24/11/2019

Nhạc vàng kho tàng âm nhạc Việt Nam

Nguyễn Quang Duy

Miền Nam trước đây gọi nhạc vàng là tân nhạc để phân biệt với cổ nhạc. Sau chiến tranh, bên thắng cuộc mở “mặt trận” tấn công vào nền văn hóa miền Nam, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc đều bị nghiêm cấm và bị hủy diệt.

Tân nhạc bị gán ghép là nhạc tâm lý chiến, nhạc phản động, nhạc xuyên tạc đường lối chống phá cách mạng, hay bị xem là thứ nhạc sến, nhạc đồi trụy, nhạc ru ngủ, nhạc lãng mạn bi quan, nhạc vàng vọt.

Từ ngữ nhạc vàng xuất phát từ miền Bắc đã nhanh chóng được người miền Nam chấp nhận để phân biệt với nhạc đỏ là loại nhạc cộng sản.

Trong tâm tư người miền Nam màu vàng là màu da, màu dân tộc, màu mai vàng phương Nam, màu tươi trẻ, màu của kim loại quý hiếm vào bậc nhất.

Bởi thế cờ vàng và nhạc vàng nhanh chóng được xem là báu vật của Việt Nam Cộng hòa.

Vì yêu nhạc vàng…

Khi đất nước chia đôi cách mạng văn hóa được phát động tại miền Bắc nhạc vàng bị nghiêm ngặt cấm đoán. Nhạc đỏ với âm điệu Trung Hoa nhanh chóng thống trị nền âm nhạc miền Bắc, nhưng vẫn còn nhiều người yêu nhạc thường lén lúp thưởng thức nhạc vàng.

Một vụ án văn nghệ liên quan đến ban nhạc 3 người bị tố cáo hát xen kẽ nhạc vàng trong những đám cưới và những cuộc liên hoan, được xử công khai tại Hà Nội vào tháng 1/1971.

Ông Phan Thắng Toán tự Toán Xồm bị kết án 15 năm tù giam và tước quyền công dân 5 năm. Ông Nguyễn Văn Đắc 12 năm tù và tước quyền công dân 5 năm. Ông Nguyễn Văn Lộc tự Lộc Vàng 10 năm tù và tước quyền công dân 4 năm.

Thập niên 1980 khi họ ra tù nhạc vàng đã khá phổ biến nhưng cả ba vẫn bị quản chế và gặp phải muôn vàn khó khăn.

Ông Toán Xồm không nhà sống lang thang đã qua đời trên hè phố Hà Nội vào đúng đêm 30/4/1994, tưởng niệm 19 năm miền Nam lọt vào tay cộng sản.

Ông Đắc mất năm 2005 trong nghèo khổ.

Ông Lộc Vàng sống bôn ba mãi đến gần đây mới mở một quán cà phê nhỏ ở Hà Nội lấy tên Lộc Vàng.

Văn nghệ tự do

Chủ trương của Việt Nam Cộng hòa được ghi rõ trong cả 2 Hiến pháp 1956 và 1967 là xây dựng một xã hội dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.

Văn nghệ được tự do hoạt động nên chỉ trong vòng 20 năm đã có hàng chục ngàn bản tân nhạc đủ thể loại chính thức phát hành, trong số có hàng trăm tác phẩm đã trở thành bất hủ.

Đa số nhạc miền Nam đều chan chứa tình người, tình yêu quê hương, yêu đất nước, nỗi mong muốn thanh bình trở lại.

Tân nhạc được chia thành dòng nhạc tiền chiến, nhạc đại chúng, nhạc trẻ, nhạc du ca và nhạc phản chiến.

Còn được phân loại thành nhạc lính, nhạc tình, nhạc kích động, nhạc khiêu vũ, nhạc dân ca, nhạc sắc tộc, nhạc ngoại quốc lời Việt, nhạc chiêu hồi, nhạc chính huấn, nhạc đạo, nhạc thiếu nhi, nhạc hướng đạo, nhạc sinh hoạt…

Người miền Nam trân quý tác giả nên trân trọng đặt tên cho dòng nhạc Lam Phương, nhạc Phạm Duy, nhạc Trần Thiện Thanh, nhạc Hoàng Thi Thơ, nhạc Anh Bằng…

Trước khi hát một bản nhạc người điều khiển chương trình hay ca sỹ thường giới thiệu tên tác giả và hoàn cảnh tác phẩm được sáng tác.

Việc giới thiệu tác giả và tác phẩm đã trở thành một phần của nền văn hóa Việt Nam Cộng hòa.

Mỗi tác giả mỗi khác, mỗi bài nhạc mỗi khác, mỗi ca sỹ trình diễn mỗi khác, biểu hiện sự phong phú và đa dạng của âm nhạc miền Nam.

Ở miền Nam nhà nào cũng có radio, nhiều nhà có tivi, có dĩa hát, có máy thu thanh cassette… không có thì nghe ké nhà hàng xóm.

Nhiều ca sỹ, nhiều ban nhạc, nhiều hãng băng dĩa cassette cạnh tranh phục vụ đại chúng.

Từ tờ mờ sáng nhạc vang vọng khắp nơi, đến tối mịt mù, đôi khi vẫn nghe tiếng nhạc dập dình.

Những bản nhạc bolero, rumba, chachacha, tango dễ nhớ, dễ hát và dễ đi vào lòng người.

Người miền Nam hát bất cứ lúc nào có thể hát được. Đám cưới, đám hỏi hát hò, đến cả ngày giỗ đám ma cũng tụm năm tụm bẩy hát cho nhau nghe.

Họ hát từ tiền đồn heo hút, hát trong nhà thờ, trong chùa ra đến góc đường, góc chợ, quán ăn, hát cho nhau nghe và cho chính mình nghe.

Họ quan niệm hát hay không bằng hay hát, họ đồng cảm và đồng sáng tác bằng cách chế lời đổi nhịp điệu bài hát.

Máu văn nghệ chìm đắm trong tim óc người miền Nam, trở thành nếp sống, nếp văn hóa Việt Nam Cộng hòa.

Trong tù “cải tạo” nhạc miền Nam bị cấm, ai hát bị biệt giam đến chết, các tù nhân vẫn hát, hát cho nhau nghe, hát để gìn giữ báu vật Việt Nam Cộng hòa.

Nhạc vàng Bắc Tiến

Những ngày đầu 30/4/1975, không ít người miền Nam ngạc nhiên khi nghe bộ đội Bắc Việt hát những bài viết về người lính miền Nam như Rừng Lá Thấp của Trần Thiện Thanh hay Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân.

Khác chiến tuyến nhưng họ hát với tấm lòng của người lính xa nhà mong muốn chiến tranh chấm dứt để về lại quê hương.

Về miền Bắc trong ba lô người bộ đội chiếc cassette nhỏ và chục băng nhạc làm quà. Làng trên xóm dưới bắt đầu biết đến nhạc miền Nam.

Còn ở miền Nam, các đội cờ đỏ truy lùng nhạc chế độ cũ. Người yêu nhạc bị mang ra khu phố đấu tố, nhiều thanh niên bị cưỡng bức đi thanh niên xung phong, có người còn bị bắt đi cải tạo chỉ vì lén lúp chơi nhạc vàng.

Đầu năm 1979, chiến lợi phẩm của bộ đội miền Bắc là những kho cassette và băng nhạc trên đất Campuchia, nhạc vàng lại một lần nữa tràn ngập miền Bắc.

Rồi những radio cassette, những cuộn băng nhạc hải ngoại được chuyển ra miền Bắc, tiếp tục sự nghiệp Bắc tiến của nhạc vàng.

Khi ấy Hà Nội đã chuyển hầu hết công an và cán bộ tuyên giáo vào Nam nên nhạc vàng công khai cạnh tranh với loa phường và các đài chính thống.

Nhạc vàng trở thành món ăn tinh thần cho người dân miền Bắc, nhất là những người sống ở thành thị.

Nhạc vàng theo chân người Việt “xuất khẩu lao động” sang tận Liên Xô và Đông Âu. Ở đâu có người Việt ở đó có nhạc Việt Nam Cộng hòa.

Ở miền Nam sau những cuộc truy quét, nhạc vàng bắt đầu sống dậy. Nhiều ca sỹ lén lút thu thanh, nhiều quán cà phê hát nhạc vàng, nhiều đoàn hát “chui” về tận miền quê trình diễn.

Ngược lại số người nghe nhạc đỏ giảm sút rất nhiều, nhất là với những người trẻ muốn quên đi chiến tranh và cách mạng.

Đến năm 1986, Hà Nội chính thức phải công nhận nhạc vàng, một danh mục gồm 36 tác phẩm âm nhạc của miền Nam được công khai trình diễn. Nhiều chương trình văn nghệ nhạc vàng được công khai tổ chức.

Ở hải ngoại các nhạc sỹ tiếp tục sáng tác tạo ra dòng nhạc vàng hải ngoại. Đến thập niên 1990, băng video Paris By Night, ASIA, Vân Sơn,… từ hải ngoại gởi về được bà con trong nước nhiệt tình ủng hộ.

Nghị quyết 36 ra đời Hà Nội chính thức chỉ đạo phục vụ văn nghệ “đồng bào” hải ngoại. Nhạc vàng được Hà Nội chính thức nuôi dưỡng. Nhiều ca sỹ nhạc vàng được Hà Nội cung cấp tiền và phương tiện ra hải ngoại trình diễn. Hà Nội còn chấp nhận một số ca sỹ hải ngoại về nước hát.

Các nhạc sỹ đỏ bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nhạc đỏ bị bỏ xó không ai màng tới, đến đài phát thanh, đài truyền hình Hà Nội cũng phát nhạc vàng.

Nhạc Việt Nam Cộng hòa sống dậy

Bước sang thời đại Youtube và Facebook, chỉ cần chiếc máy tính, chiếc điện thoại cầm tay mọi người có thể dễ dàng thưởng thức kho tàng âm nhạc Việt Nam Cộng hòa.

Nhiều bạn trẻ mặc đồ lính Việt Nam Cộng hòa hát nhạc vàng thu hút hằng triệu người xem.

Nhạc vàng không chỉ giúp giới trẻ tìm hiểu lịch sử Việt Nam Cộng hòa, một số bạn trẻ dùng lời ca tiếng hát làm phương tiện đấu tranh với mong ước phục hồi thể chế tự do.

Nhạc vàng còn được sử dụng để phản kháng làn sóng nhạc Hàn, nhạc Mỹ, nhạc Trung… giữ gìn tình tự dân tộc và văn hóa Việt Nam.

Nhạc vàng được hát khắp nơi từ miền núi xa xăm phương Bắc xuống Cà Mau tận cuối miền Nam và mọi nơi trên thế giới.

Nhạc vàng đã bị “chôn” nhưng vẫn sống, ngày càng sống mạnh. 44 năm qua, nhiều thế hệ tiếp nối vẫn yêu quý nhạc miền Nam, tìm ra sự thật lịch sử và hướng về một ngày đất nước có tự do.

Trong vòng 20 năm Việt Nam Cộng hòa xây dựng thành công một kho tàng văn hóa dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.

Kho tàng này không chỉ thuộc thể chế Việt Nam Cộng hòa mà đã trở thành một kho tàng văn hóa Việt Nam.

N.Q.D. Tác giả gửi BVN

Để góp thêm một tiếng nói về nhạc vàng, dòng nhạc đã phát sinh ở Việt Nam từ khoảng mươi năm trước 1945 mà về sau quen gọi là Tân Nhạc, Bauxite Việt Nam xin đăng lại một bài viết của GS Nguyễn Huệ Chi đã từng đăng trên BVN cách đây 9 năm: ngày 15-8-2010, nhằm giúp bạn đọc xa gần từ một góc độ khác - góc độ trải nghiệm nhạc vàng bằng chính cuộc đời tác giả - soi chiếu thêm cho chủ đề này.

Ám ảnh nhạc vàng trong đời tôi

Nguyễn Huệ Chi

Bài viết của Nguyễn Tuấn Ngọc “Yêu nhạc vàng: Máu và nước mắt” tình cờ đến với tôi gần đây làm cho tôi rất đỗi bàng hoàng. Bởi tôi là một kẻ yêu nhạc vàng từ bé. Các chị Táo Hương, Cần Hương con người bác ruột từ Trường Đồng Khánh Huế tản cư về Chi Gia trang năm 1946 đã đem về cho anh em chúng tôi cả một trời mơ mộng qua rất nhiều bản nhạc mà các chị hát: Thiên Thai, Giọt mưa thu, Chùa Hương, Cô láng giềng, Biệt ly, Đàn chim Việt… và cả những bài hát Hội Hướng đạo mà các chị có tham gia, trong khi trong tôi thuở đó cũng đã đầy ắp âm hưởng thơ mới của Xuân Diệu, Huy Cận, Thái Can, Nguyễn Bính… mà tôi nhập tâm trên giá sách Mộng Thương thư trai từ lúc mới lớn lên. Suốt trong kháng chiến chống Pháp chúng tôi vẫn hát nhạc vàng trên đường tản cư cùng bố tôi khắp những nơi cơ quan ông đóng. Tôi không thể quên một buổi chiều mùa thu năm 1949, ba bố con đi chơi thị trấn Nam Đàn trở về ngôi nhà mình ở nhờ tại làng Vân Diên, khi qua cái barrage trên con sông đào trong vắt nhìn thấy lướt qua mặt mình là một người trai trẻ có hai công an đi kèm. Tôi còn nhớ như in dáng anh ta mảnh khảnh thư sinh, mặc bộ quần áo tây màu tím gụ, mặt trắng, đôi mắt sáng nhưng buồn rười rượi. Bỗng nhiên khi đi sát thành barrage anh ta vụt chồm người lên nhảy một cái. Và chúng tôi nghe dưới sông một tiếng khô khốc dội lên không phải là tiếng ùm của nước. Ba bố con cùng chạy tới nhìn xuống, kinh hãi thấy dưới sâu kia anh ta nằm duỗi thẳng trên tấm bê tông đúc dài theo mặt nước nối với hai bờ sông đào mà hàng ngày người dân vẫn xuống đấy ngồi giặt giũ quần áo, đầu ràn rụa những máu, chân đang giãy những cái cuối cùng. Một cái gì đắng ngắt ứ lên trong cổ, ba bố con lầm lũi đi về không ai nói với ai một lời. Tối hôm ấy không người nào ngủ được, cái chết như một cái gì bí hiểm lần đầu tiên ám ảnh tôi ghê gớm, và những số phận oan khuất như anh Tịnh ở cơ quan bố tôi, cả nhà bị chết khó hiểu ngay từ đầu cuộc cách mạng tháng Tám mà tôi nghe bố tôi và các chú trong cơ quan thầm thì kể chuyện, lần lượt diễn ra trong óc. Bỗng bố tôi cất tiếng hát, hát đi hát lại chỉ một đoạn:

Qua lá cành

Ánh trăng lan dịu dàng

Ru hồn bao nhớ nhung

Đêm lắng buồn

Tiếng thu như thì thầm

Trong hàng cây trầm mơ

Làn gió lướt tới cuốn đưa hồn ta phiêu diêu theo mây trắng trôi lơ lửng

Ngàn muôn tiếng réo rắt côn trùng như than như van mơ hồ theo gió lan.

Trăng xuống dần

Cỏ cây thêm âm thầm

Đông buồn trong ánh sao

Như chiếu nhìn mắt ta bao lạnh lùng

Lay hồn ta rồi tan…

Tôi và em tôi nằm im thin thít, cảm được trong tiếng hát của bố có tiếng lòng của chính bố mình tuy không hiểu ông đang nghĩ gì.

Sang năm 1950, một trận bom do Pháp oanh kích Nam Đàn thảm khốc đúng lúc chớm vào hè, địa điểm trường tôi là nơi tuyển lục quân nên cũng là mục tiêu của máy bay Pháp. May chúng tôi đều đã học xong vừa về đến nhà nên cả mấy anh em đều thoát chết trong gang tấc, chỉ phải một ngày nằm bẹp dưới hào giao thông và nhịn đói lép ruột. Bố tôi thì thay mặt cơ quan đi dự một phiên tòa cách Nam Đàn 12 cây số từ sớm. Khi nghe tiếng máy bay rồi tiếng bom ông biết Nam Đàn đã bị oanh tạc liền cấp tốc đạp xe về. Ông vượt qua giữa biển lửa, nấp tránh nhiều đợt bom và đạn dum-dum của máy bay làm tung quán xá, nhìn thấy những xác người cháy, những thây người bị hất lên không, cuối cùng về đến nơi chúng tôi ở an toàn làm mấy mẹ con đang khiếp hãi bỗng mừng rỡ như có cứu tinh. Nhưng sau 8 đợt quần thảo, máy bay ngừng, ai nấy trở lên nhà lấm láp phờ phạc, không còn buồn ăn uống. Tối đó sau khi ổn định xong nhân số, gói buộc hết đồ đạc tài liệu, cả cơ quan lại phải thuê đò di chuyển suốt đêm xuống xã Hùng Tiến dưới Rú Ghềnh. Chúng tôi đều mệt rã rời. Vậy mà giữa mặt sông Lam mênh mông, trong màn sương rất dày, ánh trăng vẫn hiện lên chiếu xuống nước thành những vệt lấp lóa. Bố tôi và các chú trong cơ quan ngồi trên mui mấy con thuyền đi sát nhau thốt nhiên cùng cất lên tiếng hát, hát bất kỳ bài nào, toàn là nhạc vàng quen thuộc: “Đêm nay thu sang cùng heo may/ Đêm nay sương lam mờ chân mây/Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng…”; “Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh/Dưới trăng giữa mùa thanh bình… /Đưa chân dồn bước bên cầu… giã từ mấy câu…”; “Ai về thành đô tôi gửi vài lời/Tây hồ mờ xa là nhà tôi đó/Đây chợ Đồng Xuân bên dòng Nhị Hà/Đi học về qua luôn hát vui ca…”; “Giơ tay cương quyết ta ôn lời thề ước/Hy sinh ta quyết mong báo đền ơn nước/Dù thân này tan tành giữa sa trường cũng cam/Nguyện trung thành với sơn hà nước Nam”… Tiếng hát rạo rực như muốn giãi bày những cảm xúc buồn vui xen lẫn đang trào dâng của hơn chục con người hòa vào nhau, âm vang cả mặt sông khiến cho ấn tượng về một cuộc ra đi sau một ngày bom đạn chết chóc găm chặt vào tâm hồn tuổi trẻ mấy anh em tôi không thể nào quên.

Năm 1951 tôi ở trọ tại xã Hùng Tiến để học trung học ở Trường Tân Dân Nam Đàn. Là một học sinh giỏi, quanh tôi có rất nhiều bạn, nhiều nhất là các bạn nữ đồng tuổi mà tôi chỉ gọi tên hoặc hơn tuổi thì gọi bằng chị. Các bạn và các chị thường đến dạy cho tôi hát, tôi nhớ nhất là chị Diệu Khanh có giọng hát rất hay. Khi lớp học kết thúc, nhà trường cho đốt lửa trại suốt đêm. Rồi gần sáng chúng tôi bịn rịn chia tay. Trước lúc tôi quay về Hà Tĩnh không bao giờ trở lại, nhóm bạn nữ tập hợp nơi tôi trọ, tôi và Diệu Khanh cùng hát với nhau bài Nụ cười sơn cước, nước mắt thầm chảy trong lòng: “Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi mây mờ buông xuống núi đồi và trong lòng mưa hơn ở ngoài trời…”.

Đến khi ra Hà Nội học Trường đại học Tổng hợp (1956), ở trọ tại xóm Thanh Nhàn Ô Đống Mác, bắt đầu biết yêu, tôi vẫn thường được nghe qua hàng rào dâm bụt giọng ngân rất vang của cô bạn hàng xóm mà mình thầm nhớ và hình như cũng nhớ trộm mình nhưng không ai chịu thổ lộ, hát bài Ngậm ngùi do Phạm Duy phổ nhạc thơ Huy Cận.

Rồi về Viện Văn học tôi lại vẫn hát nhạc vàng trong khi bạn bè tôi ở Viện hát các bài hát Nga du dương và tất nhiên tôi cũng rất thích các bài đó, nhất là trong tốp hát có người yêu của tôi.

Cuối năm 1968 trong đêm bế mạc Lớp đại học Hán học tại nơi sơ tán, tốp ca của chúng tôi lên trình diễn bài “Chỉ còn đêm nay đôi ta sẽ chia tay/Đường ven lối vắng sánh bước tay cầm tay…”. Trong tốp ca này có tôi cùng với người tôi yêu – một tình yêu câm lặng tuy cả hai đều biết rõ những gì không nói thành lời.

Cuối những năm 70 lại một tình yêu sét đánh mà tôi không cưỡng được, một tình yêu đã để lại một món nợ lớn trong đời khiến tôi không bao giờ trả hết. Chúng tôi, mấy anh chị em trong Ban văn học Cổ cận thường mở những băng nhạc vàng để nghe chất giọng trầm ấm của Sĩ Phú: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám, khi vừa biết yêu…”; hay tiếng hát lanh lảnh quyến rũ nhưng hơi sến của Giao Linh: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? /Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu/Kìa rừng chiều âm u rét mướt/Chờ người về vui trong giá buốt người về bơ vơ…”. Nhưng tôi có một bài hát riêng không băng nhạc nào có mà nàng lại rất thích vì mấy chị em trong nhà nàng từng hát từ nhỏ, còn tôi thì nhập tâm ngay từ trước 1945: “Bao tháng ngày xa vắng trôi còn đây nếp trường xưa/Xa vắng càng thiết tha mong bên mấy khung song thưa/Say ngắm từng gian lớp xinh lòng xao xuyến tình thơ/Bao tình thơ ngây những lúc vui chơi cùng ngồi quanh bóng mát cùng reo cười/Cây bàng xưa đây lá tốt xanh tươi/Trạnh lòng ai nhớ tiếc khôn nguôi/ Trông khắp trường thấy khác xưa từ hiên trước tường sau/Nay biết tìm bóng ai kia trong trí tôi in sâu/Ngao ngán thời gian khác xưa ngày nay biết tìm đâu…”.

Vậy là trên cả chặng đường dài của cuộc đời tôi, dù sống giữa miền Bắc cách mạng, mọi tình cảm lãng mạn bị triệt tiêu tận gốc, không hiểu sao nhạc vàng vẫn tự do theo tôi trên suốt mọi hành trình. Không chỉ có tôi mà anh tôi, Từ Chi, cũng vậy. Hồi trẻ anh ấy hát rất hay, đã từng dạy lũ trẻ chúng tôi ở Mộng Thương thư trai vào khoảng năm 1952 nhiều bài hát vàng anh đem từ mặt trận về khiến chúng tôi mê đắm. Đến năm 1977, lúc đó nhạc vàng vẫn bị cấm rất ngặt, một hôm anh đến nhà tôi, lôi từ trong túi ra một băng cassette bảo tôi mở cho anh nghe. Thì ra một băng nhạc tiền chiến của miền Nam, nghe đi nghe lại có đến hàng trăm lần nên âm thanh đã rão hết. Nhưng tôn trọng anh tôi vẫn ngồi cùng anh để anh say sưa đắm chìm vào mộng tưởng, trong khi tôi có hai băng Sơn ca giọng hát Khánh Ly và Lệ Thu trong vắt, đêm đêm vẫn cùng vài bạn ở Viện như Phúc, Huấn cùng mở ra nghe mê mệt, vậy mà không dám đem ra trình anh, sợ anh cụt hứng với băng nhạc cũ kỹ của mình. Anh nói với tôi: “Nhạc vàng là musique d’Or, không phải musique jaune như bọn Maoiste nói bậy. Chính bọn ấy truyền tư tưởng này sang ta khoảng năm 1953 làm cho ông Lành lên án nhạc vàng và từ đấy không ai dám hát nữa” (một người anh vợ của tôi gần đây cũng nói với tôi những điều hệt như vậy).

Cùng một thời gian tôi đang hồn nhiên hát hoặc nghe hát nhạc vàng ở Viện thì các anh Nguyễn Thắng Toán, Nguyễn Văn Đắc và Nguyễn Văn Lộc cũng hát và đã phải hứng chịu những đòn trừng phạt cay đắng? Ví thử chỉ một tình cờ nào đó thôi khiến tôi rơi vào cảnh ngộ các anh thi biết đâu sau mấy năm đi tù tôi cũng đã bỏ thân bên vệ đường không khác gì anh Toán – một cái chết tức tưởi chỉ vì một niềm đam mê không cưỡng được nó là cái quyền được bộc lộ thế giới sâu kín bên trong, một thứ đam mê không hạ thấp con người xuống mà nâng tâm hồn con người lên, có sức thanh lọc cho người ta trong trẻo hơn, giàu có hơn. Mà đam mê là một cái gì gắn với tạng mỗi người, cũng do từ truyền thống gia đình để lại, tù đày làm sao thay đổi được thứ thiên tính ấy? Cứ nghĩ thế lại thấy số phận mình còn may mắn và trên đời này, giữa cái xã hội đầy đủ nhân quyền như ông Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng nói, thì ra vẫn có nhiều oan trái đến lạ lùng.

Nhưng suy xét cho hết lẽ, tôi càng thấy biết ơn một môi trường như Viện Văn học mà tôi được sống ngày ấy (những năm 60-80 thế kỷ trước), một môi trường thật hiếm có, không hề xét nét khắt khe quyền tự do cá nhân của mỗi con người, miễn anh là người làm việc chuyên môn hết mình. Chúng tôi được quyền đọc và tự do trao đổi về các tác giả và tác phẩm bị Ban Tuyên giáo cấm lúc bấy giờ, chẳng hạn như Aimatov là một một nhà văn Kyrgyzstan rất hấp dẫn với tuổi trẻ nhưng báo chí được lệnh lên tiếng phê phán nặng nề và cấm đọc. Chúng tôi thảo luận Aimatov đến mấy ngày, tranh luận cả với vị Chi ủy viên là ông Hoàng Phê được cử đến tham dự và ông cũng chỉ đưa ra một vài gợi ý chứ không hề ép chúng tôi phải nghe theo luận điểm của ông. Có lẽ dưới con mắt trải đời và giàu lòng nhân ái của các vị lãnh đạo Viện có tri thức rất uyên bác thuở đó là Đặng Thai Mai và Hoài Thanh, những người đầy kinh nghiệm trong việc xây dựng nhân cách lớp trẻ để họ trở thành những người có bản lĩnh học vấn và tư tưởng, chúng tôi đã có được cái may mắn không phải làm một loại “cây thế” giam chân trong chậu cảnh và chịu uốn tỉa rất nghiêm khắc, trái lại ngay từ đầu đã được dạn dày sương gió, được dành một mép lề phóng khoáng cho khoảng trời của những buồn vui, đau khổ riêng mình, và cho cá tính của mình dễ dàng trỗi dậy. Cũng vì thế, thế hệ chúng tôi không những được các vị chọn thầy chọn thợ đào tạo đến nơi đến chốn (nào Pháp ngữ, nào Hán học, nào lý thuyết và phương pháp văn học Tây Âu… ai học không nên thì người ấy chịu) mà nhờ được bảo lưu thiên tính, trong các biến động xã hội về sau, trừ một đôi trường hợp cá biệt, không thấy ai chịu “đánh mất mình”.

Tiếc thay, trong cơn đại hồng thủy của những “thoái trào” không thể cưỡng từ vài thập kỷ lại nay, đời sống tinh thần của ngành khoa học xã hội nói chung cũng như học phong của một Viện Văn học nói riêng, với không khí phóng khoáng và truyền thống khoa học nghiêm cẩn thuở xưa hình như đang bị hụt hẫng. Giới hạn của tự do tư tưởng đang bị thu hẹp lại và cách nghĩ giáo điều, nói theo một kiểu, trở lại thịnh hành. Có phải tôi đã quá già nua để trở nên lẩn thẩn chăng? Có phải đến một tuổi nào đấy người ta chỉ biết quay lại đằng sau với muôn vàn mặc cảm tiếc nuối mà quên mất ánh dương vẫn bừng lên phía trước theo cái lẽ tre già thì măng mọc? Thôi thì hãy cứ coi là như vậy.

N.H.C.