Người ra đề có thực sự hiểu văn bản?

Thái Hạo

Tôi viết về vấn đề đọc hiểu trong văn bản của đề thi này không phải chỉ cho vui, càng không phải “bới lông tìm vết”, mà vì đây là một vấn đề hệ trọng. Chỉ cần không hiểu hay hiểu nhầm một thông điệp, thì sẽ dẫn đến không hành động hoặc hành động sai lầm. 

1.

Hôm qua, vui vì đọc được bài viết cặn kẽ, đầy trách nhiệm và giàu giá trị của PGS Bùi Mạnh Hùng về đề thi môn Ngữ văn kỳ thi Tốt nghiệp THPT 2026. Tuy không trực tiếp liên quan đến các luận điểm trong bài viết của thầy Hùng, nhưng vì cùng bàn về đề thi này nên tôi đã nhân tiện viết một bình luận nêu ý kiến của mình. Xin đăng lại ở đây và sẽ tiếp tục bàn thêm ở phần sau. (Xin lưu ý, ở đây tôi chỉ đang bàn việc “hiểu đúng” cái văn bản trong đề thi, chứ không đánh giá về tính đúng sai, hay dở của nó. Bất luận thế nào, dù nó có sai, có dở thì vẫn cần được hiểu đúng cái đã!)

Bình luận: 

“Cảm ơn thầy về sự công bằng trong nhìn nhận và đánh giá đối với đề thi năm nay ạ.

Em chỉ nêu một thắc mắc, là các câu hỏi ở phần Đọc hiểu đã hướng vào đánh giá năng lực đọc hiểu của thí sinh. Tuy nhiên, chính ở các câu hỏi này, và câu 1 ở phần Viết lại không có biểu hiện thật rõ ràng nào để cho thấy người ra đề thực sự hiểu văn bản ấy.

Đây là văn bản nói về "sức mạnh của máy in" trong việc “lưu giữ văn hóa”, phổ biến tri thức và quyết định tương lai của một quốc gia, tức là nói về ý nghĩa to lớn của việc in ấn, xuất bản, hay rộng hơn là khẳng định giá trị của tự do tư tưởng và tư do phổ biến tư tưởng. Tuy vậy, các câu hỏi trong phần đọc hiểu (nhất là câu 5) và câu 1 ở phần Viết lại hỏi về "sự đột phá về khoa học công nghệ".

Máy in thì đúng là "khoa học công nghệ", nhưng chủ đề của văn bản đọc hiểu không phải là ca ngợi máy in mà là đề cao việc tự do xuất bản, tự do tư tưởng (bằng hình thức xuất bản). Bằng chứng là văn bản đã chứng minh rằng nước nào cho phép in ấn tự do thì thành công, nước nào cấm đoán thì suy tàn.

Với chủ đề/luận đề như vậy, nội dung của văn bản trong phần đọc hiểu có thể được hiểu rộng ra rằng, vấn đề không chỉ là công nghệ, mà quan trọng hơn là cách đối xử với công nghệ. Cùng một phát minh, nước này có thể sử dụng để làm nên những cuộc cách mạng thay đổi vận mệnh quốc gia, nước khác lại cấm đoán, thậm chí sử dụng nó vào những việc "phản động" như định hướng có chủ đích để cai trị, hạn chế và kiểm soát tư duy... Trí tuệ nhân tạo (AI) cũng có nguy cơ bị rơi vào tình huống như vậy.

Vậy, một lần nữa, em rất băn khoăn, rằng người ra đề có thực sự hiểu đúng về văn bản mà mình đang đưa cho học sinh đọc hiểu hay không?” 

2.

Thầy Hùng đã trả lời tôi bằng một bình luận hết sức tận tình. Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần trình bày chi tiết và kỹ lưỡng hơn về cách tôi đã đọc và hiểu cái “thông điệp” trong văn bản đang nói tới. 

Đầu tiên, “đọc hiểu” là “hiểu” cái gì? 

Tất nhiên không thể chỉ dừng lại ở việc hiểu những từ ngữ rời rạc, hiểu các biện pháp tu từ đơn lẻ, hay hiểu nội dung bề mặt của văn bản. Ví dụ, khi một người mẹ hướng đến con mình và nói lớn “Mưa rồi”, thì đó không chỉ là một thông báo về trạng thái của thời tiết, mà rất có thể là một mệnh lệnh rằng “Mau ra sân lấy quần áo vào nhà!”. Nếu đứa con chỉ hiểu câu “Mưa rồi” của mẹ là thông báo trời mưa mà không hiểu cái “thông điệp” thực sự phía sau thông báo ấy, thì sẽ có chuyện! Tuy nhiên trong thực tế cuộc sống hằng ngày, ít có ai lại không hiểu những thông điệp kiểu ấy. Nói “Nước sôi” nghĩa là “tránh ra”; nói “Tối rồi” nghĩa là “Đi nấu cơm đi”; nói “Cái bàn nhà mình hỏng rồi” thì nghĩa là “Hãy sửa hoặc đi mua cái mới”… Những ai không thể hiểu những “thông điệp” như thế, thì hầu như giao tiếp thất bại và luôn tạo ra những bi hài, thậm chí bi kịch trong cuộc sống của mình.

Bây giờ quay lại với văn bản trong phần đọc hiểu của đề thi. Văn bản này có 6 đoạn: đoạn 1 nói về thời điểm ra đời của máy in; đoạn 2 nói về tình trạng “tri thức bị giam cầm” khi chưa có máy in; đoạn 3, 4 và 5 nói về tác dụng/sức mạnh của máy in và công nghiệp in ấn đối với việc “bảo tồn văn hóa” và thay đổi “vận mệnh các quốc gia” ở những nước đã chấp nhận nó; đoạn 6 nói về tình trạng “suy tàn” của những đế chế vốn hùng mạnh do đã cấm in ấn và phổ biến tri thức, ý tưởng, tư tưởng.

Các luận điểm trong văn bản được triển khai không phải trên cái trục có hay không có sự phát minh ra máy in, mà là có hay không có việc chấp nhận các phát minh ấy. Máy in, sau khi được phát minh, đã trở thành “tài sản chung”, vấn đề còn lại chính là việc có chấp nhận nó hay không, và hệ quả/ hậu quả của sự lựa chọn ấy.

Văn bản viết rằng “một để chế từng là trung tâm văn minh của thế giới lại dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu” vì “một quyết định định mệnh khi cấm in ấn”, chứ không phải vì không có máy in! Ngược lại, “Những quốc gia phương Tây như Anh, Hà Lan hay Đức, nơi chấp nhận các phiên bản cải tiến sau này của máy in Gutenberg và để chúng vận hành hết công suất, đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học”. 

Để hiểu văn bản này, ta cũng cần chú ý đến những chi tiết rất quan trọng khác: văn bản cho biết, những thứ được in ấn ở phương Tây không phải chỉ toàn là “vĩ đại” mà còn “vận hành hết công suất” để đồng thời in ra cả những thứ “nguy hiểm”, và chúng được cho phép! Trong khi đó, như đã nói, đế chế Ottoman trở nên “trì trệ và lạc hậu” không phải vì không có máy in hay không thể mua bán, trao đổi được chúng – văn bản hoàn toàn không cung cấp hay có lập luận nào cho biết điều đó – ngược lại, văn bản nói rõ: “vì lo sợ sự lan truyền của những tư tưởng “lệch lạc" nên mới ban ra lệnh cấm kia. Và hậu quả là: nó suy tàn. Xin nhắc lại: không phải vì không có máy in, mà vì cấm in, nên “các ý tưởng đột phả không có cơ hội được sao chép, lan truyền để tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ”.

Vậy, như đã thấy, đây đâu phải một văn bản đang tập trung chứng minh cho sức mạnh của những phát minh khoa học công nghệ (máy in), mà chính là đang cố gắng làm sáng tỏ sức mạnh của các quyết định “chính sách” trong việc sử dụng các thành tựu của khoa học công nghệ: cởi mở hay thủ cựu, tôn trọng hay cấm đoán… Và mỗi lựa chọn sẽ dẫn đến một kết quả, có thể trở nên hưng thịnh hoặc suy vi, giàu có hoặc nghèo nàn, văn minh hoặc tối tăm… (như văn bản đã chỉ ra).

Lúc này, thông điệp của văn bản không phải là "Công nghệ làm nên tiến bộ", mà là "Tiến bộ chỉ xuất hiện khi xã hội biết sử dụng và cho phép công nghệ thực hiện chức năng giải phóng và lan tỏa tri thức của nó". Văn bản hướng người đọc đến một kết luận rằng công nghệ tự nó không bảo đảm tiến bộ, mà điều quan trọng nằm ở môi trường xã hội, văn hóa, chính trị, chính sách…, đối với việc sử dụng những công nghệ ấy. Tóm lại, là thái độ của xã hội đối với việc phổ biến tri thức, hay nói cách khác là thể chế xã hội tiếp nhận hay ngăn cản sự lưu thông tri thức.

3.

Khoa học công nghệ hay phát minh sáng chế, có vai trò hiển nhiên không cần bàn cãi đối với sự phát triển của các quốc gia. Điều ấy có lẽ chẳng phải là cái cần phải ra sức chứng minh nữa. Chính cái cách một nhà nước ứng xử với những thành tựu của khoa học công nghệ, mà ở đây là trong việc phổ biến tri thức bằng cách cung cấp những “hạ tầng nhân bản tri thức” cho toàn xã hội, đó mới là vấn đề mà văn bản trong phần Đọc hiểu đang nói đến. Và nó xứng đáng được mang ra bàn bạc như một chủ đề quan trọng và hóc búa (nhất là trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang rất cần “vươn mình”). Khi hiểu đúng văn bản này, thì câu chuyện về tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do tư tưởng ở Việt Nam mới thực sự là thời sự; và từ đó đánh thức những suy nghĩ và trăn trở về con đường phát triển của đất nước. Còn chỉ hiểu rằng văn bản này đang nhấn mạnh đến phép thuật thần kỳ của khoa học công nghệ, thì người ta chỉ đang nói đến một thứ vừa hiển nhiên vừa thiếu sót.

Một văn bản gửi đi thông điệp về việc cần có ứng xử chính trị khôn ngoan và công chính đối với các thành tựu khoa học công nghệ, để mưu cầu tương lai tươi sáng cho quốc gia, không thể bị “bẻ lái” hoặc thu hẹp lại chỉ trong việc đề cao sức mạnh của các thành tựu khoa học công nghệ ấy. Như thế có phải là “đọc” mà chưa thật sự “hiểu”? Chúng ta đâu thiếu máy in, thậm chí bây giờ mỗi giáo viên và nhân viên văn phòng, ai cũng có mỗi người một chiếc! Tại sao chúng ta lại vẫn không “sản xuất” và phổ biến được tư tưởng một cách “trăm hoa đua nở”? Chúng ta đâu có thiếu các cơ quan báo chí và các nhà xuất bản, tại sao vẫn có rất nhiều thứ không thể được in ra, hoặc phải rất chật vật sau hàng chục năm khi “thời tiết chính trị” đã thay đổi? Các nước trên thế giới cơ bản đều không thiếu người tài, không thiếu các ý tưởng, nhưng “vì sao các quốc gia thất bại?”. Giải phóng trí tuệ và sức sản xuất bằng các chính sách sáng suốt để có thể làm ra và sử dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học, đó mới là vấn đề.

Nhân đây, xin nói thêm một ý, đó là sự quan trọng lớn lao của năng lực đọc hiểu. Như đã dẫn ở đầu bài, nếu đọc/nghe mà không hiểu, thì trước các thông báo tưởng như tường minh, quần áo có thể bị ướt, da có thể bị bỏng. Đó là các “tai nạn” cá nhân xảy ra do năng lực nghe hiểu hoặc đọc hiểu có vấn đề. Nhưng trước các thông điệp chính trị, xã hội, văn hóa, mà những người có trách nhiệm hoặc toàn xã hội lại không hiểu hoặc hiểu nhầm, thì tai họa không thể đo lường được. 

Trong tâm lý, nhiều người vẫn coi thường việc đọc hiểu. Nhưng không, khi chúng ta thấy các chuyên gia đã phải tốn giấy mực đến đâu khi phân tích, mổ xẻ một phát ngôn của tổng thống nước này nước kia, thì ta sẽ thấy nó không hề dễ dàng. Họ nói to trước micro, viết rõ trên mặt giấy là thế, nhưng, để hiểu được chính xác cái “dụng ý” phía sau đó thì hoàn toàn không đơn giản. Đối với những bài báo quan trọng hay những văn kiện chính trị cũng thế, việc hiểu chính xác cái thông điệp sâu xa đang cất giữ trong đó là cả một thách thức, đòi hỏi năng lực đọc hiểu, sự “tinh ý” và vốn liếng liên ngành đủ rộng, đủ sâu. Đối với các loại văn bản khoa học, hành chính, pháp luật hay nghệ thuật cũng thế, đều cần được “giải mã” để hiểu cho đúng.

Tôi viết về vấn đề đọc hiểu trong văn bản của đề thi này không phải chỉ cho vui, càng không phải “bới lông tìm vết”, mà vì đây là một vấn đề hệ trọng. Chỉ cần không hiểu hay hiểu nhầm một thông điệp, thì sẽ dẫn đến không hành động hoặc hành động sai lầm. 

Ví như, nếu hiểu cái văn bản này chỉ là đề cao sức mạnh của các phát minh sáng chế công nghệ như một phép thần kỳ có thể lập tức biến một quốc gia thành rồng thành hổ, thì người ta sẽ “ra đề” theo kiểu “làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”, và từ đó một loạt chính sách nhằm “nhân bản” Steve Jobs sẽ ra đời để làm ra các thiên tài! Nhưng nếu hiểu đúng cái mà văn bản đang thực sự nói, người ta sẽ đặt hỏi “cần thay đổi chính sách, thay đổi môi trường chính trị và xã hội như thế nào để những phát minh công nghệ ấy phát huy được sức mạnh của nó”. Đó là hai hướng hành động khác hẳn nhau. Hãy tưởng tượng nếu một nguyên thủ quốc gia nào đó đọc mà chỉ hiểu theo hướng đầu thì tai hại sẽ tới đâu? Rất có thể không những không làm ra được những “Steve Jobs Việt Nam” mà còn lãng phí tiền bạc, thời gian, trong khi cái cần kíp phải thay đổi thì lại không hề nhúc nhích, thậm chí còn làm ngược lại!

T.H.

Nguồn: FB Thái Hạo

 

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn