28/03/2012

Về biện pháp xử lý sự cố đập thủy điện Sông Tranh 2

Nông Viết Lù

Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng đang bàn nhiều về đập thủy điện Sông Tranh 2. Lù tôi tuy là ếch ngồi đáy giếng nhưng cũng liều mạng góp một vài ngu ý như sau:

1) Đập bê tông đầm lăn là gì?

Đập Sông Tranh 2 là đập bê tông đầm lăn – là đập bê tông trọng lực, được thi công bằng công nghệ đầm lăn (Roller-Compacted Concrete Dam, viết tắt là RCCD). Bê tông đầm lăn khác bê thông thường (xây nhà cao tầng, xây cầu cống, v.v.). Sự khác nhau giữa hai loại bê tông này là gì?

a) Bê tông thường có 350 kg ximăng cho 1 mét khối. Bê tông đầm lăn chỉ có từ 60 -100 kg ximăng cho 1 mét khối; để bù vào lượng xi măng thiếu hụt này người ta thường thay bằng xỉ lò cao, hoặc Puzơlan (một loại đất mịn).

b) Bê tông thường được đông cứng bằng phản ứng hóa học (phản ứng nhiệt thủy hóa giống như vôi tôi), cường độ chịu lực cao. Bê tông đầm lăn được đông cứng bằng đầm lăn (dùng đầm có bánh lăn để nén chặt). Cường độ chịu lực thấp (chỉ bằng khoản 1/3 của bê tông thường.

c) Cường độ kém tại sao người ta vẫn làm đập bê tông đầm lăn? Vì làm RCCD tiết kiệm được rất nhiều tiền. Nếu làm đập bê tông thường mất 10 triệu USD thì làm RCCD chỉ mất 6 triệu USD.

2) Trên thế giới đã có sự cố nào như đập Sông Tranh 2 chưa?

Việc xây dựng đập RCCD là một thành tựu mới về khoa học và công nghệ. Nếu đập bê tông thường đã có lịch sử từ vài trăm năm thì đập RCCD chỉ xuất hiện cách nay khoảng 30 năm (ở Mỹ, Nhật). Trung Quốc do làm hàng nhái và bắt chước giỏi nên về cái khoản đập RCCD này họ bắt chước rất nhanh. Hiện nay Trung Quốc là một trong những nước xây dựng nhiều đập RCCD. Ở Việt Nam đập RCCD được xây dựng đầu tiên vào khoảng năm 1999 (là một đập ngăn sông cao khoảng 15 m thuộc công trình Thủy lợi Lòng Sông). Trong những năm gần đây EVN đã xây dựng khá nhiều đập RCCD có chiều cao trên dưới 100 m do tính ưu việt của nó về kinh tế và thời gian thi công nhanh (như thủy điện A Vương, Đồng Nai 3, 4, thủy điện Sơn La, v.v.). Việc tính toán thiết kế đập RCCD không có gì khó khăn, nhưng việc thi công là khá phức tạp. Khi xây dựng một số đập RCCD của ta có sự tham gia của các chuyên gia Trung Quốc.

Nếu sự số ở đập Sông Tranh 2 “bị nứt là do có lỗi từ khâu thiết kế, thi công, giám sát cho đến khâu khai thác vận hành” như tuyên bố của TS Bùi Trung Dung, Phó Cục trưởng Cục Kiểm định nhà nước, thì có thể nói trên thế giới chưa có sự cố nào như Sông Tranh 2 (thiết kế quên bố trí các ống thoát nước ngang).

3. Về biện pháp xử lý đập Sông Tranh 2

Chúng ta phải nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng: Sự cố ở đập Sông Tranh 2 là nghiêm trọng. Để xử lý rò rỉ ở đập Sông Tranh 2 có thể có hai biện pháp như GS TS Phạm Hồng Giang (Chủ tịch Hội Đập lớn Việt Nam) đã trả lời trên VEF và VNN. Đó là:

a) Hạ thấp mực nước thượng lưu, sẽ ảnh hưởng đến sản lượng điện (tạm gọi là biện pháp “khô”) sau đó khoan phụt xử lý rò rỉ.

b) Không hạ mực nước thượng lưu, dùng thợ lặn “dán” màng chống thấm lên toàn bộ bề mặt thượng lưu đập, sau đó xử lý khoan phụt. GS TS Phạm Hồng Giang kiến nghị phương án này.

Nếu xử lý theo biện pháp như kiến nghị của GS TS Phạm Hồng Giang là không khả thi. Biện pháp “dán” màng chống thấm thích hợp cho các đập chỉ đơn thuần có các vết nứt. Đập Sông Tranh 2 ngoài các vết nứt còn có hiện tượng nước rò rỉ từ hai bờ, từ dưới nền ngược lên, vậy màng chống thấm làm sao ngăn được các hướng này, thưa GS TS Phạm Hồng Giang?

Lù tôi tán thành với ý kiến của TS Tô Văn Trường là có khả năng do nước rò rỉ làm mở rộng các khe nứt, làm giảm cường độ của bê tông đầm lăn. Và nếu điều này xảy ra thì quả là rất nghiêm trọng vì nó làm giảm khả năng chịu lực của đập.

Biện pháp như Ban Quản lý thủy điện Sông Tranh 2 đang làm chỉ có tính chất trấn an dư luận. Để xử lý triệt để cần phải phải qua 4 bước (bắt chước mấy anh ở Trung Nam Hải, có thể gọi là quan hệ 4 tốt cũng được):

i) Nhanh chóng hạ thấp mực nước thượng lưu đập Sông Tranh 2 (ông Nguyễn Đức Hải, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, cũng có ý kiến này, hoan hô đồng chí Bí thư).

ii) Chọn nhà tư vấn có năng lực. Tiến hành khảo sát hiện trạng vết nứt và cường độ của bê tông (dùng máy siêu âm tin cậy để thăm dò vết nứt nếu có, khoan lấy mẫu để xác định lại cường độ của bê tông đầm lăn…) trước khi thiết kế xử lý sự cố một cách bài bản.

iii) Đề án thiết kế xử lý phải được thẩm định nghiêm túc.

vi) Sau khi có cấp thẩm quyên phê duyệt, bắt đầu thi công sửa chữa.

Bạn sẽ hỏi: Người ta đang lo thiếu điện, lo vỡ đập sao chú mày bày ra lắm bước rắc rối thế?

Lù tôi xin thưa rằng: Một khi đã hạ mực nước hồ thì không còn lo vỡ đập nữa. Vì đối tượng gây ra rò rỉ đã bị triệt tiêu. Còn thiếu điện? “Thằng” nhà thầu nào làm sai thằng đó phải đền chứ (tuy nhiên trên thực tế không đơn giản như vậy vì các “thằng” ấy đều là anh em hoặc con cái trong nhà cả – công ty mẹ và công ty con).

Cần phải nhấn mạnh rằng giải pháp 4 tốt nêu trên không có gì là cao kiến và mới mẻ cả, nhiều người biết, hoàn toàn nằm trong tầm tay và kinh nghiệm của của EVN. Và đây là gỉải pháp cơ bản nhất, đảm bảo an toàn tuyệt đối và lâu dài cho công trình. Như lời đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam: “Nếu cần, có thể hạ bớt mực nước hồ chứa thủy điện Sông Tranh 2 để xử lý căn cơ vết nứt, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người dân vùng hạ du”.

Lù tôi trộm nghĩ làm theo 4 tốt trên chính là “ý Đảng và lòng dân" đấy ạ!

N. V. L.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.