20/10/2011

Trung Quốc và Việt Nam 'đổi chính sách Biển Đông'

Lê Quỳnh

BBC, Manila

clip_image001  

Tiến sĩ Trần Trường Thủy hiện làm việc ở Học viện Ngoại giao tại Hà Nội

 

Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila phân tích những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.

Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông tại Học viện Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội, nhấn mạnh chính sách của Trung Quốc mang tính "thử và đẩy", dựa trên phản ứng của các nước.

Ông cũng cho phóng viên BBC đến dự hội thảo Manila cuối tuần qua biết về những điều chỉnh mới nhất trong lập trường của Việt Nam.

Tiến sĩ Trần Trường Thủy: Từ khi ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa Trung Quốc và Asean, Trung Quốc đã thi hành chính sách gây cảm tình (charm offensive) để thu phục nhân tâm các nước Asean theo chiến lược láng giềng tốt.

Nhưng hai, ba năm gần đây, Trung Quốc có điều chỉnh vì họ mạnh lên và cũng vì nhân tố chính trị nội bộ. Tình hình nóng lên, ví dụ việc cấm đánh bắt cá, ngăn tàu khảo sát. Trung Quốc công khai hóa đường lưỡi bò không chỉ về ngoại giao, giấy tờ mà cả thực tế là thi hành kiểm soát theo phạm vi đường lưỡi bò. Họ tăng cường biện pháp đơn phương như cấm đánh bắt cá, công bố dự án đầu tư thăm dò dầu khí 30 tỷ đôla, đầu tư dàn khoan nước sâu. Mà những vùng nước sâu ở Biển Đông chắc chắn không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Hải Nam.

"Sự chuyển biến của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh".

Sự chuyển biến của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh. Sau Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) 17, khi Ngoại trưởng Mỹ Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc tức giận một thời gian nhưng sau đó cũng điều chỉnh lại cho mềm mỏng hơn.

Điều chỉnh một giai đoạn ngắn, nhưng các sự kiện sau đó cho thấy Trung Quốc cứng rắn trở lại như vụ cắt cáp. Đến khi gặp phản ứng, TQ lại tiếp tục điều chỉnh. Trong hai, ba tháng gần đây, đã ít sự kiện hơn. Trung Quốc đồng ý ký với ASEAN bản hướng dẫn thực thi DOC [tháng Bảy 2011], hay cũng không có nhiều thông tin Trung Quốc bắt giữ ngư dân như trước đây.

BBC: Như vậy phải chăng Thỏa thuận vừa ký giữa Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề trên biển có thể đặt trong bối cảnh Trung Quốc điều chỉnh chính sách cho mềm hơn sau khi bị phản ứng các nước?

clip_image002

Cử tọa tại hội thảo về Biển Đông ở Manila

Thỏa thuận những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển có sáu điểm. Hai bên cam kết giải quyết bằng con đường đàm phán, dựa trên luật pháp quốc tế tất nhiên có dựa trên lịch sử. Điểm thứ ba rất quan trọng là nhấn mạnh tính kiên định trong chính sách của Việt Nam. Tức là những tranh chấp chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đàm phán hai nước. Nhưng những vấn đề liên quan các nước khác, phải đàm phán với các nước đó. Như thế các nước ASEAN mới an tâm.

Đó cũng có thể nói là bước tiến của Trung Quốc vì từ trước đến giờ, Trung Quốc chỉ kiên định đàm phán song phương kể cả những vấn đề có tranh chấp nhiều nước.

Có những điểm tích cực khác như hai nước thỏa thuận tham vấn Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần và khi cần thiết, tức là khi có căng thẳng. Bổ trợ cho cơ chế ấy là đường dây nóng. Cơ chế mà Trung Quốc và Việt Nam có được, nếu tôi không nhầm thì là lần đầu tiên ở cả Châu Á. Năm ngoái có va chạm trên biển giữa Nhật và Trung Quốc. Một trong những nhân tốt làm leo thang căng thẳng là giữa hai bên không có cơ chế nói chuyện trực tiếp với nhau khi cần thiết.

Việc ký kết thỏa thuận thể hiện hai nước cam kết giải quyết vấn đề một cách hòa bình và muốn cho thế giới thấy có tiến bộ trong quá trình đàm phán Biển Đông.

BBC:Trong bài phát biểu, anh nói chính sách Biển Đông của Việt Nam cũng có những điều chỉnh. Anh có thể cho biết rõ hơn?

Chính sách của Việt Nam có những cái bất biến, nhưng cũng có những điều chỉnh. Ví dụ, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là bất biến.

"Liên quan quy chế pháp lý của các vị trí (hình thái địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Đây là bước phát triển trong chính sách của Việt Nam đối với các vùng biển và cũng phù hợp với Công ước LHQ".

Về quan điểm đối với các vùng biển, Việt Nam có chủ quyền đối với các vùng nội thủy và lãnh hải tính từ đường cơ sở, và có chủ quyền với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa cả đoạn 200 và đoạn kéo dài giống như báo cáo ranh giới ngoài giữa Việt Nam và Malaysia.

Liên quan quy chế pháp lý của các vị trí (hình thái địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Đây là bước phát triển trong chính sách của Việt Nam đối với các vùng biển và cũng phù hợp với Công ước LHQ. Thực tế, các vị trí nói chung ở Hoàng Sa, Trường Sa đa số không có đời sống kinh tế riêng. Nên theo công ước luật biển, thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hầu như mọi nước ASEAN đều thống nhất với quan điểm này. Nó tạo thành lập trường chung của ASEAN – tất nhiên khác với lập trường của Trung Quốc.

BBC: Sau bài thuyết trình của anh, một chuyên gia Trung Quốc, Đại sứ Trần Sỹ Cầu đứng lên phản bác một số điểm. Anh nghĩ thế nào?

Dĩ nhiên cái nhìn của Trung Quốc thì khác. Họ xem mình có quyền với đường lưỡi bò, nên mọi hành động của các nước trong đường lưỡi bò vi phạm quyền của Trung Quốc.

Phản ứng của ông Đại sứ cũng có thể là quan điểm công khai của chính phủ khi họ không công nhận Hoàng Sa có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hay họ cho rằng Trung Quốc không muốn mở rộng vùng tranh chấp. Nhưng nếu đọc các văn bản, công hàm của Trung Quốc gần đây, có thể thấy họ muốn tối đa hóa khu vực tranh chấp khi xem các vị trí Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo, và có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như thế, tranh chấp từ các đảo sẽ mở rộng ra rất lớn.

Phân tích của tôi cho thấy Trung Quốc muốn mở rộng khu vực tranh chấp trên cả đường lưỡi bò. Nhưng đường lưỡi bò không có giá trị pháp lý, như trong thảo luận ở cả hai buổi, tất cả đều không hiểu đường lưỡi bò là gì.

L.Q.

Nguồn: bbc.co.uk