Một kì thi, một bước tiến

Bùi Mạnh Hùng

Sáng ngày 11 tháng 6 năm 2026, hơn 1,22 triệu thí sinh trên cả nước thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn. Với đề thi tốt nghiệp THPT và gần 30 đề thi tuyển sinh vào lớp 10 của hầu hết tỉnh, thành trên cả nước, có thể khẳng định các đề thi đã phát đi tín hiệu tích cực về đổi mới trong đánh giá kết quả học tập của học sinh. So với năm 2025, đây là một bước tiến rất đáng ghi nhận. 

Kết quả đổi mới môn Ngữ văn có thể nhận biết một cách trực quan qua các đề kiểm tra, đề thi. Chúng ta chưa có điều kiện khảo sát đề đánh giá thường xuyên và định kì ở các nhà trường. Đây là “phần chìm của tảng băng” cần được xem xét kĩ. Cái mà tất cả chúng ta đều có thể tiếp cận được một cách dễ dàng, tạm coi là "phần nổi", đó là đề thi tuyển sinh vào lớp 10 và đề thi tốt nghiệp THPT. 

Dưới đây bài tôi trả lời phỏng vấn báo VietnamPlus của Thông tấn xã Việt Nam về đề thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Trân trọng cảm ơn Quý báo đã cho tôi cơ hội được chia sẻ với độc giả ý kiến đánh giá và góp ý của cá nhân tôi về đề thi.

Cũng như năm ngoái, nói về đề thi tốt nghiệp THPT, tôi không đặt nặng chuyện khen chê, vinh danh hay quy trách nhiệm cho ai mà chú trọng mục đích rút kinh nghiệm để đề thi ngày càng tốt hơn, đặc biệt là giúp các cán bộ quản lí giáo dục, GV Ngữ văn và HS có định hướng đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá trong những năm tới. 

Như thường lệ, bài đăng trên báo đã được rút gọn để phù hợp với quy định về dung lượng của tòa soạn. Vì vậy, tôi đăng kèm theo dưới đây toàn văn bản gốc. Với văn bản đầy đủ, quý đồng nghiệp có thể nắm được tường tận hơn ý kiến đánh giá, góp ý của tôi.

Câu hỏi phỏng vấn Phó giáo sư, Tiến sỹ Bùi Mạnh Hùng, Tổng chủ biên SGK môn Ngữ văn, bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống":

Câu 1: Thưa Phó giáo sư, hơn 1,2 triệu thí sinh cả nước vừa kết thúc Kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026. Một trong những điểm được dư luận đặc biệt quan tâm là đề thi môn Ngữ văn. Ông có nhận xét, đánh giá thế nào về đề thi môn Ngữ văn năm nay?

1. Đánh giá chung, so với đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025, đề thi năm nay bám sát hơn chương trình GDPT 2018, thể hiện rõ nét hơn định hướng đổi mới trong đánh giá kết quả học tập của HS. Độ khó cũng được nâng lên, giúp bảo đảm tốt hơn yêu cầu phân hóa. Nhờ đó, kết quả thi tốt nghiệp có thể làm cơ sở đáng tin cậy cho các trường đại học tuyển sinh, dĩ nhiên là nếu công tác chấm thi được thực hiện nghiêm ngặt. 

Đề thi năm nay cũng bảo đảm đúng cấu trúc được thể hiện qua đề thi minh họa mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố và cũng tương tự cấu trúc đề thi năm 2025, nên không gây bất ngờ hay khó khăn gì đối với thí sinh. So với đề năm ngoái, chỉ có sự thay đổi về loại văn bản của ngữ liệu ở phần Đọc hiểu và phần Viết, năm ngoái đọc hiểu văn bản văn học, viết bài văn nghị luận xã hội; năm nay đọc hiểu văn bản nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học. Nhưng việc đảo vị trí hai loại văn bản như vậy cũng không ngoài dự tính của GV và HS. 

Đề thi tốt nghiệp THPT năm nay tiếp tục thể hiện nỗ lực của ngành giáo dục trong việc khắc phục tình trạng dạy học theo “văn mẫu”. Phần Đọc hiểu và phần Viết đều đòi hỏi HS không chỉ có năng lực đọc, viết mà còn phải có năng lực tư duy và có hiểu biết về những vấn đề lớn của đất nước và thời đại. 

Nhóm ra đề thi đã cố gắng đưa “không khí toàn cầu hóa” vào đề thi, gây hứng thú đối với thí sinh, góp phần thay đổi nhận thức, khơi gợi khát vọng trong mỗi công dân trẻ tuổi. Tuy lựa chọn chủ đề “hướng ngoại” có phần “thiếu an toàn”, nhưng tôi đánh giá cao sự lựa chọn của nhóm ra đề.

Có người nhận xét đề thi “thiếu chất văn”. Nếu hiểu đặc điểm và mục tiêu của môn Ngữ văn trong chương trình GDPT năm 2018 thì sẽ thấy đề thi, theo cấu trúc chung, đã bảo đảm được sự cân bằng, không xem nhẹ văn chương (có viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm thơ), nhưng không quá thiên về văn chương như trước đây (có văn bản đọc hiểu là một văn bản nghị luận). Môn Ngữ văn mới cần giúp HS đọc, viết, nói và nghe nhiều kiểu loại văn bản đa dạng để đáp ứng nhu cầu về đời sống và công việc sau khi tốt nghiệp phổ thông, chứ không phải chỉ biết đọc hiểu và viết về văn học. 

Có người đánh giá đề thi khó. Muốn nhận xét chuẩn xác về độ khó của đề thi, xin bám sát yêu cầu cần đạt của chương trình Ngữ văn mới. Chương trình và SGK Ngữ văn mới đã đặt ra yêu cần rất cao về kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. HS được thường xuyên thực hành, luyện tập những kĩ năng này. Một đề thi mà nhiều quý phụ huynh thấy khó, nhưng HS của chúng ta vẫn làm được, thậm chí có thể làm tốt; nếu sau khi chấm thi xong, phổ điểm chung trên trung bình thì đó là điều đáng mừng hơn là đáng lo. Một đề thi quốc gia cần có khả năng phân hóa năng lực của thí sinh. Vì vậy, việc một bộ phận thí sinh thấy khó là điều không có gì lạ.

2. Nội dung phần Đọc hiểu có tính thời sự cao. Việc đưa một văn bản xuất bản ngay trong năm 2026 (“Code và Cát” của Phan Tuấn) và câu hỏi về Trí tuệ nhân tạo (AI) vào phần Đọc hiểu cho thấy đề thi hướng thẳng đến những vấn đề nóng của cuộc sống hiện nay, phù hợp với bối cảnh đất nước đang triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. 

3. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu đã chạm được yêu cầu đọc hiểu một văn bản nghị luận theo quy định của chương trình. Câu 1 và câu 2 khá dễ, giúp HS yếu có được điểm, nhưng cũng hợp lí, không vô vị, vì đánh giá được kết quả đọc hiểu của HS. 

Câu hỏi 4 hỏi về cấu trúc lập luận: “Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản”. Có thể có người cho câu này khó, nhưng đối với những HS đã học qua bài về cấu trúc trong văn bản nghị luận ở lớp 11 thì nội dung câu hỏi khá quen thuộc. Nó góp phần giúp cho phần Đọc hiểu trong đề thi tốt nghiệp THPT có sự khác biệt với đề thi tuyển sinh vào lớp 10, tránh cảm giác độ khó của phần Đọc hiểu chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt giữa trình độ cuối THCS và cuối THPT.

Tôi chú ý đặc biệt đến câu hỏi về tiếng Việt. Tuy chỉ là những câu hỏi đơn giản, dễ trả lời, nhưng hữu ích. Câu hỏi này cho thấy nhóm ra đề đã có thay đổi cách tiếp cận, có thể có tiếp thu góp ý của một số nhà chuyên môn về đề thi năm ngoái. Về điểm này thì rất tiếc nhiều đề thi tuyển sinh vào lớp 10 năm nay chưa có được sự đổi mới, vẫn chủ yếu khai thác biện pháp tu từ. Thay vì hỏi về biện pháp tu từ trong một văn bản văn xuôi như năm 2025, câu 3 trong đề thi tốt nghiệp THPT năm nay hỏi về nghĩa của từ ngữ (Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ “tài sản bị giam cầm” (đoạn 2) và từ “nhiên liệu” (đoạn 5) được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?). 

Hiểu nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh là một phần của kĩ năng đọc hiểu. Cách hỏi này buộc HS phải đọc kĩ văn bản, nhất là trong quá trình dạy học, GV phải chú ý tăng cường vốn từ cho HS, tức là chạm vào đúng yêu cầu phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho người học. Thầy và trò sẽ không luyện thi theo mẫu được. Việc đưa ra hai ngữ liệu (từ, cụm từ), chứ không phải một để kiểm tra HS cũng phù hợp với câu hỏi chiếm khoảng 0,75 đến 1,0 điểm. Hi vọng, khi chất lượng dạy học được nâng cao hơn, câu hỏi về tiếng Việt sẽ đa dạng hơn (không chỉ hỏi về nghĩa của từ) và độ khó sẽ cao hơn, đáp ứng đúng yêu cầu đánh giá theo chương trình mới. Trường hợp hỏi về nghĩa của cụm từ “tài sản bị giam cầm” thì đơn giản, vì nó được giải thích qua các vế câu ngay sau đó (nằm im lìm trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài, được lưu giữ trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu…). Nhưng cũng có cái hay của nó vì giúp HS chú ý rèn luyện và phát triển kĩ năng nhận biết nghĩa của từ qua ngữ cảnh mà chương trình và SGK mới rất chú trọng.

Câu 2: Một trong những câu hỏi nhận được nhiều ý kiến của dư luận là câu số 1 của phần Viết: Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”? Nhiều ý kiến cho rằng không phải thí sinh nào cũng biết Steve Jobs là ai, những thành công và vai trò của nhân vật này, đặc biệt là các thí sinh khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa, ít điều kiện tiếp xúc công nghệ, trong khi đề không có phần chú giải. Vì vậy, các em sẽ gặp khó khăn trong làm bài, dẫn đến thiếu công bằng. Quan điểm của ông về vấn đề này? Ông có ý kiến gì thêm về câu hỏi này không?

Nội dung được nhắc đến nhiều nhất trong mấy ngày qua chính là câu 1 của phần Viết mà chị vừa đề cập. Câu hỏi này có lẽ là phần đáng rút kinh nghiệm nhất của đề thi. Thể hiện qua những điểm sau:

– Thứ nhất, như nhiều người đã góp ý, câu “Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới.” có sự mơ hồ, lẫn lộn về khái niệm “phát minh”. Không có ai trong ba người này là “nhà phát minh” (Inventor – người đầu tiên tạo ra một công nghệ, thiết bị,… mới). Họ chỉ là “nhà đổi mới sáng tạo/doanh nhân công nghệ” (Innovator/Tech entrepreneur). Nếu đề bài không khu trú đúng khía cạnh “nhà đổi mới sáng tạo/doanh nhân công nghệ” mà nhầm sang “nhà phát minh” thì học sinh có thể bàn luận theo hướng Việt Nam cần có những nhà phát minh như Steve Jobs. 

Nếu đưa đúng các cụm từ “nhà đổi mới sáng tạo”, “doanh nhân công nghệ” vào câu dẫn, đề thi sẽ tạo ra một cái “khung định hướng” tư duy cho HS. Lúc này, cụm từ “Steve Jobs Việt Nam” ở câu lệnh phía sau lập tức được diễn giải đúng: đó là đại diện cho tinh thần dấn thân, tư duy đột phá, biến công nghệ thành sản phẩm có giá trị toàn cầu. HS sẽ không còn bị lạc sang hướng nghị luận khác. 

Tuy có người biện luận rằng câu trong đề thi không nói rõ ba ông này là các nhà phát minh (đề thi chỉ viết “với những phát minh”, không nói rõ của ai). Nhưng nếu diễn giải theo cách đó thì cũng gây ra sự mơ hồ mà một đề thi không nên có. (Tôi cũng có chút thắc mắc, không biết vì sao viết là “Mĩ”, trong khi tên quốc gia này thường viết là “Mỹ”, ngay cả trong SGK mới. Đây là tên riêng, không nằm trong quy định viết i (ngắn) như đối với “kỉ niệm”, “lí lẽ”, “mĩ thuật”,….)

– Thứ hai, ở câu dẫn đưa ra tên của ba nhà sáng tạo, doanh nhân công nghệ, nhưng câu hỏi thì chỉ nêu Steve Jobs. Đây là một lỗi logic và diễn đạt, tuy nhỏ nhưng cũng đáng kể đối với một đề thi quốc gia.

– Thứ ba, nhiều người cho rằng không ít thí sinh, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, không biết Steve Jobs là ai, nên khó có thể viết được đoạn văn nghị luận tốt như các bạn biết về doanh nhân này. Băn khoăn này không phải là không có cơ sở. Tuy vậy, cần lưu ý, trước đó đã có câu dẫn: “Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới.”. HS chỉ cần căn cứ vào đó để hiểu câu hỏi ở sau. Nếu một thí sinh hoàn toàn không suy ra được từ câu dẫn rằng Steve Jobs là một nhà phát minh công nghệ (theo đúng câu dẫn trong đề thi) hoặc là một nhà đổi mới sáng tạo và doanh nhân công nghệ nổi tiếng (nếu câu dẫn trong đề thi giới thiệu đúng hơn về Steve Jobs) thì đó là biểu hiện của hạn chế trong năng lực đọc hiểu văn bản.

Lưu ý, không nên mặc định HS vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa thì không biết Steve Jobs. HS nhiều tỉnh miền núi (cũ) như Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Hòa Bình, Đắc Nông,… học theo SGK “Kết nối tri thức với cuộc sống”, ở lớp 10, các em đã được đọc một đoạn trích trong bài diễn văn của Steve Jobs trong một lễ tốt nghiệp tại Đại học Stanford (Hoa Kỳ), văn bản có nhan đề “Hãy đam mê, hãy dại khờ”, trong đó có một thông điệp quan trọng “Nếu bạn sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng của bạn, một ngày nào đó, bạn sẽ đúng”. Tuy văn bản này chỉ được dùng như bài viết tham khảo để HS viết một bài luận về bản thân (Personal essay), chứ không phải là văn bản đọc hiểu, nhưng nếu chú ý phần chú thích về tác giả thì HS cũng có thể biết đến Steve Jobs. 

Nếu biết được ngay cả HS các tỉnh miền núi nói trên, từ lớp 11 cũng đã được học đọc một văn bản viết về AI có nhan đề “Trí thông minh nhân tạo (Trích 50 ý tưởng về tương lai)” thì chắc nhiều người sẽ ngạc nhiên. Vì vậy, cần biết hiện nay HS của chúng ta đang được học những gì để đánh giá đề thi. 

Các bộ SGK khác có thể không có những bài cụ thể như vậy, nhưng loại văn bản và mức độ yêu cầu đọc hiểu các loại văn bản đều tương đương, vì đều theo quy định của chương trình. Vì vậy, cũng không thể nói HS học bộ SGK "Kết nối tri thức với cuộc sống" có ưu thế gì hơn so với HS học các bộ SGK khác.

Điều quan trọng hơn cần nhấn mạnh, các câu này chỉ yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, nên khoảng cách lợi thế giữa thí sinh biết Steve Jobs, với thí sinh không biết ông này là không đáng kể. Khi chấm đoạn văn, giám khảo chủ yếu tập trung vào khả năng triển khai ý chính, khả năng viết câu, tổ chức đoạn văn. Nếu đây là yêu cầu viết bài văn nghị luận, có hệ thống các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng phong phú, chiếm đến 4 – 5 điểm trên 10 điểm thì lại khác. Khoảng cách giữa biết và không biết về Steve Jobs có thể là vấn đề lớn.

– Thứ tư, tôi thử đóng vai của người ra đề để biện luận cho ẩn dụ “Steve Jobs Việt Nam” mà nhiều người đang chỉ trích. Ẩn dụ cũng như so sánh nói chung (ẩn dụ cũng dựa trên cơ sở so sánh) đều dựa trên sự tương đồng ở một phương diện (nổi bật) nào đó của hai đối tượng. Nếu quy gán mọi đặc tính của đối tượng so sánh cho đối tượng được so sánh thì không thể có bất kì ẩn dụ nào. 

Khi ai đó nguyền rủa người mà mình căm ghét: “Hắn là một con rắn độc” thì chỉ có ý nói đến sự độc ác, nham hiểm của người được nói đến, chứ không phải nói rằng người đó có đuôi. Khi ta nói: “Quang Hải là Messi của Việt Nam” thì ta chỉ có ý ca ngợi tài đá bóng của Quang Hải chứ không hề có ý nói rằng Quang Hải đã từng bị quy cho tội trốn thuế. Theo cách đó, câu hỏi “Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam?” cần phải được diễn giải là: “Làm thế nào để Việt Nam có được những nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Steve Jobs của Mỹ?”. 

Không nên hiểu là đề thi có định hướng Việt Nam cần phải có những doanh nhân công nghệ đúng như Steve Jobs, sao chép cả những chi tiết đời thường như mặc áo phông, quần bò,….. Chắc hẳn là người ra đề muốn dùng một ẩn dụ để tạo nên sự hấp dẫn của câu hỏi. Đó là một lí do chính đáng mà ẩn dụ vẫn thường được dùng không chỉ trong văn chương mà trong cả giao tiếp đời thường. 

Nếu hỏi tường minh như: “Làm thế nào để Việt Nam có được những nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ có tầm ảnh hưởng toàn cầu?” thì đề thi sẽ an toàn hơn, nhưng lối nói đó kém hấp dẫn hơn, thiếu đi một biểu tượng để khơi gợi khát vọng.

Tóm lại, câu 1 của phần Viết thiết kế chưa thật chuẩn, nhưng không phải là “thảm họa” như nhiều người phê phán. 

Nếu câu này viết lại như sau thì chắc là ít gây tranh cãi hơn: “Steve Jobs là một nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ nổi tiếng người Mỹ. Ông là người đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra những chiếc điện thoại Iphone được dùng phổ biến trên toàn thế giới. Với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam"?”. (Lưu ý, cung cấp thông tin cụ thể hơn về Steve Jobs thì có khi lại mắc phải lỗi vô tình quảng cáo cho một thương hiệu, sản phẩm thương mại – điều cần phải tránh trong giáo dục). 

Nếu muốn an toàn hơn và kết nối tốt hơn với phần Đọc thì có thể yêu cầu: “Từ văn bản đọc hiểu, có thể thấy khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong lịch sử phát triển của nhân loại và của mỗi quốc gia. Với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để đất nước có được những nhà khoa học, nhà công nghệ góp phần thay đổi thế giới?”.

Hoặc thu hẹp góc nhìn vào trách nhiệm hoặc hành động cụ thể của cá nhân người trẻ: “Từ văn bản đọc hiểu, có thể thấy khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong lịch sử phát triển của nhân loại và của mỗi quốc gia. Với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về tinh thần dấn thân và sáng tạo công nghệ của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.”.

Nếu không thu hẹp góc nhìn, một câu hỏi như đề thi nêu ra có vẻ vượt quá giới hạn phạm vi bàn luận của một đoạn văn và trong khả năng của HS. Nhưng chúng ta không nên đặt ra nhiệm vụ quá lớn cho đề thi và cho thí sinh. Yêu cầu viết một đoạn văn ngắn chủ yếu nhằm kiểm tra khả năng lập luận và diễn đạt của thí sinh, thông qua đó còn góp phần làm thay đổi nhận thức, nuôi dưỡng khát vọng của thế hệ trẻ. Còn câu trả lời thực sự cho câu hỏi này nằm ở tầm quốc gia và nhân loại. Vấn đề là đáp án thế nào. Chỉ có đáp án thực sự mở thì mới đánh giá đúng đoạn văn viết của HS. 

Câu 3: Ở phần Viết, cả câu hỏi số 1 và số 2 (viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của tác giả Nguyễn Đình Thi), thí sinh sẽ có thể có rất nhiều câu trả lời với nhiều hướng khác nhau tuỳ vào cách hiểu, cách và mức độ cảm nhận. Với một đề thi mở, theo ông, làm thế nào để việc chấm thi đảm bảo công bằng, tránh cảm tính? Trong đánh giá, làm sao phân định được ranh giới giữa một bên là năng lực nghị luận cơ bản của HS THPT (theo chương trình môn Ngữ văn) và một bên là các năng lực sáng tạo, vượt trội?

Trước hết tôi muốn nói qua một chút về yêu cầu viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của tác giả Nguyễn Đình Thi. Yêu cầu này giúp cho đề thi có sự cân bằng. Có thể coi bài thơ “Những chiếc lá” như là cách nhìn cuộc sống từ một góc nhìn khác, bổ sung cho nội dung của phần Đọc hiểu. Ngữ liệu cho phần viết bài văn nghị luận văn học không chỉ là ngoài SGK (đương nhiên) mà còn khá bất ngờ, hạn chế được khả năng trùng lặp với những ngữ liệu mà HS đã luyện tập, đáp ứng đúng yêu cầu chống học tủ, học thuộc lòng. 

Phân tích một bài thơ như bài “Những chiếc lá” của Nguyễn Đình Thi trong khoảng thời gian khá hạn chế là một yêu cầu tương đối khó. Nhưng HS nói chung đã được làm quen với việc phân tích một tác phẩm thơ hoàn toàn mới qua các kì kiểm tra, thi trong mấy năm qua. Vì thế, một HS trung bình có thể đạt điểm trung bình câu này. Một số GV cho tôi biết HS của họ làm bài khá tốt, điều đáng mừng là có cả HS ở các trung tâm giáo dục thường xuyên. Cá biệt có GV chỉ ôn luyện cho HS đọc hiểu văn bản văn học và viết bài văn nghị luận xã hội theo cấu trúc như năm ngoái. Vì vậy, HS có thể gặp khó khăn với yêu cầu viết bài văn phân tích tác phẩm thơ. Trong trường hợp đó, khó khăn của học sinh chủ yếu xuất phát từ việc ôn tập chưa bám sát định hướng đề minh họa, chứ không phải lỗi của đề thi.

Với một đề thi mở, theo tôi, cần đánh giá bài thi theo hệ thống các tiêu chí (rubric) thay cho cách đếm ý cho điểm như trước đây. Như tôi đã có lần bàn, với một bài nghị luận, giám khảo cần chấm điểm bài thi căn cứ vào khả năng thí sinh hiểu đúng vấn đề nghị luận, có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, có dẫn chứng cụ thể, diễn đạt mạch lạc. Chấp nhận nhiều cách triển khai khác nhau nếu hợp lí và thuyết phục. Thí sinh được tính điểm sáng tạo khi có cách nhìn mới mẻ, hợp lí; có lập luận độc đáo; diễn đạt giàu sắc thái cá nhân. Còn nếu đáp án chủ yếu liệt kê các ý mà bài thi cần có thì không đánh giá được đúng năng lực nghị luận của HS mà có thể chỉ là năng lực đoán trúng ý của người làm đáp án. Tôi có ý chờ xem đáp án đề thi năm nay có thay đổi gì đáng kể không.

Câu 4: Trong nhiều năm gần đây, ở cả kỳ thi tuyển sinh lớp 10 và thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều có quy định giới hạn chữ viết. Ở kỳ thi vào lớp 10 của Hà Nội, viết đoạn văn giới hạn 200 chữ, bài văn 400 chữ. Ở kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, dung lượng viết đoạn văn 200 chữ, bài văn 600 chữ. Có ý kiến cho rằng quy định này là không phù hợp vì sẽ hạn chế khả năng của học sinh. Quan điểm của ông như thế nào về vấn đề này?

Tôi cũng đã từng có ý kiến về vấn đề này. Theo tôi, quy định đoạn văn 200 chữ thì phù hợp. Bởi, như một số đồng nghiệp của tôi cho biết, nếu không quy định rõ số chữ thì nhiều thí sinh không ước lượng được độ dài đoạn văn, có thể dành quá nhiều thời gian cho phần viết đoạn, ảnh hưởng đến thời gian làm bài văn. Nhưng quy định số chữ đối với bài văn thì khá bất cập. 

Tuyển sinh vào lớp 10 năm nay, đề thi của nhiều tỉnh không còn quy định số chữ của bài văn. Một số tỉnh có quy định, nhưng số chữ là 600. Rất ít tỉnh còn giữ quy định số chữ 400, rất ngạc nhiên là có cả Hà Nội. Tôi tin là họ sẽ thay đổi vì con số 400 là quá ít. Ngay đề thi vào lớp 10 đã quy định 600 chữ thì đề thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vẫn giữa “khoảng 600 chữ” như trong năm 2025 là không hợp lí. Có lẽ đề thi năm nay vẫn phải theo đề minh họa năm 2025 nên chưa thể thay đổi được.

Nhân tiện xin nói thêm, có một số người hiểu nhầm “chữ” ở đây là “con chữ”. Thật ra, “chữ” có thể được dùng để chỉ con chữ (chữ a, b, c,…), nhưng cũng có thể dùng để chỉ tổ hợp các con chữ dùng để ghi một âm tiết/tiếng (VD. Thơ bốn chữ là thể thơ mỗi dòng có bốn chữ). Trong tiếng Anh, ranh giới từ trong văn bản được đánh dấu bằng các khoảng trống, vì vậy rất dễ nhận biết từ. Trong khi đó trong tiếng Việt, khoảng trống lại xuất hiện giữa các chữ, chứ không phải giữa các từ. Máy tính cũng chỉ có thể đếm được có bao nhiêu chữ, chứ khó thể cho biết một cách chắc chắn có bao nhiêu từ trong văn bản tiếng Việt. Vì vậy, có lí do chính đáng để đề thi tiếng Anh quy định số từ, còn đề thi tiếng Việt thì phải quy định số chữ cho bài viết. Có người đề nghị tính theo số câu hoặc số dòng, nhưng số câu hoặc số dòng cũng có độ vênh rất lớn tùy thuộc vào câu dài hay ngắn, khổ giấy và cỡ chữ viết tay to hay nhỏ.

Câu 5: Theo ông, đâu là những kinh nghiệm cần rút ra từ đề thi năm nay để có thể hoàn thiện tốt hơn nữa đề thi trong các năm tiếp theo đồng thời tác động tích cực trở lại quá trình dạy và học trong các nhà trường?

Từ những nhận xét, đánh giá trên đây của tôi, có thể tự rút ra được đề thi trong các năm sau cần hoàn thiện theo hướng nào. Tinh thần chung là cần chọn được ngữ liệu cho phần Đọc hiểu và ngữ liệu cho phần Viết có nội dung thú vị, tiêu biểu về thể loại và có cách diễn đạt chuẩn mực; câu hỏi đọc hiểu bám sát yêu cầu của chương trình, chú trọng khai thác đúng đặc điểm thể loại văn bản; câu hỏi phần vận dụng kiến thức tiếng Việt phải đánh giá đúng kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của HS, chứ không thuần túy kiểm tra kiến thức; yêu cầu bài viết kích hoạt được hiểu biết, trải nghiệm của thí sinh và khơi gợi được hứng thú của các em. 

Ngoài ra, cần bổ sung nhóm câu hỏi đánh giá trong các câu hỏi đọc hiểu. Lâu nay, theo đề thi minh họa của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đề thi tốt nghiệp THPT và đề thi tuyển sinh vào lớp 10 trong cả năm 2025 và 2026 đều tập trung vào ba nhóm câu hỏi: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. “Thông hiểu” hay “hiểu” là khái niệm khá mơ hồ, đọc hiểu văn bản thì cái gì mà không liên quan đến hiểu? 

Trong SGK Ngữ văn mới, chúng tôi phân chia các nhóm câu hỏi đọc hiểu theo cách khác, bám sát yêu cầu của chương trình Ngữ văn 2018 và kết quả nghiên cứu về đọc hiểu của thế giới, cụ thể gồm các nhóm câu hỏi sau: nhận biết; phân tích, suy luận; đánh giá, vận dụng. Cách phân loại câu hỏi đọc hiểu chỉ gồm nhận biết, thông hiểu, vận dụng dễ khiến nhiều nhóm ra đề quên mất loại câu hỏi yêu cầu HS cho ý kiến nhận xét, đánh giá về nội dung và nhất là hình thức biểu đạt của văn bản đọc. Tuyển sinh vào lớp 10 năm 2026 đã có đề thi của một tỉnh yêu cầu thí sinh đánh giá nhan đề của bài thơ. Đó chỉ là trường hợp rất cá biệt. Tôi hi vọng, trong những năm tới câu hỏi đánh giá sẽ xuất hiện nhiều hơn trong các đề thi.

– Xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư!

*

P/S: Xin chia sẻ thêm mấy ý nhận xét, góp ý của tôi về đề thi mà không thuộc phạm vi bài phỏng vấn:

1. Về câu hỏi Đọc hiểu số 5: Câu này hỏi về AI nhưng ngữ liệu bên trên chỉ nói về “máy in”. Mặc dù hai thực thể này đều là công nghệ mang tính cách mạng, việc nhảy cóc từ máy in sang AI trong một câu hỏi (0,75 hoặc 1,0 điểm) có thể khiến học sinh bị ngợp hoặc làm bài theo kiểu “chém gió” nghị luận xã hội, mất đi tính chất đọc hiểu dựa trên văn bản. 

Để có sự kết nối, nên có một bước chuyển từ ngữ liệu đọc hiểu. Ví dụ: “Từ việc văn bản khẳng định sức mạnh của máy in trở thành thước đo cho vận mệnh các quốc gia, trong bối cảnh hiện nay, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để phát huy sức mạnh của nó?”. Đặt câu hỏi như vậy cũng tránh được cách diễn đạt “cộng hưởng trí tuệ” mà một số người thắc mắc một cách chính đáng.

2. Bản thân nội dung và diễn đạt của văn bản đọc cũng có chỗ chưa thật chính xác và chuẩn mực. Chẳng hạn, nhận định “Lần đầu tiên trong lịch sử, tư tưởng của một con người có thể tách rời khỏi thể xác họ…” là một câu văn giàu hình ảnh và có sức gợi, nhưng xét về mặt nội dung thì dễ gây tranh cãi, thậm chí không hoàn toàn chính xác. 

Về mặt lịch sử, tư tưởng đã “tách khỏi thể xác” từ rất lâu trước Gutenberg. Ngay từ khi chữ viết xuất hiện ở các nền văn minh cổ đại thì tư tưởng của một người đã có thể được ghi lại trên đất sét, thẻ tre, lụa, giấy,... Khi Khổng Tử qua đời, tư tưởng của ông vẫn tồn tại trong các văn bản. Khi Aristotle mất, các trước tác của ông vẫn tiếp tục được truyền bá. Nói cách khác, việc tư tưởng vượt qua giới hạn sinh học của cá nhân đã xuất hiện từ khi có chữ viết, chứ không phải đợi đến máy in. Điều Gutenberg tạo ra là khả năng nhân bản quy mô lớn.

Hơn nữa, về mặt triết học, câu này cũng gây lấn cấn. Câu văn mặc nhiên xem tư tưởng và thể xác là hai thực thể tách biệt. Tư tưởng không phải là một vật thể có thể “tách ra” khỏi cơ thể theo nghĩa đen. Điều được “tách ra” và lưu truyền thực chất là ngôn ngữ, văn bản, kí hiệu, chứ không phải bản thân tư tưởng nguyên vẹn. Nói cách khác, người ta không truyền tư tưởng trực tiếp, mà truyền hình thức biểu đạt của tư tưởng. Tuy vậy, nếu xem đây là một phép hoán dụ thì câu văn khá hiệu quả. Nó muốn nhấn mạnh ý tưởng của một cá nhân không còn bị giới hạn bởi sự hiện diện vật lí của người đó. Hiểu theo nghĩa biểu tượng thì người đọc vẫn tiếp nhận được thông điệp.

Nếu viết “Lần đầu tiên trong lịch sử, những ý tưởng của một người có thể được sao chép và lan truyền tới vô số người đọc” thì thể hiện đúng hơn đóng góp đặc biệt của máy in, tránh được cảm giác cường điệu hóa mà câu văn hiện tại tạo ra.

Ngoài ra, còn có một số chi tiết đáng bàn khác về chất lượng của văn bản đọc. Nói chung là cần phải chỉnh sửa nhiều thì mới có thể coi là một ngữ liệu mẫu mực được dùng trong đề thi quốc gia. Tuy vậy, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với khó khăn của nhóm ra đề thi. Một trong những khó khăn đó là họ không có quyền tự ý sửa văn bản của người khác nếu không được phép của tác giả. Trong bối cảnh hiện nay, tìm một văn bản nghị luận hay, “sạch” cả về nội dung lẫn diễn đạt, phù hợp để dùng làm ngữ liệu cho đề thi quốc gia là việc không dễ. Trong điều kiện bị cách li hoàn toàn, tức chỉ được tra cứu trong số tài liệu mang theo thì nhiệm vụ đó lại càng khó khăn hơn. 

Vì vậy, một mặt chúng ta cứ đánh giá một cách khách quan theo yêu cầu đối với ngữ liệu trong đề thi quốc gia để chất lượng đề thi ngày càng tốt hơn, nhưng mặt khác, cũng cần hiểu khó khăn của những người ra đề. Từ đó, tôi cũng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi cách kiểm soát thông tin để vừa đảm bảo bí mật của đề thi vừa tạo điều kiện cho những người ra đề tiếp cận với các tài liệu bên ngoài trong quá trình làm đề, theo hướng một chiều duy nhất, thông tin chỉ từ bên ngoài vào bên trong, chứ không để thông tin từ bên trong ra bên ngoài.

Đường link đọc bài trên VietnamPlus: https://www.vietnam.vn/tong-chu-bien-mon-ngu-van-de-thi...

Ảnh chụp ở Lào Cai, năm 2017, trong những ngày thực nghiệm Chương trình GDPT 2018. Chưa đến 10 năm nhưng tưởng như đã rất xa...

B.M.H.

Nguồn: FB Hung Bui

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn