Mất gì cho vỉa hè sạch?

Phạm Văn Chiến

Tiến sĩ kinh tế, Giảng viên trường Đại học Ngoại thương

 Điều làm nên sự khác biệt bắt nguồn từ cách xác định: "Vỉa hè thực sự là gì?". 

Nếu định nghĩa nó chỉ là "lối đi cho người đi bộ", mọi hoạt động khác trên đó đều là lấn chiếm, và lựa chọn duy nhất là dẹp. Nhưng nếu nhìn vỉa hè như một không gian công cộng đa chức năng, cách tiếp cận sẽ khác: hoạt động nào được phép, ở đâu, vào thời điểm nào, và theo quy cách gì? Sự khác biệt giữa hai định nghĩa này không phải vấn đề nhận thức, mà là câu hỏi về việc thành phố thuộc về ai và phục vụ ai.

Tôi đang trong đợt công tác vài tháng tại Chiba, một thành phố nhỏ gần Tokyo.

Mỗi sáng đi bộ ra ga, tôi bước qua những vỉa hè rộng rãi, sạch đến mức nhìn thấy bóng mình lờ mờ trên gạch lát. Không có quán nước, không có hàng rong, cũng không có chiếc ghế nhựa nào kê tạm bên hiên nhà. Người Nhật đi bộ trên vỉa hè như đi trong một bảo tàng, yên lặng và đúng làn, giữa một thành phố vốn rất hối hả.

Mỗi xã hội có cách tổ chức đời sống riêng. Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng không phải là Nhật Bản hay Singapore. Vỉa hè đô thị cũng khác. Trong khi vỉa hè các nước đã đạt đến sự trật tự ổn định, thì ở Việt Nam, tranh luận vẫn sôi động năm nay qua năm khác.

Điều làm nên sự khác biệt bắt nguồn từ cách xác định: "Vỉa hè thực sự là gì?". 

Nếu định nghĩa nó chỉ là "lối đi cho người đi bộ", mọi hoạt động khác trên đó đều là lấn chiếm, và lựa chọn duy nhất là dẹp. Nhưng nếu nhìn vỉa hè như một không gian công cộng đa chức năng, cách tiếp cận sẽ khác: hoạt động nào được phép, ở đâu, vào thời điểm nào, và theo quy cách gì? Sự khác biệt giữa hai định nghĩa này không phải vấn đề nhận thức, mà là câu hỏi về việc thành phố thuộc về ai và phục vụ ai.

Tranh luận về vỉa hè ở Việt Nam thường chỉ xoay quanh câu hỏi "Có nên dẹp lấn chiếm vỉa hè không?", và câu trả lời tất nhiên là có. Vỉa hè bị chiếm dụng thì người đi bộ bị đẩy xuống lòng đường – chuyện không thể chấp nhận ở một đô thị văn minh.

Câu hỏi đầu tiên đã không được quan tâm đúng mức.

Suốt hơn một thế kỷ qua, vỉa hè Việt Nam là nơi bán hàng, ăn sáng, uống trà, sửa xe, đánh giày, cắt tóc, cãi nhau, hòa giải, tán tỉnh, đặt bàn thờ ông Công ông Táo. Đó là cái nền hạ tầng mềm của cuộc sống đô thị, hình thành từ dưới lên qua nhiều thế hệ. Cấu trúc ấy không tự nhiên mà có, nó hình thành trong sự cho phép ngầm, đôi khi là sự ngó lơ có chủ ý của chính quyền qua nhiều giai đoạn, khi nền kinh tế chính thức không đủ chỗ để hấp thụ.

Nền kinh tế chính thức không tạo đủ việc làm, vỉa hè là tấm lưới an sinh xã hội quý giá. Khi giá thuê mặt bằng quá cao, vỉa hè là cách duy nhất để một người không vốn liếng có thể bắt đầu một việc kinh doanh nhỏ. Khi người già không có lương hưu, gánh xôi sáng là cách họ giữ phẩm giá lao động thay vì sống nhờ con cái. Cả một hệ sinh thái mưu sinh đã được dựng lên trên giả định rằng vỉa hè vẫn còn ở đó.

Dẹp sạch vỉa hè là dẹp cả quy ước ngầm mà xã hội đã chấp nhận bấy nay với hàng trăm nghìn người: rằng nếu anh chịu khó, anh vẫn có chỗ để mưu sinh.

Phá vỡ một quy ước ngầm như vậy mà không có lộ trình thay thế, như chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người trên 50 tuổi, cấp phép có điều kiện cho những hộ nhỏ, thì đó thực sự là một cú sốc kinh tế với những người mà cấu trúc cũ đã ràng buộc họ vào.

Nhưng kể cả khi thực thi những giải pháp tình thế ấy, nó cũng chỉ có thể giảm bớt cú sốc trước mắt. Điều đáng suy ngẫm hơn, là tại sao thành phố hơn 8 triệu dân vẫn để hàng trăm nghìn người phải kiếm sống bằng vỉa hè?

Nếu không nhìn thẳng vào câu hỏi ấy, vỉa hè sẽ cứ dẹp vào rồi lại mọc ra trong các con ngõ, sau các bức tường, hoặc trong những cuộc đời lặng lẽ tan rã mà không ai thống kê.

Thứ nhất, cần nhìn nhận vỉa hè không chỉ là tàn dư của một quá khứ chưa kịp hiện đại hóa, mà còn là đầu ra tất yếu của mô hình phát triển hiện tại. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024 Việt Nam có 33,5 triệu lao động phi chính thức, chiếm đến 64,6% tổng số lao động có việc làm. Tỷ lệ này gần như không đổi suốt nhiều năm qua, dù GDP vẫn tăng đều và FDI liên tục đổ vào Việt Nam. Và rồi chính các nhà máy FDI - trụ cột của tăng trưởng, vốn ưu tiên lao động trẻ có sức khỏe và đẩy lao động lớn tuổi ra khỏi dây chuyền.

Hiện tượng "sa thải mềm" sau tuổi 35 trong các ngành như dệt may, da giày, điện tử đẩy một lực lượng lớn người lớn tuổi vào thị trường lao động tự do, đặc biệt là phụ nữ, trong đó có đến 11% chuyển sang bán hàng rong – theo một điều tra của Viện Công nhân và Công đoàn.

Vậy là họ không biến mất – họ rơi xuống vỉa hè. Vỉa hè vì thế không chỉ là chỗ những người chưa kịp vào kinh tế chính thức tạm trú, nó còn là điểm đến của những người từng ở trong đó và bị đẩy ra.

Chính sách siết khu vực phi chính thức mà không sửa cơ chế đẩy ra ấy, sẽ xóa đi khả năng tự kiếm việc của họ.

Vấn đề thứ hai nằm ở hệ thống an sinh, không phải thiếu mà là đang được thiết kế cho một thực tế khác. Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, như ở hầu hết các nước công nghiệp hóa, được dựng quanh giả định: ai cũng có quan hệ lao động chính thức, có chủ sử dụng đứng ra đóng phần doanh nghiệp, có hợp đồng làm căn cứ. BHXH tự nguyện được mở ra như một "cánh cửa phụ" cho người đứng ngoài, nhưng cánh cửa ấy vẫn quá hẹp.

Đến hết năm 2025, chỉ có khoảng 2,6 triệu người tham gia, đặt cạnh con số 33,5 triệu lao động phi chính thức thì chưa đến một phần mười. Việt Nam cũng đã có trợ cấp hưu trí xã hội từ tháng 7/2025 – một bước tiến đáng ghi nhận, nhưng nhìn vào con số sẽ thấy nó chưa giải quyết được vấn đề gì đáng kể: 500.000 đồng/tháng, và phải đợi đến 75 tuổi mới được nhận. Vỉa hè lại là chỗ để người ta sống tạm, chờ đến tuổi 75.

Dẹp vỉa hè không cần ngân sách lớn, nó cần lực lượng chức năng và quyết tâm chính trị. Cả hai thứ Hà Nội đều đang có. Nhưng giải quyết tồn tại "sa thải mềm" ở khối FDI hay cải cách an sinh cho lao động phi chính thức thì cần ngân sách thật, cần đụng đến lợi ích của nhiều bên, cần thời gian dài hơn nhiều nhiệm kỳ.

Tôi tuyệt đối không phản đối việc giành lại vỉa hè, thậm chí mong chiến dịch lần này thành công ở phần nó có thể thành công: trật tự đô thị, người đi bộ có lối đi, mỹ quan tốt hơn. Nhưng dẹp xong vỉa hè không có nghĩa là xong việc.

Khi gánh bún riêu đã co vào trong ngõ, phần bạn không nhìn thấy là những số phận đang lặng lẽ điều chỉnh, thu hẹp, đóng cửa, hoặc đơn giản là biến mất khỏi tầm nhìn của chính sách – vào nhà trọ, về quê, sống bằng tiền con cháu, hoặc trượt vào nghèo khó.

Họ không gây phiền cho ai nữa. Nhưng vấn đề mà họ đại diện vẫn còn nguyên ở đó.

P.V.C.

Nguồn: vnexpress.net

 

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn