27/01/2010

Phận đời phụ nữ Việt lấy 'chui' chồng Trung Quốc

VNN - Thứ Ba, 26/01/2010 (GMT+7)

Gần đây một số phóng viên tờ “Tân khoái báo”(CHND Trung Hoa) đã tới Thanh Viễn, Quảng Đông điều tra, phát hiện thấy một số vùng núi xa xôi hẻo lánh thuộc thành phố này có khá nhiều phụ nữ Việt Nam di dân tới ở. 



Những người phụ nữ nghèo, ít học là đối tượng dễ bị lừa bán sang Trung Quốc. (Ảnh minh họa: achr.vn)

Theo giới thiệu của quan chức Phòng Dân chính huyện Thanh Tân, thành phố Thanh Viễn thì cho đến hiện nay, ít nhất đã có tới hàng trăm phụ nữ Việt Nam “được gả” tới huyện này và đã sinh con đẻ cái. Các khu vực miền núi xa xôi khác của Quảng Đông như Thiều Quan, Mai Châu…, thậm chí tại các miền núi xa xôi của Quảng Tây cũng có hiện tượng tương tự.

Người phụ trách Phòng Dân chính huyện Thanh Tân cho rằng hiện tượng phụ nữ Việt Nam nhập cảnh phi pháp, kết hôn phi pháp với đàn ông trong nước là nghiêm trọng, hiện nay chính quyền phối hợp cùng các ngành liên quan tiến hành giám sát, quản lý người nước ngoài đã nhập cảnh, nhưng “tất cả những cái đó dường như không có hiệu quả”.



Không thể kiểm soát

Huyện Thanh Tân là một trong một trăm huyện trọng điểm được giúp đỡ xóa đói giảm nghèo trong cả nước. Theo điều tra của các phóng viên, từ năm 1992 đã có một số phụ nữ Việt Nam, thông qua môi giới phi pháp, tới vùng miền núi xa xôi của huyện này để kết hôn với đàn ông bản địa lớn tuổi và sau đó đã sinh con đẻ cái.

Hà Trác Phi, người phụ trách Trung tâm Đăng ký kết hôn Phòng Dân chính huyện cho biết, hiện nay dự đoán có tới mấy trăm phụ nữ Việt Nam có cuộc “hôn nhân xuyên quốc gia” với đàn ông bản địa, mà phần lớn trong bọn họ là vào Trung Quốc không thông qua con đường bình thường.

“Ba năm gần đây, đã có một số đàn ông bản địa “cưới” phụ nữ Việt Nam đến Phòng Dân chính đăng ký kết hôn, nhưng cuối cùng không thành công”, Hà Trác Phi nói, "bởi vì luật pháp Trung Quốc hiện hành không cho phép họ đăng ký kết hôn". Tuy vậy về căn bản cũng chẳng có biện pháp gì ngăn chặn được hiện tượng này phát triển.

 “Từ năm 1992 đến năm 2002 là thời kỳ phụ nữ Việt Nam nhập cảnh phi pháp vào lấy  đàn ông bản địa rồi sinh con đẻ cái nhiều nhất”, Hà Trác Phi cho biết. Một trong những lý do là giữa Quảng Tây và Việt Nam có một khu mậu dịch tự do, người Việt có thể tự do ra vào Trung Quốc nên chính quyền rất khó quản lý.

“Quản lý và giám sát cũng không giải quyết được hiện tượng hôn nhân siêu quốc gia phi pháp giữa đàn ông bản địa với phụ nữ Việt Nam, bởi vì ở những vùng núi xa xôi đó về căn bản chính quyền quản không nổi”, một quan chức địa phương nói một cách ngượng ngập.

Vì nghèo, nam phải mua vợ, nữ phải ra đi

Hà Trác Phi nói: “Những địa phương phát sinh hôn nhân phi pháp phần lớn là vùng miền núi xa xôi, nghèo nàn, tại đó đàn ông rất nghèo, không có trình độ văn hóa gì, rất khó kiếm được vợ địa phương, có một số đàn ông dường như độc thân suốt đời”. Theo lời Hà Trác Phi thì con gái địa phương đều muốn chạy đi nơi khác, tạo nên hiện tượng mất cân đối tỷ lệ nam, nữ tại chỗ, và phụ nữ Việt Nam nhập cảnh phi pháp đã tạo cơ hội để số đàn ông này giải quyết vấn đề lấy vợ.

Trình độ tri thức thấp kém, ý thức pháp luật mờ nhạt là “đặc điểm chung” của những người đàn ông (Trung Quốc) bỏ tiền ra  “cưới” phụ nữ Việt Nam. Theo giới thiệu của một quan chức huyện này thì chính quyền địa phương đã không ngừng đả kích những vụ cưới phụ nữ Việt Nam phi pháp, nhưng rất nhiều người không biết đó là hành vi phi pháp. “Thậm chí có khi lấy vợ Việt Nam mang về giấu đi, đợi đến khi có con mới công khai”. Một điều nữa khiến các cơ quan thi hành pháp luật khó làm là hơn 10 năm nay, chính quyền địa phương không hề nhận được bất kỳ tố cáo nào của dân chúng.

So sánh với những người đàn ông nghèo nàn tại vùng miền núi xa xôi Trung Quốc, đời sống của đại bộ phận phụ nữ Việt Nam nhập cảnh phi pháp còn nghèo nàn hơn.

Những số phận may mắn hiếm hoi

Bà Nguyễn Kim Phượng năm nay hơn 40 tuổi bị tổ chức “mẹ mìn” bán cho một người đàn ông nghèo ở Thanh Viễn, Quảng Đông lớn hơn mình 13 tuổi đã từ chỗ không ưa thích tới ưa thích, đã từ chỗ không thích ứng đến chỗ không bỏ được. Bà đã sống ở thôn Hạ Kinh, trấn Hòa Vân, huyện miền núi Thanh Tân 17 năm và có 3 ngưòi con gái. Không có giấy chứng nhận kết hôn, thậm chí ngay đến chứng minh thư cũng không có, nhưng bà đã coi nơi đây là nhà mình. Chỉ tiếc là cho đến nay bà vẫn không có hộ khẩu Trung Quốc!

Bà cho biết, trước khi sang Trung Quốc bà sống tại một huyện nhỏ thuộc thành phố Hà Nội, sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, bà ở nhà bán hàng tạp phẩm, năm 24 tuổi bị người rủ đi làm xa, nhưng thực chất là bị lừa bán sang Trung Quốc. Trần Kỷ Tường, chồng bà Phượng nhớ lại, năm 1992 khi gặp bà Phượng ông đã 35 tuổi, “nhà rất nghèo, không cưới nổi vợ, có người giới thiệu có một phụ nữ Việt Nam chỉ cần bỏ ra 3000NDT là có thể lấy về làm vợ, sau khi mặc cả ngã giá là 2500 NDT”. Trần Kỷ Tường đang rất muốn lấy vợ, sau khi thấy Nguyễn Kim Phượng, trẻ trung xinh đẹp đã hạ quyết tâm vay họ hàng 2000 NDT cộng với 500 NDT tiền để dành nhiều năm của mình mua được Nguyễn Kim Phượng về.

Từ đó, hai vợ chồng chung sống hòa thuận, ngoài việc làm nông ra còn mở một cửa hàng nhỏ nên đời sống vật chất cũng dễ chịu. Họ đã có với nhau 3 người con gái, đứa lớn đã 16 tuổi đang học lớp 10 trung học phổ thông, đứa thứ hai 15 tuổi đang học trung học cơ sở, còn cô út năm nay 13 tuổi đang học lớp 5 tiểu học.
17 năm qua bà Phượng đã về thăm quê 3 lần (có lần có cả chồng, con cùng đi). Ông anh trai bà cũng đến thăm em gái 2 lần qua đường du lịch. Khi phóng viên hỏi gia đình ở Việt Nam có cần bà gửi tiền về hay không, bà Phượng đã nói, mẹ và anh trai tôi hiện nay sống ở nội thành, điều kiện tốt hơn tôi nhiều. Có lần tôi muốn gửi tiền cho mẹ nhưng rốt cuộc lại thành mẹ gửi tiền cho tôi.

Nguyện vọng tha thiết của bà Phượng là được có hộ khẩu Trung Quốc (3 cô con gái của bà với Trần Kỷ Tường đã có rồi) bởi vì bà có nguyện vọng ở  đây mãi mãi với gia đình của mình.

Một người phụ nữ Việt Nam nữa đang sống ở huyện Thanh Tân, Thanh Viễn tên là Hoàng Vỹ Trân, được dân địa phương gọi là “bà hoàng bán lạc”. Hoàng Vỹ Trân sống cùng chồng, con ở trong một căn phòng rộng chưa tới 15m2 nhưng có gác phụ, có TV và môtô... Khi phóng viên hỏi: “bà có muốn về Việt Nam không?” bà đã trả lời: “Chồng tôi không đánh tôi, đối xử với tôi rất tốt, hơn nữa hai đứa con trai cũng cũng đã lớn, nên tôi chẳng muốn về, tuy vậy rất nhớ nhà”.

15 năm qua, Hoàng Vỹ Trân đã về quê hai lần, lần gần đây nhất là vào tháng 6 năm 2007, “lần về đó mang theo 1500 NDT, bố mẹ tôi mừng lắm”.

Khi được hỏi “vì sao không tính đến chuyện lấy chồng tại Việt Nam, Hoàng Vỹ Trân đã trả lời: “bên chúng tôi nghèo lắm, chỉ có làm ruộng, cấy trồng được bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu, ngoài ra không có thu nhập gì”.

Tuy nhiên, trong số hàng trăm, hàng nghìn số phận đau khổ của phụ nữ Việt Nam bị bắt cóc bán sang biên giới làm vợ xứ người, chỉ rất ít người được thần may mắn mỉm cười như hai trường hợp trên. Họ đã và đang sống bất hợp pháp ở Trung Quốc nhiều năm và cuộc hôn nhân của họ cũng không được pháp luật bảo vệ. Điều gì sẽ xảy ra nếu chính quyền Trung Quốc quyết định xử lý những trường hợp này?
  • Dương Danh Dy (giới thiệu)