Cuộc Khủng hoảng Thầm lặng: Sự đứt gãy về ngôn ngữ đạo đức của Người Việt

Thục-Quyên

Viết cho NMT, ĐĐB, DFR và những người trẻ VN tôi được tiếp xúc

Khi nói về những chia rẽ của người Việt, chúng ta thường nghĩ đến những khác biệt về chính trị, lịch sử hay ý thức hệ. Chúng ta tranh luận về chiến tranh, về thắng và thua, về những lựa chọn của các thế hệ đi trước, về những biến cố đã định hình đất nước trong thế kỷ XX.

Nhưng có lẽ bên dưới tất cả những tranh luận ấy là một vấn đề sâu xa hơn: đó là sự đứt gãy về ngôn ngữ đạo đức.

Người Việt Nam miền Bắc và miền Nam bước ra khỏi chiến tranh với những ký ức khác nhau. Người ở lại trong nước và người ra đi mang những câu chuyện khác nhau. Những người sinh ra trong chiến tranh và những người sinh ra sau chiến tranh nhìn thế giới bằng những lăng kính khác nhau.

Ngày nay, hơn một trăm triệu người Việt Nam trong nước và hàng triệu người Việt ở khắp thế giới đang sống trong những hoàn cảnh rất khác biệt. Nhưng điều đáng lo ngại không phải là sự khác biệt ấy. Điều đáng lo ngại là chúng ta ngày càng thiếu một nền tảng đạo đức chung để hiểu nhau.

Người thuộc thế hệ chiến tranh thường cảm thấy thế hệ trẻ không hiểu được những hy sinh, mất mát và lựa chọn đạo đức mà họ đã phải đối diện. Trong khi đó, nhiều người trẻ lại cảm thấy mình đang bị yêu cầu mang những gánh nặng cảm xúc của một quá khứ mà họ chưa từng trải qua.

Khoảng cách ấy ngày càng lớn.

Và khi không còn một ngôn ngữ đạo đức chung, đối thoại rất dễ biến thành đối đầu. Người ta không còn lắng nghe để hiểu mà chỉ lắng nghe để phản bác. Người ta đánh giá nhau trước hết bằng lập trường chính trị, nguồn gốc gia đình hay ký ức lịch sử thay vì bằng phẩm chất và hành động của họ.

Trong khi đó, những câu hỏi đạo đức của thế hệ hôm nay không còn giống những câu hỏi của thế hệ chiến tranh: họ không còn bận tâm trước hết đến việc ai thắng ai thua.

Họ đang đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi khác:

Làm sao sống trung thực trong một xã hội đầy áp lực?

Làm sao giữ được lòng tử tế giữa chủ nghĩa thực dụng?

Làm sao bảo vệ tự do tinh thần trong một thế giới đầy tuyên truyền, định kiến và thao túng?

Làm sao sống có trách nhiệm với cộng đồng mà vẫn giữ được phẩm giá cá nhân?

Đó là những câu hỏi đạo đức của thời đại hôm nay.

Muốn trả lời những câu hỏi ấy, chúng ta cần nhiều hơn là những khẩu hiệu chính trị hay những tranh cãi lịch sử. Chúng ta cần một ngôn ngữ đạo đức có khả năng kết nối những con người khác biệt với nhau.

Một ngôn ngữ giúp người miền Bắc và người miền Nam có thể cùng đối thoại.

Giúp người trong nước và người hải ngoại có thể cùng lắng nghe.

Giúp thế hệ chiến tranh và thế hệ hòa bình có thể nhận ra những giá trị chung.

Giúp người Việt nhìn thấy nhau trước hết như những Con Người.

Trong hành trình tìm kiếm một ngôn ngữ như vậy, cuộc đời của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trường hợp đặc biệt đáng suy ngẫm.

Điều đáng chú ý ở ông không phải là việc mọi người có đồng ý với tất cả các quan điểm của ông hay không. Cũng không phải là những tranh cãi chính trị xoay quanh ông trong từng giai đoạn lịch sử.

Điều đáng chú ý là trong suốt cuộc đời mình, ông đã kiên trì xây dựng một nền tảng đạo đức vượt lên trên các ranh giới của phe phái, ý thức hệ và ký ức lịch sử.

Ông không phủ nhận đau khổ.

Ông không phủ nhận bất công.

Ông không phủ nhận những vết thương mà chiến tranh để lại.

Nhưng ông từ chối biến những đau khổ ấy thành nền tảng cho hận thù truyền đời.

Có lẽ điều đáng chú ý nhất ở Thiền sư Thích Nhất Hạnh là ông chưa bao giờ đặt bản thân mình làm trung tâm. Trong một thời đại mà nhiều người tìm kiếm ảnh hưởng, quyền lực hay sự công nhận, ông lại dành phần lớn cuộc đời để nuôi dưỡng những cộng đồng thực tập, những con người bình thường và những giá trị có thể tiếp tục tồn tại ngay cả khi ông không còn hiện diện.

Ông không để lại một lời kêu gọi tôn sùng cá nhân, cũng chẳng đòi hỏi sự trung thành với tên tuổi của mình.

Điều ông cố gắng xây dựng là một nền tảng đạo đức mà người khác có thể tiếp nhận, thực hành và tiếp tục phát triển.

Tinh thần ấy được thể hiện rất rõ trong Mười Bốn Giới Tiếp Hiện mà ông khởi xướng (1).

Trong giới thứ nhất, ông kêu gọi con người không bị vướng mắc vào bất kỳ chủ nghĩa, lý thuyết hay ý thức hệ nào như một chân lý tuyệt đối để thờ phụng và bảo vệ bằng bạo lực.

Trong giới thứ hai, ông kêu gọi phá bỏ kiến chấp, mở lòng đón nhận kinh nghiệm và tuệ giác của người khác, đồng thời luôn giữ thái độ khiêm tốn trước những điều mình cho là đúng.

Nếu đọc hai giới này trong bối cảnh lịch sử Việt Nam, ta sẽ thấy đây không chỉ là những lời dạy dành cho người Phật tử.  Đó là những nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa đối với toàn xã hội.

Điều đó không có nghĩa rằng nền tảng đạo đức của người Việt đã biến mất.

Trong đời sống hằng ngày, từ thành thị đến nông thôn, từ trong nước đến hải ngoại, vẫn có vô số con người đang sống bằng lòng nhân ái, sự hy sinh, trách nhiệm gia đình, tình nghĩa cộng đồng và khát vọng làm điều đúng đắn. Những giá trị ấy chưa hề mất đi.

Nhưng khi thiếu một ngôn ngữ đạo đức chung để nhận ra những giá trị ấy nơi nhau, chúng ta dễ nhìn nhau qua lăng kính của khác biệt chính trị, khác biệt thế hệ hay khác biệt ký ức lịch sử. Chúng ta thấy điều chia cách mình trước khi thấy điều kết nối mình.

Có lẽ vì vậy, nhiệm vụ của thời đại hôm nay không chỉ là gìn giữ các giá trị đạo đức, mà còn là học lại cách đối thoại về chúng.

Bởi một trong những bi kịch lớn nhất của thế kỷ XX là khi con người biến các ý thức hệ thành đối tượng để tôn thờ, và từ đó đánh mất khả năng nhìn thấy phẩm giá của những người đứng bên kia chiến tuyến.

Và một trong những nguy cơ lớn nhất của thế kỷ XXI là khi con người tiếp tục mang theo những kiến chấp ấy vào tương lai.

Có lẽ đóng góp lớn nhất của Thiền sư Thích Nhất Hạnh không phải là việc ông đưa ra câu trả lời cho mọi tranh cãi của lịch sử Việt Nam.

Ông để lại một phương pháp.

Một phương pháp để con người có thể bất đồng mà không hủy diệt nhau.

Có thể bảo vệ niềm tin của mình mà không rơi vào cuồng tín.

Có thể tìm kiếm sự thật mà không đồng nhất sự thật với cái tôi của mình.

Có thể yêu đất nước mà không cần căm ghét những người đồng bào có trải nghiệm lịch sử khác mình.

Chính vì vậy, giá trị của con đường Nhất Hạnh không nằm ở việc giải quyết những xung đột của một thời kỳ cụ thể.

Giá trị ấy nằm ở khả năng vượt qua thời gian và không gian.

Nó có ý nghĩa với người Việt ở Hà Nội cũng như ở Sài Gòn, với người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại, với người từng trải qua chiến tranh cũng như với người sinh ra nhiều thập niên sau chiến tranh.

Bởi những câu hỏi mà nó đặt ra là những câu hỏi muôn thuở của con người:

Làm sao sống mà không bị hận thù chi phối?

Làm sao giữ được sự thật mà không đánh mất lòng từ bi?

Làm sao xây dựng tự do tinh thần mà vẫn có trách nhiệm với cộng đồng?

Làm sao truyền lại cho thế hệ sau trí tuệ thay vì oán hận?

Nếu có một ánh sáng còn có thể soi đường cho những đứt gãy của lịch sử Việt Nam, thì ánh sáng ấy không nằm ở việc ai đã thắng hay ai đã thua.

Nó nằm ở khả năng của người Việt học lại cách nhìn thấy con người trong nhau.

Có lẽ đó cũng là điều mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dành cả cuộc đời để vun đắp.

Không phải để người Việt cùng tin một điều, mà để người Việt có thể cùng đối thoại với nhau trong sự tôn trọng, lòng nhân ái và trách nhiệm đối với tương lai chung của dân tộc.

Và có lẽ, trong một thời đại đầy chia rẽ, đó là một trong những đóng góp quý giá nhất mà một người Việt có thể để lại cho đất nước mình.

---

Ghi chú:

1               https://langmai.org/phat-duong/tung-gioi/gioi-ban-tiep-hien-tan-tu/


T.Q.

Tác giả gửi BVN  

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn