Những chuyện ít được biết về... Côn Đảo – Kỳ IV (Kỳ cuối)

Lê Nguyễn

CÔN ĐẢO TRỞ THÀNH NHÀ TÙ TỪ BAO GIỜ?

* CÔN ĐẢO VÀ SỨ MẠNG CỦA TÀU LA CYBÈLE

Qua những sự kiện đã trình bày ở các phần trước, ta thấy cả người Anh và người Pháp rất chú trọng đến Côn Đảo, không phải vì nguồn tài nguyên hạn hẹp ở đây, mà chủ yếu vì vị trí thuận lợi của quần đảo này trong hành trình của các thương thuyền từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương để tiếp cận với thị trường Đông Nam Á và Đông Á. Khi hiệp ước Versailles được ký kết ngày 28.11.1787, Côn Đảo cũng là một trong hai nhượng địa dành cho Pháp, song vì các lý do khách quan, hiệp ước đó đã không được thực thi, không ai có trách nhiệm gì với ai hết.

Vậy mà 30 năm sau (1787-1817), theo nhiều tài liệu phổ biến cả trong và ngoài nước, người Pháp vẫn nhớ đến Côn Đảo! Cuối năm 1817, chính phủ nước này cử thuyền trưởng Kergariou đưa tàu Cybèle đến Việt Nam, sự kiện này chỉ được bộ Đại Nam thực lục đề cập một cách thật vắn tắt “(tháng 11 âm lịch 1817) Tàu của Phú Lãng Sa (Pháp) đậu ở Đà Nẵng, đưa thư cho Nguyễn Văn Thắng ... xin dâng sản vật địa phương, đến Kinh chiêm yết. Vua lấy cớ không có quốc thư mà khước từ. Sai Dinh thần Quảng Nam khoản đãi hậu, rồi bảo đi...” (ĐNTL tập I – sđd, trang 959-960).

Xem như trên, ta thấy bộ Đại Nam thực lục không tiết lộ chi tiết nào về điều mà nhiều người cho rằng sứ mạng chính của thuyền trưởng Kergariou là yêu cầu triều đình Huế thi hành hiệp ước Versailles về phần trách nhiệm của phía Việt Nam. Vậy mà không rõ căn cứ vào đâu, cụ Trần Trọng Kim, tác giả bộ Việt Nam Sử Lược, đã khẳng định rằng:

“Qua tháng sáu năm ấy (1817 – LN), chiếc tàu binh tên là Cybèle của nước Pháp vào cửa Đà Nẵng. Quan thuyền trưởng là De Kergarion (sic) bá tước nói rằng Pháp hoàng Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước của ông Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn. Vua Thế Tổ sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa” (sđd - NXB Văn Học 2012, trang 465).

Vua Gia Long (1762-1820)

Trang bìa tác phẩm La mission de la Cybèle en Extrême-Orient viết về chuyến đi của thuyền trưởng De Kergariou trên tàu La Cybèle ANH TL

Nếu chi tiết trên do sử gia họ Trần ghi lại là đúng sự thật thì đây là một thái độ dứt khoát và sòng phẳng mà vua Gia Long đã thể hiện trước đòi hỏi phi lý của triều đình Pháp, khi nguyên nhân chính dẫn đến sự bất khả thi của hiệp ước Versailles lại thuộc về phía Pháp.

Thế nhưng, một cuộc nghiên cứu kỹ và sâu hơn về vấn đề này lại đưa ra một kết quả gần như trái ngược hoàn toàn với những gì cụ Trần Trọng Kim và hầu hết các bài viết từ trước đến nay đã mô tả! Đây là một ngộ nhận rõ ràng và kéo dài sau hàng trăm năm, tác giả bài này xin hẹn sẽ trình bày đầy đủ trong một bài viết gửi đến người đọc trong một tương lai gần.

* KHI CÔN ĐẢO TRỞ THÀNH NHÀ TÙ

Dưới triều vua Minh Mạng, Côn Đảo và Hà Tiên - Phú Quốc được mệnh danh là “thủ” (thủ sở Côn Lôn), với nghĩa là những cơ sở có đặt quân đội để phòng thủ. Nhiều trường hợp bọn hải tặc quấy nhiễu vùng ven biển Gia Định, bị quân triều đình đánh đuổi, lại chạy ra Côn Đảo, đốt nhà, cướp của, như trường hợp đã xảy ra vào tháng 9 nhuận năm 1832.

Chân dung vua Minh Mạng (1790-1841) - Tranh chân dung - John Crawfurd (London - 1830)

Tháng 2 AL 1836, triều đình cho xây trên đảo đồn bảo Thanh Hải và pháo đài Thanh Hải; pháo đài nằm ở phía Nam đồn bảo, lính được đưa ra để bảo vệ sự thông thương của thuyền bè, chống lại giặc Chà-và thường nổi dậy

Tháng 7 AL năm 1836, một bước chuyển quan trọng đã diễn ra tại Côn Đảo: nơi đây được triều đình nhà Nguyễn chọn làm nơi phát vãng (đày đi xa) các tội phạm ở đất liền (Đại Nam thực lục - tập 4 – NXB Giáo dục – Hà Nội 2007, trang 989). Ba năm sau (1839), vua Minh Mạng nhận thấy khoảng cách Gia Định - Côn Lôn xa hơn khoảng cách Vĩnh Long - Côn Lôn nên quyết định sáp nhập quần đảo này vào tỉnh Vĩnh Long (ĐNTL – Tập 5 – NXB Giáo Dục 2007, trang 538)

Đến cuối thập niên 1830, số tội phạm bị đày ra Côn Đảo đã khá đông. Tháng 4 AL1840, nhà vua cử Thị vệ Tôn Thất Hạ “đi ra đảo Côn Lôn, tỉnh Vĩnh Long do thám tình hình. Về nói rằng: dân sở tại có đến 200 người, những tù phạm đưa đến cũng nhiều; mà những ruộng hiện đã khai khẩn, ước được 150 mẫu…” (Đại Nam thực lục – tập 5 – sđd, trang 710).

Đến tháng 10 AL 1840, con số cư dân Côn Đảo do tỉnh thần Vĩnh Long báo cáo đã rõ ràng hơn, trên đảo có 205 thường dân và 210 tù phạm. Trại giam được đặt dưới quyền điều hành của một quan lại xếp vào hàng Chánh bát phẩm thư lại, chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng đốc tỉnh Vĩnh Long về cả hai mặt quân sự và hành chánh. Dưới quyền “quan Chánh” (chánh bát phẩm thư lại) có 80 binh lính chia thành hai hạng:

- Hạng lính hầu, bao gồm chủ yếu dân địa phương.

- Hạng quản tù do triều đình cử đến đảo để giám thị tù nhân.

Quân lính coi tù trên đảo không được trang bị súng ống, vũ khí của họ chỉ có gươm giáo mà thôi (Nguyễn Minh Nhựt – Tổ chức lao tù Poulo-Condor thời Pháp thuộc – 1861-1945 – Tiểu luận Cao học sử - Đại học Văn khoa Sài Gòn 1972, bản in roneo, trang 12).

Chúng ta còn nhớ là vào ngày 5.6.1862, hai chính quyền Việt-Pháp đã ký hòa ước Nhâm Tuất nhượng cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn. Song trước đó hơn 4 tháng, cụ thể là vào ngày 1.2.1862, Đề đốc Bonard, Tổng tư lệnh quân đội Pháp, đã ban hành quyết định lần đầu tiên thành lập tại Côn Đảo một trại giam để lưu đày hai thành phần tù nhân:

- Tù nổi loạn và tù thường phạm.

- Tù nhân chiến tranh.

Tù nhân chiến tranh được cấp đất để sinh sống, còn hai hạng tù còn lại phải tham gia trồng trọt và làm việc công ích. Việc trông coi tù nhân được giao cho các quan lại và lính tráng người Việt đã đầu hàng khi Pháp chiếm đảo; họ làm việc dưới quyền trực tiếp của một sĩ quan giữ tư cách trưởng trại giam và được đưa gia đình ra đảo cùng sinh sống.

Đề đốc Bonard, người ký quyết định đầu tiên thành lập trại giam Côn Đảo vào tháng 2.1862

Quyết định thành lập trại giam tại Côn Đảo ngày 1.2.1862 của Đề đốc Bonard - TL riêng

Theo tiểu luận của tác giả Nguyễn Minh Nhựt (dẫn trên), đến cuối thập niên 1860, đầu thập niên 1870, số tù nhân tại Côn Đảo đã lên tới 500 người, được canh giữ bởi khoảng 30 nhân viên coi tù. Từ đó cho đến hàng trăm năm sau, Côn Đảo trở thành hòn đảo ngục tù với nhiều thành phần tù nhân khác nhau, trong đó có nhiều nhà cách mạng đã hy sinh cuộc đời thanh xuân của mình cho lý tưởng vì nước, vì dân.

L.N.

10.4.2026

Nguồn: https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/pfbid02mD8jywyJfyoJ9CfTZAQbTTHJ118xVPNKo7V7pvgV9vZwu8YbDLKJYFMoagmDBvaRl

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn