức tự quản cơ sở đã được phép phát triển tự do hơn, và nếu tài sản nhà nước đã được giảm đáng kể, có lẽ đã có thể chuyển đổi cơ bản vai trò của chính phủ và cho phép các gen thể chế mới bén rễ và phát triển. Những thay đổi như vậy có khả năng mở đường cho việc thiết lập chủ nghĩa lập hiến ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, ĐCSTQ đã cảnh giác trong việc ngăn chặn "diễn biến hòa bình" do các doanh nghiệp tư nhân gây ra. Giai đoạn xuất hiện và phát triển của các gen thể chế mới chỉ tập trung vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ 21, khi nền kinh tế Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trải qua sự phát triển kinh tế tương đối suôn sẻ, sức mạnh của các gen thể chế cũ đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội để tổ chức lại và phát triển đáng kể một lần nữa. Hiện tượng "quốc tiến, dân thoái" sớm trở nên áp đảo. Sức mạnh của các gen thể chế cũ đã áp đảo các gen thể chế mới chớm nở. Khi Trung Quốc trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình và các cuộc xung đột về tài nguyên đất đai giữa chính phủ và công chúng ngày càng gia tăng,¹⁹ các tác động tiêu cực của cơ chế cạnh tranh khu vực trở nên rõ rệt hơn, khiến cho cửa sổ cơ hội để sử dụng cơ chế này thúc đẩy cải cách bị mất hoàn toàn. Ngay khi cuộc cải cách của Trung Quốc đang đối mặt với một thời điểm quan trọng, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ập đến. Các vấn đề thể chế của Trung Quốc đã bị lu mờ bởi cuộc khủng hoảng tài chính. Chính phủ đã tận dụng cơ hội này để thực hiện một gói kích thích tài khóa khổng lồ, phụ thuộc nhiều vào cơ chế cạnh tranh khu vực, khuyến khích các chính quyền địa phương vay nợ nhiều và đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng. Điều này đã châm ngòi cho một cuộc chạy đua cơ hội để phát triển các dự án đường sắt cao tốc, đường cao tốc và sân bay trên khắp cả nước, tạo ra một "phép màu" kinh tế bề ngoài, đồng thời cũng gieo mầm cho những vấn đề sâu sắc, ví dụ, sự mở rộng không thể kiểm soát của nợ của các chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước (SOE). Vấn đề lớn nhất không phải là bản thân nợ cao mà là sự mở rộng của một thể chế tạo ra ràng buộc ngân sách mềm, tạo ra việc vay nợ không thể ngăn cản. Thể chế này là một nguyên nhân phổ biến của sự thất bại của các cuộc cải cách kinh tế ở tất cả các nước cộng sản toàn trị.

Với các thể chế RADT cơ bản và cơ chế cạnh tranh khu vực hoạt động sai lệch, chính trị và quản trị của Trung Quốc đã quay trở lại một vòng luẩn quẩn "loạn khi nới, chết khi siết" đã lặp đi lặp lại trong hơn nửa thế kỷ. Mô hình hoạt động của chính quyền địa phương kể từ khi bắt đầu các cuộc cải cách đã được thay thế bằng một hệ thống ngày càng tập trung hóa trong thời đại Tập Cận Bình. Các chính quyền địa phương đã mất đi quyền lực hạn chế mặc định của họ để quản lý các vấn đề hành chính, xã hội và kinh tế, bao gồm cả các trường hợp khẩn cấp. Chính quyền trung ương ban hành các mệnh lệnh và đánh giá và giám sát hiệu suất của các chính quyền địa phương. Tuy nhiên, chính loại cơ chế quản trị này, cùng với các yếu tố khác, đã dẫn đến tình trạng bế tắc của các nước FSU-EE. Cơ chế này là trung tâm của sự bất lực của Liên Xô trong việc giải quyết các vấn đề cải cách khác nhau, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến kinh tế và xã hội.

Ngay từ đầu, mục tiêu cuối cùng của cuộc cải cách và mở cửa của ĐCSTQ là duy trì, củng cố và tăng cường sự cai trị hoàn toàn của đảng đối với xã hội Trung Quốc. Tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế nằm ở khả năng cung cấp tính chính danh cho sự cai trị của đảng; mọi thứ đều được thực hiện vì lợi ích của sự cai trị của đảng, điều này quyết định đặc tính chính của cuộc cải cách hậu Mao của ĐCSTQ. Cái gọi là sự khởi đầu của cuộc cải cách đồng thời cũng là sự kết thúc của Cách mạng Văn hóa, vốn đã kéo dài mười năm. Sự tàn phá do Cách mạng Văn hóa gây ra đã châm ngòi cho một giai đoạn bất đồng chính kiến tích cực dữ dội hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử PRC, với những người tham gia từ các thành viên bình thường của công chúng đến các nhà lãnh đạo hàng đầu của ĐCSTQ như Hồ Diệu Bang. Một mặt, nó cung cấp một động lực cho sự nghiệp cải cách, nhưng mặt khác, nó cũng thách thức hệ thống toàn trị ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm cả hệ tư tưởng và tổ chức.

Bốn Nguyên tắc Kiên trì của Đặng Tiểu Bình đã đại diện cho phản ứng đối với những thách thức này ngay cả trước khi cuộc cải cách bắt đầu, điểm mấu chốt của nó nhấn mạnh sự cần thiết tối cao của việc duy trì sự lãnh đạo không thể tranh cãi của ĐCSTQ.²⁰ Để bảo tồn sự thống trị của đảng, Đặng đã khởi xướng các cuộc thanh trừng trong đảng và đàn áp nghiêm ngặt những người bất đồng chính kiến. Các phong trào này bao gồm các chiến dịch chống "ô nhiễm tinh thần" và "tự do hóa tư sản" lần lượt vào năm 1983 và 1985, và cuộc đàn áp tàn bạo các cuộc biểu tình ôn hòa tại và xung quanh Quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989, dẫn đến việc bỏ tù và quản thúc tại gia hàng nghìn người bất đồng chính kiến. Kể từ đó, tất cả các cuộc thảo luận về cải cách chính trị đã bị dập tắt, khiến chủ đề này trở thành điều cấm kỵ. Sau Đặng, Bốn Nguyên tắc Kiên trì, nhấn mạnh vai trò tối cao của đảng trong xã hội, đã ngày càng trở nên nổi bật, thậm chí vượt qua cả luật pháp. Tại Đại hội lần thứ 17 của ĐCSTQ năm 2007, di sản chính trị này đã chính thức được ghi vào điều lệ của ĐCSTQ. Tập Cận Bình đã đưa điều này đi xa hơn nữa. Tại Đại hội lần thứ 19 của ĐCSTQ năm 2017, Tập đã chính thức đưa nguyên tắc thời Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông về việc khẳng định sự cai trị của đảng đối với mọi thứ dưới ánh mặt trời ("Đảng thực hiện sự lãnh đạo toàn diện đối với mọi lĩnh vực nỗ lực ở mọi nơi trên đất nước") vào điều lệ của đảng. Việc khôi phục các khía cạnh cốt lõi của các gen thể chế cũ theo cách này là một phản ứng trực tiếp đối với những thách thức của các gen thể chế mới nổi lên từ cuộc cải cách của Trung Quốc.

Các thành phần gen thể chế mới quan trọng nhất xuất hiện trong ba thập kỷ đầu của cuộc cải cách hậu Mao là các doanh nghiệp tư nhân, các thực thể phi chính phủ, và chủ nghĩa đa nguyên tư tưởng hạn chế. Việc khởi động cuộc cải cách phụ thuộc rất nhiều vào sự phủ nhận toàn diện Cách mạng Văn hóa trong lĩnh vực tư tưởng. Một số nhà cải cách, cả trong và ngoài đảng, đã làm suy yếu một cách rõ ràng nhưng lặng lẽ sự kiểm soát tuyệt đối của đảng đối với hệ tư tưởng và sự thống trị tuyệt đối của Tư tưởng Mác-Lênin-Mao Trạch Đông trong lĩnh vực tư tưởng, vốn trước đây được thực thi bằng bạo lực. Khi cải cách tiến triển, các môn khoa học xã hội đã bị chỉ trích chính thức và chỉ được thừa nhận một cách rời rạc trong giới học thuật Trung Quốc dưới các nhãn hiệu như "kinh tế học phương Tây" và "khoa học chính trị phương Tây" dần dần trở nên được chấp nhận vì chúng chứa đựng kiến thức cần thiết để vận hành một nền kinh tế thị trường. Các khóa học đại học được nối lại, các tài liệu liên quan được xuất bản, và các phương tiện truyền thông đã đưa tin về chúng một cách có hệ thống. Một chủ nghĩa đa nguyên tư tưởng hạn chế có trật tự đã xuất hiện. Nhưng nguyên tắc cốt lõi hay sự hạn chế cơ bản chưa bao giờ được nới lỏng: không ai được phép thách thức sự thống trị của ĐCSTQ và hệ tư tưởng của nó. Không ai được phép thành lập các đảng phái chính trị hoặc thậm chí các tổ chức chính trị.

Vì mục đích của cuộc cải cách hậu Mao của ĐCSTQ là để bảo tồn và củng cố sự cai trị của mình, sự phát triển kinh tế và cải cách phải phục vụ mục tiêu này mà không làm suy yếu quyền lực của đảng. Sự xói mòn lớn về vai trò của khu vực nhà nước trong nền kinh tế là một hệ quả không mong muốn không thể tránh khỏi của cuộc cải cách. Theo bước chân của các đảng cộng sản Đông Âu, ĐCSTQ bắt đầu cải cách sau khi kết thúc Cách mạng Văn hóa, tập trung mọi sự chú ý vào các doanh nghiệp nhà nước và các vấn đề liên quan đến việc kết hợp thị trường vào nền kinh tế kế hoạch hóa. Cải cách ruộng đất ở nông thôn hoàn toàn do các sáng kiến địa phương thúc đẩy để giải quyết các vấn đề sinh tồn thiết yếu ở các vùng nông thôn nghèo khó. Dưới những ràng buộc của việc cấm tư nhân hóa, cải cách doanh nghiệp nhà nước đã trải qua một loạt các thất bại. Đến cuối những năm 1990, toàn bộ khu vực nhà nước đang trên bờ vực khủng hoảng. Việc tư nhân hóa một lượng lớn tài sản của doanh nghiệp nhà nước vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ 21 đã xúc tác cho những cải tiến toàn diện về hiệu quả kinh doanh trên khắp Trung Quốc. Tuy nhiên, tư nhân hóa đã được đổi tên thành "tái cấu trúc" để phù hợp với hệ tư tưởng cộng sản trong khi che giấu bản chất của nó là một sự thay đổi về quyền sở hữu.

Vào thời kỳ đỉnh cao của tư nhân hóa, trọng tâm chính của ĐCSTQ là tăng cường các doanh nghiệp nhà nước lớn để bảo tồn và củng cố sự cai trị của đảng, một chính sách được gọi là "nắm cái lớn, buông cái nhỏ". Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước (SASAC) được thành lập vào thời điểm đó với cùng một mục đích. Lãnh đạo ĐCSTQ đã đưa ra khái niệm rằng "doanh nghiệp nhà nước là nền tảng của sự cai trị của đảng,"²¹ về nguyên tắc liên kết tư nhân hóa với việc làm suy yếu sự cai trị của đảng. Chẳng bao lâu, ngay cả cuộc tranh luận chính sách nội bộ về tư nhân hóa cũng trở thành một điều cấm kỵ chính trị.²² Khái niệm rằng doanh nghiệp nhà nước là nền tảng của sự cai trị của đảng đã được ghi vào các quy định của ĐCSTQ,²³ đặt ra các ranh giới chính trị, kinh tế và tư tưởng cho cuộc cải cách. Theo thời gian, vai trò hệ quả mà điều này đóng trong việc đảo ngược quỹ đạo của cải cách đã chứng tỏ chiều sâu và khả năng phục hồi bền bỉ của các gen thể chế được thiết lập ở Trung Quốc trong những năm 1950.

Các gen thể chế hiện có đã ăn sâu không thể tự động bị thay thế bởi các gen thể chế mới nổi, cũng như chúng sẽ không cho phép các biến thể mới làm xói mòn nền tảng quyền lực của chúng. Thành phần không thể thiếu nhất của các gen thể chế truyền thống này là đảng Leninist, vốn thực thi quyền kiểm soát đối với mọi khía cạnh của xã hội. Nền tảng của bất kỳ hệ thống toàn trị hoạt động nào nằm ở việc thành lập, duy trì và phát triển một đảng có khả năng thâm nhập và cai trị toàn bộ xã hội. Nếu không có một đảng như vậy, không thể thiết lập và duy trì một hệ thống toàn trị. Từ khi thành lập Đảng Bolshevik, Lenin đã xem việc tuyển dụng liên tục các nhà cách mạng chuyên nghiệp và thành lập các chi bộ mới là yếu tố sống còn đối với sự tồn tại của đảng. Loại công việc này, được gọi là "xây dựng đảng", sau này được gọi là "công tác xây dựng đảng" trong từ vựng của ĐCSTQ. Nguyên tắc này phân biệt các đảng Leninist với các đảng chính trị thông thường và là một nguyên nhân chính gây ra sự chia rẽ giữa Lenin và Quốc tế thứ hai. Kể từ khi được Comintern thành lập, công tác xây dựng đảng đã là một nguyên tắc cơ bản của ĐCSTQ. Sau một thế kỷ, nó đã trở thành một gen thể chế ăn sâu vững chắc của chế độ ở Trung Quốc. Đối với hầu hết các đảng viên và cán bộ ĐCSTQ, tầm quan trọng của công tác xây dựng đảng là điều hiển nhiên đến nỗi đại đa số đều lầm tưởng nó là một đặc điểm của Trung Quốc, thường cho rằng Mao Trạch Đông đã phát minh ra nó.

Nhưng nguyên tắc cơ bản này, gen thể chế của công tác xây dựng đảng, lại mâu thuẫn trực tiếp với các gen thể chế mới nổi lên từ cuộc cải cách hậu Mao. Khi các công ty tư nhân và các tổ chức phi chính phủ phát triển mạnh mẽ trong đầu thế kỷ 21, chúng chiếm phần lớn việc làm ở thành thị của Trung Quốc. Tuy nhiên, hầu hết các công ty và tổ chức này không có các chi bộ ĐCSTQ. Trong khi đó, sự phát triển của thị trường bất động sản đã dẫn đến việc hầu hết cư dân thành thị sống trong nhà ở tư nhân. Những "khu dân cư" mới phát triển này về cơ bản không có các tổ chức đảng. Mặc dù các chi bộ đảng vẫn còn hoạt động trên danh nghĩa ở các vùng nông thôn, sự di cư quy mô lớn của cư dân nông thôn đến các thành phố và các cuộc bầu cử ở làng xã đã làm suy yếu đáng kể vai trò của các chi bộ đảng ở thị trấn và làng.

Khi thế kỷ 21 bắt đầu, công tác xây dựng đảng của ĐCSTQ đã suy giảm đáng kể về mặt tuyển dụng đảng viên mới và thành lập các chi bộ mới. Trong khu vực tư nhân, nơi hầu hết mọi người làm việc, các chi bộ đảng hoặc không có hoặc không hoạt động tích cực. Trong một khoảng thời gian, đảng đã mất khả năng thâm nhập và quản lý mọi ngóc ngách của xã hội Trung Quốc. Điều này cho thấy rằng bản chất của hệ thống Trung Quốc đã có một thời gian tiến hóa từ chủ nghĩa toàn trị sang chủ nghĩa chuyên chế, đặc biệt là từ RADT sang RDA, mặc dù không chủ ý. Nếu các doanh nghiệp tư nhân được phép phát triển mạnh, các gen thể chế mới được phép phát triển và thịnh vượng, và các gen thể chế cũ được phép tiếp tục suy giảm, thì không chỉ chủ nghĩa toàn trị có thể bị xóa bỏ hoàn toàn mà Trung Quốc còn có thể tiến từ một hình thức chuyên chế nới lỏng hơn sang chủ nghĩa lập hiến và thậm chí là một hệ thống dân chủ.

Xu hướng suy giảm trong công tác xây dựng đảng có khả năng làm suy yếu cơ bản sự cai trị của ĐCSTQ và làm suy yếu thêm các gen thể chế cũ. Để bảo tồn các gen thể chế toàn trị, cần phải đảo ngược xu hướng suy yếu kiểm soát đối với xã hội và sự suy giảm trong công tác xây dựng đảng. Trong một nỗ lực nhằm duy trì sự kiểm soát mà không cản trở sự phát triển kinh tế, ĐCSTQ đã bắt đầu thử nghiệm các phương pháp để biến các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức phi chính phủ thành các thực thể dưới sự kiểm soát của đảng. Sử dụng một sự kết hợp giữa công tác xây dựng đảng và quyền lực trực tiếp, đảng nhằm mục đích sửa đổi các gen thể chế mới nổi thành các phiên bản giống với các gen thể chế cũ hơn, theo một cách có lợi hơn cho lợi ích của mình. Để thúc đẩy chiến lược mua chuộc trên quy mô lớn, ĐCSTQ đã sửa đổi điều lệ đảng và hiến pháp nhà nước lần lượt vào năm 2002 và 2004. Các sửa đổi đã chính thức công nhận quyền sở hữu tư nhân và giới thiệu "Thuyết Ba Đại diện". Thuyết này nhằm mục đích thu hút các doanh nhân tham gia ĐCSTQ và lựa chọn các doanh nhân trung thành làm đại biểu của đảng và Đại hội Đại biểu Nhân dân. Các doanh nhân liên kết với đảng đã nhận được những lợi ích và sự bảo vệ đáng kể, bao gồm quyền tiếp cận các nguồn tài chính và đất đai, hỗ trợ về quy định, tiếp cận thị trường, và thực thi pháp luật. Điều này đã làm cho các doanh nhân phụ thuộc vào quyền lực của ĐCSTQ và tuân theo mệnh lệnh của ĐCSTQ.

Nếu ĐCSTQ đã kiểm soát thành công phần lớn các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức phi chính phủ, những phát triển của thời kỳ cải cách sẽ không dẫn đến sự xuất hiện của các gen thể chế mới. Tuy nhiên, việc mua chuộc các doanh nhân tỏ ra cực kỳ tốn kém và các công ty tư nhân đã sinh sôi nảy nở trên khắp cả nước. Khi các doanh nghiệp tư nhân trở thành trụ cột của nền kinh tế quốc gia và các tổ chức phi chính phủ ngày càng chiếm ưu thế trong xã hội cơ sở, việc dựa vào một thiểu số để mua chuộc đa số đã trở nên không bền vững và không thực tế.

Các gen thể chế mới cũng đang xuất hiện trong các lĩnh vực khác. Song song với sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức phi chính phủ, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa đa nguyên tư tưởng hạn chế, các lời kêu gọi thúc đẩy chủ nghĩa lập hiến và các thể chế dân chủ đã ngày càng tăng lên kể từ khi bắt đầu cuộc cải cách. Để duy trì quyền kiểm soát toàn bộ đối với xã hội, ĐCSTQ chưa bao giờ từ bỏ việc sử dụng bạo lực và cưỡng chế để buộc các doanh nhân, các tổ chức phi chính phủ, và những người bất đồng chính kiến phải tuân thủ. Những người bất đồng chính kiến và các chủ doanh nghiệp không tuân thủ đã tiếp tục bị bỏ tù trong suốt toàn bộ thời kỳ cải cách. Khoảng năm 2006, các cuộc tranh luận về các giá trị phổ quát (các giá trị cơ bản của dân chủ và chủ nghĩa lập hiến) đã lan rộng trong giới trí thức và các cấp cao của ĐCSTQ. Đã có những nhà hoạt động đưa yêu cầu của họ vào hành động, soạn thảo một hiến chương và thu thập chữ ký để thúc đẩy chủ nghĩa lập hiến. Xem hành động này là một thách thức đối với các gen thể chế cũ, vào năm 2009, chính quyền đã bỏ tù Lưu Hiểu Ba vì đã soạn thảo và quảng bá Hiến chương 08 và giam giữ ông trong tù cho đến khi ông qua đời (Link and Wu, 2023).

Để đối phó với lời kêu gọi ngày càng tăng về cải cách lập hiến ở Trung Quốc, ngay sau khi Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel Hòa bình vào đầu năm 2010, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (NPC), Ngô Bang Quốc, đã tuyên bố thay mặt ĐCSTQ rằng hệ tư tưởng của chủ nghĩa lập hiến phải bị cấm và ĐCSTQ phải vẫn là nhà lãnh đạo của Trung Quốc xã hội chủ nghĩa (Wu, 2011). Hơn nữa, đảng đã tìm cách hạn chế, và thậm chí loại bỏ, quyền sở hữu tư nhân và sự đa nguyên tư tưởng. Những thay đổi như vậy cho thấy rằng giai đoạn cải cách trước đó của Trung Quốc, được đặc trưng bởi một sự chuyển dịch sang chủ nghĩa chuyên chế, đã đạt đến giới hạn của nó, và rằng các nhà lãnh đạo đảng hiện đang dàn dựng một sự trở lại toàn diện với sự cai trị toàn trị.

Sự tiến hóa hướng tới chủ nghĩa chuyên chế đã đi đến hồi kết. Tập Cận Bình, người nhậm chức vào cuối năm 2012, đã trở thành động lực chính đằng sau sự thay đổi kịch tính tiếp theo. Sau khi nhậm chức, Tập đã nhanh chóng đến Thâm Quyến để có một bài phát biểu bí mật, trong đó ông quy sự sụp đổ của hệ thống Soviet cho việc thiếu một "người đàn ông thực thụ", người có thể đã duy trì được sự cai trị của ĐCSLX (Buckley, 2013). Lập trường này đã đảo ngược kết luận trước đó của ĐCSTQ từ những năm 1990, vốn quy sự sụp đổ của khối Đông Âu cho các cuộc cải cách thất bại. Nó cũng cho thấy rằng đàn áp chính trị đã trở thành một công cụ quan trọng hơn cải cách kinh tế để đảng giữ vững quyền lực. Vài tháng sau bài phát biểu của Tập, Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành một chỉ thị nội bộ chính thức cấm các cuộc tranh luận về bảy chủ đề nhạy cảm: các giá trị phổ quát, tự do báo chí, xã hội dân sự, quyền công dân, những sai lầm lịch sử của đảng, giai cấp tư sản quyền quý (quyền quý tư sản giai cấp-quangui zichan jieji  贵资产阶级-giai cấp tài sản đỏ), và độc lập tư pháp.²⁴ Các nhà báo tiết lộ sự tồn tại của chỉ thị đã bị bỏ tù. Vào mùa xuân năm 2015, Vương Kỳ Sơn, một thành viên của Bộ Chính trị, đã tuyên bố rõ ràng với Francis Fukuyama và Masahiko Aoki, những người đang thăm Trung Quốc vào thời điểm đó, rằng đảng phải kiểm soát tư pháp và rằng độc lập tư pháp và nhà nước pháp quyền là không thể duy trì ở Trung Quốc (Tatsuhito Tokuchi, 2015).

Kể từ năm 2013, Tập Cận Bình đã phát động một chiến dịch nhằm tập trung quyền lực và đàn áp những người bất đồng chính kiến dưới danh nghĩa chống tham nhũng. Cách tiếp cận của ông đã gợi lại ký ức về Phong trào Tứ Thanh của Mao Trạch Đông (một khúc dạo đầu cho Cách mạng Văn hóa) và cuộc Đại Thanh trừng của Stalin. Cùng với áp lực chính trị ngày càng tăng do chiến dịch này tạo ra, tất cả các công ty tư nhân, công ty nước ngoài, và các tổ chức phi chính phủ đều được yêu cầu thành lập các chi bộ đảng. Một số nỗ lực đã được thực hiện để vun trồng một sự sùng bái cá nhân kiểu Mao xung quanh Tập nhưng tất cả đều không thành công. Đảng cũng đã yêu cầu quyền kiểm soát trực tiếp đối với các doanh nghiệp, trường đại học, và các viện nghiên cứu, bất kể quyền sở hữu của chúng.

Rõ ràng là sau nhiều thập kỷ tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân và sự hội nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu, các gen thể chế mới không chỉ xuất hiện mà còn đã trở thành một phần cơ bản của xã hội Trung Quốc. Động lực bẩm sinh của con người để bảo vệ lợi ích của chính mình và sự khai sáng thu được từ một thế giới mở đã mang lại sức sống cho những gen thể chế mới chớm nở này. Tuy nhiên, các sắp xếp thể chế hiện có đã đảm bảo rằng các gen thể chế của chủ nghĩa toàn trị không bao giờ bị suy yếu đáng kể. Kết quả là, đảng toàn trị luôn có đủ năng lực để tái khẳng định mình một cách đầy đủ. Đây chính xác là những gì đã xảy ra trong thực tế. Hơn nữa, đảng đã triển khai giám sát mạng và trí tuệ nhân tạo để kiểm soát xã hội ở một mức độ chưa từng có.

Tương lai của Trung Quốc phụ thuộc vào sự tương tác giữa các loại gen thể chế cũ và mới. Tuy nhiên, dưới sự cai trị toàn trị, nếu không có những cú sốc ngoại sinh mạnh mẽ có thể làm suy yếu đáng kể chế độ toàn trị, sẽ rất khó khăn cho các gen thể chế mới để tồn tại, chứ đừng nói đến việc phát triển hơn nữa. Ngược lại, ngay cả khi chế độ toàn trị sụp đổ do các lực lượng bên ngoài, nếu không có sự phát triển đầy đủ của các gen thể chế mới hỗ trợ cho sự cai trị lập hiến, Trung Quốc vẫn sẽ không thể thiết lập một nền dân chủ lập hiến.

1.7. HAI VÍ DỤ BỔ SUNG VỀ GEN THỂ CHẾ

Khái niệm gen thể chế được đề xuất trong cuốn sách này cung cấp một phương pháp tiếp cận để phân tích các cơ chế của sự chuyển đổi thể chế. Sự thay đổi thể chế cơ bản dựa trên sự tiến hóa hoặc đột biến của các gen thể chế nền tảng của một hệ thống. Nếu không có những thay đổi đầy đủ trong các gen thể chế này, ngay cả các cuộc cách mạng, cải cách, hoặc chính sách mạnh mẽ của các tác nhân có thiện chí nhằm cải thiện phúc lợi xã hội cũng sẽ thất bại nếu chúng không tương thích với các gen thể chế hiện có.

Sự chuyển đổi của Đài Loan thành một nền dân chủ lập hiến cung cấp một ví dụ tốt về cách các gen thể chế tiến hóa và trở thành cơ sở cho một sự chuyển đổi thể chế thành công. Chương 14 sẽ sử dụng sự tiến hóa của các gen thể chế của Đài Loan làm ví dụ để thảo luận về sự chuyển đổi thành công của chủ nghĩa lập hiến dân chủ. Do sự cai trị của triều đại nhà Thanh đối với Đài Loan, một số gen thể chế của Đài Loan tương tự như của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong thời kỳ thuộc địa của Nhật Bản, các gen thể chế của Đài Loan đã trải qua một số thay đổi. Sau khi Quốc dân đảng lên nắm quyền sau Thế chiến thứ hai, họ đã thực thi các phần của hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, các cuộc bầu cử địa phương, và cải cách ruộng đất. Đài Loan đã dần dần phát triển chủ nghĩa đa nguyên hạn chế về quyền sở hữu, hệ tư tưởng, và chính trị. Điều này đã làm cho các gen thể chế mới đã xuất hiện trong thời kỳ thuộc địa của Nhật Bản trở nên vững chắc hơn và chúng đã có thể mở rộng. Sự xuất hiện và phát triển của những gen thể chế mới này đã đặt nền móng cho sự chuyển đổi thể chế vào cuối những năm 1980.

Ngược lại, sự chuyển đổi thể chế của Nga là một minh chứng cho thấy hướng đi và kết quả cuối cùng của bất kỳ sự thay đổi thể chế nào đều phụ thuộc cơ bản vào mức độ mà các gen thể chế mới có thể đối trọng với các gen thể chế xã hội hiện có, bất kể sự thay đổi thể chế đó có vẻ ấn tượng đến đâu, động lực chính trị và tư tưởng có mạnh mẽ đến đâu, hay nó nhận được bao nhiêu sự hỗ trợ quốc tế.

Trong cuối những năm 1980, lập trường tư tưởng của các nhà lãnh đạo hàng đầu của Liên Xô, bao gồm Mikhail Gorbachev và Boris Yeltsin, đã tự do và cởi mở hơn đáng kể so với các đối tác của họ trong ĐCSTQ. Perestroika của Gorbachev là một cuộc cải cách nhằm tự do hóa và mở cửa, một cuộc cải cách phi Stalin hóa, và một cuộc cải cách thách thức cơ bản các nền tảng của chủ nghĩa toàn trị. Ngược lại, các cuộc cải cách do các nhà cải cách chính của ĐCSTQ ở Trung Quốc lãnh đạo được thiết kế để củng cố và tăng cường sự kiểm soát của đảng. Hơn nữa, perestroika được xây dựng dựa trên và mở rộng các cuộc cải cách của Khrushchev trong những năm 1950. Đó là một lựa chọn chính sách được thực hiện bởi giới tinh hoa của ĐCSLX, được truyền lại bởi các bài học từ vô số nỗ lực cải cách thất bại trong nhiều thập kỷ.

Giới tinh hoa xã hội ủng hộ dân chủ của Nga, bao gồm các cánh tự do của ĐCSLX và giới trí thức, có một sự hiểu biết sâu sắc hơn nhiều về mặt tối của chủ nghĩa toàn trị và các nguyên tắc của chủ nghĩa lập hiến so với các đối tác Trung Quốc của họ. Vị thế và ảnh hưởng chính trị của họ đã phá bỏ chế độ toàn trị. Tuy nhiên, nếu không có các gen thể chế hỗ trợ, sự cai trị lập hiến không thể được thiết lập. Do thiếu các gen thể chế cần thiết để thiết lập một hệ thống lập hiến, Nga cuối cùng đã rơi vào một chế độ chuyên chế với một số hình thức nghi lễ lập hiến.

Sự phổ biến của quyền sở hữu tư nhân và xã hội dân sự là những gen thể chế ủng hộ chủ nghĩa lập hiến quan trọng nhất còn thiếu ở Nga. Nếu không có những gen thể chế này, không thể có một sự đa nguyên của các lực lượng xã hội được hình thành từ dưới lên. Một sự hình thành đủ mạnh từ dưới lên của các nhóm xã hội đa nguyên đại diện cho các lợi ích xã hội khác nhau là cơ sở để đảm bảo sự kiểm soát và cân bằng quyền lực và là nền tảng của chính phủ lập hiến. Với việc hệ thống toàn trị của Trung Quốc đến từ nước Nga Soviet, và Trung Quốc và Nga chia sẻ những phần đáng kể trong các gen thể chế của họ, bài học về sự thất bại của Liên Xô trong việc thiết lập một chính phủ lập hiến sau sự sụp đổ của chủ nghĩa toàn trị Soviet không thể bị bỏ qua bởi bất kỳ ai quan tâm đến tương lai của Trung Quốc.

Ghi chú

13. Hệ thống đế chế ở Trung Quốc phụ thuộc vào một nhóm lớn các thân sĩ địa phương, những người đóng vai trò là các quan lại không chính thức để thực hiện các chức năng của chính phủ ở cấp cơ sở. Tổng cộng, họ tạo thành lực lượng xã hội lớn nhất bên ngoài hệ thống quan liêu chính thức và có tiềm năng hoạt động như một cơ chế kiểm soát quyền lực của hoàng đế. Tuy nhiên, hệ thống đế chế Trung Hoa đã được thiết kế một cách có chủ ý theo cách sau để ngăn chặn sự phát triển như vậy. (1) Thân sĩ không phải là một tầng lớp quý tộc cha truyền con nối cũng không phải là một cơ sở quyền lực ổn định. Với tư cách là các quan lại không chính thức, họ không nhận lương của chính phủ, nhưng họ vẫn được yêu cầu phải vượt qua các kỳ thi của triều đình và đảm nhận một vai trò được công nhận trong hệ thống đế chế. Họ không sở hữu quyền lực cố hữu, cũng như không có địa vị chính thức cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình. (2) Ảnh hưởng của họ bị giới hạn trong địa phương của họ và hệ thống cấm họ thành lập các liên minh giữa các khu vực khác nhau.

14. Cho đến ngày nay, rất lâu sau sự tan rã của Liên Xô và sự tàn bạo giết người của thời đại toàn trị bây giờ đã được hiểu rõ, hầu hết mọi người ở Nga vẫn tin rằng bạo lực của những người Bolshevik là cần thiết để bảo tồn sự ổn định xã hội (Figes, 2017, tr. xv). Sự kiên cường của sự đồng thuận công chúng đó, hay gen thể chế, được thiết lập dưới sự cai trị Bolshevik, giải thích cho sự ưa thích của Nga đối với một nhà lãnh đạo chuyên chế như Vladimir Putin và cản trở quá trình chuyển đổi hoàn toàn của đất nước sang chính phủ lập hiến.

15. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười, người kế nhiệm của Engels là Karl Kautsky (Kautsky, 1920), một nhà lãnh đạo của phong trào cộng sản quốc tế vào cuối thế kỷ 19, đã viết về những người Bolshevik như một tổ chức khủng bố và chế độ khủng bố và là nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố có liên quan mật thiết đến phong trào cộng sản.

16. Xem Maier (2004) để biết tài liệu về chủ nghĩa toàn trị như một tôn giáo chính trị.

17. Cuộc thảo luận ở đây đề cập đến các chế độ toàn trị được thành lập chủ yếu bởi các lực lượng nội bộ chứ không phải do một kẻ xâm lược nước ngoài áp đặt. Trong trường hợp sau, người dân chỉ đơn giản là bị buộc phải tuân theo mà không thiết lập các thể chế toàn trị của riêng họ.

18. Các loại gen thể chế này, vốn đã tồn tại một cách ngập ngừng dưới hệ thống đế chế Trung Hoa và trải qua một giai đoạn phát triển ngắn sau sự sụp đổ của chế độ đế quốc, chưa bao giờ trưởng thành hoàn toàn để chống lại một cách hiệu quả các lực lượng chính trị dựa trên bạo lực. Do đó, chúng đã bị xóa sổ hoàn toàn trong những năm sau 1950.

19. Kể từ Đại Nhảy Vọt, đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, do đó làm cho khái niệm quyền sở hữu trong việc thu hồi đất trở nên vô nghĩa đối với nhà nước. Tuy nhiên, trước khi xuất hiện thị trường đất đai, tăng trưởng kinh tế không liên quan đến việc chính quyền chiếm đoạt đất đai quy mô lớn. Không có động cơ nào để chính phủ phá hủy nhà cửa của người dân và chiếm dụng đất nông nghiệp trên quy mô lớn vì lợi ích tăng trưởng kinh tế. Do đó, đất đai không trở thành một nguồn xung đột đáng kể giữa chính quyền và công chúng trong giai đoạn đó.

20. Deng Xiaoping, "Uphold the Four Cardinal Principles," (Đặng Tiểu Bình, “Giữ vững Bốn Nguyên tắc Chính”) ngày 30 tháng 3 năm 1979. Các Nguyên tắc kêu gọi duy trì những điều sau: chủ nghĩa xã hội, chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của ĐCSTQ, và chủ nghĩa Marx-Lênin-Tư tưởng Mao Trạch Đông.

21. Một bài phát biểu của người đứng đầu Ban Tổ chức Trung ương ĐCSTQ vào năm 2002.

22. Ví dụ, một bài báo có tựa đề "Beefing Up the State-Owned Economy, Firming Up the Foundations of Party Rule (Tăng cường kinh tế nhà nước, củng cố nbeenf tảng cai trị của Đảng)" được xuất bản vào ngày 11 tháng 1 năm 2005, trên tờ Southern Weekly (Nam Phương Châu Mạt), được coi là tờ báo tự do nhất của Trung Quốc, đã mô tả các doanh nghiệp nhà nước là nền tảng của sự cai trị của đảng, cơ sở tổ chức của đảng, và nền tảng của sự ủng hộ của đảng trong dân chúng nói chung. Bài báo còn tuyên bố rằng việc củng cố nền tảng của sự cai trị của đảng là mục tiêu cuối cùng của các cuộc cải cách. Xem: http://finance.sina.com.cn/review/20050111/19161286622.shtml.

23. Vài tháng trước khi Tập Cận Bình trở thành nhà lãnh đạo hàng đầu của ĐCSTQ, ông đã công bố một bài tiểu luận có tựa đề "State-Owned Enterprises Are an Essential Foundation for Party Rule (Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước là một nền tảng thiết yêu cho sự Cai trị của Đảng)," có sẵn tại: www.hongqi.tv/xywch/2012-04-16/270.html. Năm 2019, Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ đã ban hành "Regulations on Grass-Roots Organizational Work in CCP State-Owned Enterprises (Các quy định về Công tác Tổ chức cấp Cơ sở trong các doanh nghiệp do ĐCSTQ-Nhà nước sở hữu," chính thức quy định rằng: "doanh nghiệp nhà nước là một nền tảng vật chất và chính trị thiết yếu cho chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc; chúng là một trụ cột chính và là thành trì cho đảng trong việc cai trị và phục hưng Trung Quốc."

24. Văn phòng Trung ương ĐCSTQ (2013).

(Còn tiếp)

H.T.C.

Dịch giả gửi BVN

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn