Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng Cộng sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng Cộng sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Loay hoay mãi mà làm gì

Nguyễn Đình Cống

Đó là loay hoay trong việc xây dựng và chỉnh đốn đảng CSVN dưới thời TBT Nguyễn Phú Trọng. Loay hoay mãi mà chẳng làm nên trò trống gì. Vì sao vậy?

Hiện nay, việc chỉnh đốn đảng là quan trọng, cấp thiết, còn xây dựng đảng, tuy có, nhưng chỉ là phụ, vì rằng tổ chức của đảng, trên cơ bản đã được xây dựng xong. Nếu muốn xây dựng thì đó là xây dựng một đảng mới, tuy có thể bao gồm nhiều hoặc toàn bộ đảng viên hiện nay, nhưng phải khác về bản chất, là một đảng chính trị chứ không phải là đảng cách mạng.

Một đảng, sau khi thành lập 15 năm (1930-1945) đã giành được chính quyền. Sau 76 năm cầm quyền (1945- 2021), đáng ra phải trở thành hùng mạnh, thế mà vẫn còn loay hoay với việc chỉnh đốn, càng chỉnh càng nát thêm. Vậy phải chăng có điều gì vô lý ở đây. Không những vô lý mà rất vô lý, sai quy luật.

Cấm vận động cá nhân cho lá phiếu “Đảng cử”?

Nguyễn Huyền

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội; vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm... trong công tác nhân sự; kiên quyết xử lý những tập thể, cá nhân vi phạm.

Ngại tranh cử công khai trong chính nội bộ Đảng?

Báo Thanh Niên, viết: “Nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng ở tất cả các khâu, góp phần nâng cao chất lượng nhân sự cấp uỷ các cấp và chuẩn bị cho nhân sự T.Ư. “Những hiện tượng vận động, tranh thủ phiếu bầu cơ bản được khắc phục; tình trạng chạy chức, chạy quyền, cục bộ, địa phương, lợi ích nhóm đã giảm hẳn”, Tổng bí thư, Chủ tịch nước khẳng định. (*)

Hai bài viết của TS Nguyễn Ngọc Chu về vấn đề mở rộng dân chủ, điều kiện tiên quyết giúp Đảng tồn tại

Bài 1

ĐÔI ĐIỀU TRAO ĐỔI VỚI ÔNG PHÙNG HỮU PHÚ

Giật mình với những luận điểm của ông Phùng Hữu Phú ở trình độ Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (HĐLLTƯ).

Bởi vì ông Phùng Hữu Phú, trong báo cáo sáng ngày 10/6/2020 tại Ban Tuyên giáo Trung ương, khi trình bày “về những điểm mới trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng,” đã đưa ra một số luận điểm gây hoài nghi trong công chúng (https://thanhnien.vn/…/qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bao-lau-…). Có rất nhiều điều cần bàn, nhưng trong khuôn khổ bài viết trên FB chỉ xin đề cập đến hai luận điểm cụ thể.

1. Đảng lãnh đạo thì Đảng biết đi con đường nào. Đảng dẫn dắt nhân dân tiến lên Chủ nghĩa Xã hội (CNXH) thì Đảng phải biết CNXH ở đâu và như thế nào. Thế mà ông Phùng Hữu Phú – trong tư cách Phó chủ tịch HĐLLTƯ - lại nói:

“Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao lâu, có mấy chặng đường cần tiếp tục làm rõ” ; “thời kỳ quá độ là thế nào - là vấn đề rất vướng, chưa rõ, lâu nay chưa làm được, và cần tiếp tục nghiên cứu”
(https://thanhnien.vn/…/qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bao-lau-…).

Thế hóa ra, từ trước đến nay Đảng dẫn lối cho nhân dân đi con đường mà chưa biết đi đến đâu, không biết có mấy chặng, vừa đi vừa nghiên cứu? Vậy thì ai dám theo Đảng mà đi?

2. Ông Phùng Hữu Phú lý luận:

“Không còn thừa nhận chủ nghĩa Mác - Lênin tức là không thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng. Các đảng phái sẽ mọc lên như nấm và quốc gia sẽ bước vào thời kỳ thập nhị sứ quân, rối loạn. Đó là lý do quan điểm chỉ đạo của báo cáo chính trị nhấn mạnh số 1 việc vững vàng tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” (https://thanhnien.vn/…/qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bao-lau-…).

Thật là sai lầm. Chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng là 2 đối tượng khác nhau. Ông Phùng Hữu Phú lại đồng nhất Chủ nghĩa Mác – Lênin với Đảng theo hệ quả “một - một”. “Không còn thừa nhận chủ nghĩa Mác – Lênin” vẫn thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng được chứ sao lại không?

Miễn là nhân dân tín nhiệm Đảng thì nhân dân thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng, chứ nhân dân không cần quan tâm đến chủ nghĩa nào cả. Năm 1945 nhân dân đi theo Đảng làm cách mạng là đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Nhật. Cụ Hồ thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) không dựa vào chủ nghĩa nào cả. Quốc hội nước VNDCCH bầu ra Chính phủ VNDCCH cũng không dựa vào một chủ nghĩa nào cả.

Ở mặt khác, ông Phùng Hữu Phú đã không coi trọng Tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông Phùng Hữu Phú khẳng định “Không còn thừa nhận chủ nghĩa Mác - Lênin tức là không thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng” - vậy thì Tư tưởng Hồ Chí Minh ở đâu? “Không còn thừa nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin” mà thừa nhận tư tưởng Hồ Chí Minh thì sao? Không có Chủ nghĩa Mác – Lê nin mà có Tư tưởng Hồ Chí Minh thì Đảng không lãnh đạo được ư?

Tiếp nữa, ông Phùng Hữu Phú lý luận: “Các đảng phái sẽ mọc lên như nấm và quốc gia sẽ bước vào thời kỳ thập nhị sứ quân, rối loạn. Đó là lý do quan điểm chỉ đạo của báo cáo chính trị nhấn mạnh số 1 việc vững vàng tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ở đây ông Phùng Hữu Phú hiểu sai Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng, và đánh giá không đúng khả năng lãnh đạo của Đảng.

Đảng “vững vàng tư tưởng Mác – Lênin” là vì Đảng nghĩ CNXH theo kiểu Chủ nghĩa Mác -Lênin sẽ đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Đảng kiên trì Chủ nghĩa Mác – Lênin là kiên trì CNXH theo kiểu Chủ nghĩa Mác - Lênin, chứ không phải vì “ quyền lãnh đạo của Đảng”. Mục đích của Đảng là hạnh phúc của nhân dân, chứ không phải mục đích của Đảng là “quyền lãnh đạo của Đảng”. Làm sao lại có thể hiểu sai mục đích của Đảng như vậy?

Còn nữa, năm 1945 nhiều đảng phái có loạn không? Nhiều đảng phái mà Đảng vẫn lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954 cho đến năm 1988 vẫn có 3 đảng thì có loạn không? Có 3 đảng mà Đảng vẫn nắm quyền lãnh đạo, đất nước không loạn, lại lãnh đạo nhân dân dành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chống bọn Polpot và chống Trung Quốc xâm lược.

Hay là ông Phùng Hữu Phú cho rằng lãnh đạo Đảng hiện nay không tài giỏi bằng lãnh đạo Đảng thời trước, nên có thể để xẩy ra “thời kỳ thập nhị sứ quân, rối loạn”?

Rõ ràng, ở góc độ này, ông Phùng Hữu Phú đã đánh giá thấp tài năng lãnh đạo của Đảng.

3. Xin mời các thầy giáo dạy và nghiên cứu về Đảng, Chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh đánh giá các luận điểm nêu trên của ông Phùng Hữu Phú. Có phải các luận điểm trên của ông Phùng Hữu Phú là đại diện cho HĐLLTƯ không?

Trình bày sự thật qua mạng xã hội: nỗi lo của Đảng!

RFA Tiếng Việt

Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây.

Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây. AFP

Tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết công tác Tuyên giáo năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hôm 23/12/2019, Ban Tuyên giáo Trung ương Việt Nam đưa ra cảnh báo rằng kể từ sang năm 2020 mạng xã hội tiếp tục bị sử dụng bởi giới mà những vị phụ trách tư tưởng - văn hóa của Hà Nội gọi là ‘thế lực thù địch’. Mục tiêu cũng được nêu rõ là để ‘gia tăng chống phá trong thời gian diễn ra đại hội đảng bộ các cấp và dịp Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XIII.’

Ông Võ Văn Phuông, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương khi phát biểu tại Hội nghị cho biết, Ban Tuyên giáo đang triển khai Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Ban Tuyên giáo cũng nhận định, trong năm 2020, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục sử dụng mạng xã hội để gia tăng các hoạt động chống phá, nói xấu, chia rẽ Đảng với dân…

Trả lời RFA hôm 23/12, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương, nhận định:

“Hiện nay Đảng đang ngày một xấu đi, đấy là một sự thật, nó xấu cả về lý thuyết, nó xấu cả về chủ trương đường lối, chính sách… đặc biệt nó xấu về hệ thống tổ chức, nhất là cán bộ cầm quyền của Đảng càng ngày càng xấu, càng thoái hóa, đồi trụy… Đảng không nên cấm người ta nói xấu mà nên vạch ra cái xấu để Đảng thấy mà sửa. Ông Hồ nói như thế, Đảng nói học theo Hồ Chí Minh, nhưng chỉ là nói phét, có học hành gì đâu. Tham nhũng, cậy quyền áp bức dân là chính, cướp bóc của dân, cái đó phải sửa chứ còn gì? Mà ai vào tù, Ủy viên Bộ Chính trị vào tù, Ủy viên Trung ương Đảng vào tù, Bộ trưởng đảng viên vào tù… phải sửa chứ còn sợ người ta nói xấu gì?”

Đây không phải lần đầu tiên Chính quyền Việt Nam kêu gọi đấu tranh chống âm mưu chống phá Đảng trên mạng xã hội. Vào đầu năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng lên tiếng kêu gọi đánh bại cái mà người đứng đầu Chính phủ Hà Nội cũng như lãnh đạo Việt Nam lâu nay gọi là ‘âm mưu chống phá Đảng, nhà nước’: “Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước”.

Hay tại Hội nghị tổng kết công tác tuyên giáo năm ngoái, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng cũng từng lên tiếng cảnh báo cần phải đấu tranh hiệu quả, quyết liệt, mạnh mẽ với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ đảng viên, nhất là tình trạng viết bài trên mạng xã hội hoặc đưa tài liệu cho người khác viết bài trái với quan điểm của Đảng.

Nhà báo Nguyễn Văn Khánh, nguyên phóng viên Ban Khoa giáo, báo Tiền Phong, khi trao đổi với RFA hôm 23/12, nói:

“Theo quan điểm của tôi, việc Ban Tuyên giáo hay Đảng Cộng sản lo ngại thông tin trên mạng xã hội đã có từ lâu, nhất là trong thời đại bây giờ họ không thể nào bưng bít, dối trá người dân được nữa, cho nên những biện pháp họ đưa ra tôi cho là không khả thi”.

Cũng tại  Hội nghị toàn quốc Tổng kết công tác Tuyên giáo năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, Ban Tuyên giáo đã chỉ đạo phải dự báo, phát hiện sớm “điểm nóng” để tổ chức lực lượng, tin, bài đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch; ngăn chặn các trang mạng xã hội, blog cá nhân nói xấu Đảng, chống phá Đảng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng…

Trả lời RFA hôm 23/12, Giáo sư Nguyễn Đình Cống, một đảng viên cộng sản cao niên, từng công khai lên tiếng từ bỏ Đảng, nói:

“Việc người ngoài có nói xấu Đảng hay không? Tại sao Đảng lại không công khai để đối thoại trực tiếp? Tôi cho rằng đấy là các nhà hoạt động dân chủ, còn Đảng thì cho rằng đấy là thế lực thù địch, tự chuyển biến, tự chuyển hóa nói xấu Đảng. Nhưng mà những người phát ngôn thì họ cho rằng, đó là nói sự thật, nhưng sự thật xấu. Nói xấu có nghĩa là người ta không xấu nhưng mình bịa đặt ra, bôi nhọ người ta, nhưng nếu mình xấu thật, mà người ta vạch chuyện xấu của mình ra thì đấy là nói sự thật”.

Chính sách “bế môn tỏa cảng” thời Cộng sản

Trần Trung Đạo

Tôi đang sống ở Boston. Lịch sử của thành phố này có rất nhiều liên hệ, có khi gắn bó và cũng có lúc oan khiên với lịch sử Việt Nam. Biểu tượng lâu đời nhất của mối quan hệ Việt Mỹ đầy biến cố là USS Constitution, chiến hạm đầu tiên của Hải quân Mỹ, bây giờ là một viện bảo tàng nổi nằm ở góc vịnh Boston.

Hơn hai trăm năm trước khi có USS George Washington, USS Constitution, hạ thủy 1798 và được trang bị 54 khẩu đại bác, là niềm kiêu hãnh của Hải quân Mỹ.

Cũng chính chiến hạm này đã bắn vào Đà Nẵng năm 1845.

USS CONSTITUTION NÃ PHÁO VÀO ĐÀ NẴNG 1845

Theo phóng sự điều tra “Đi tìm ngôi mộ bị thất lạc” (In Search Of The Lost Grave) của Peter Kneisel trên báo Boston Globe 2001, câu chuyện bắt đầu vào tháng 5, 1845, USS Constitution trên chuyến hải hành thiện chí, đã ghé Đà Nẵng để xin cung cấp thức ăn, nước uống và xin phép chôn cất một thủy thủ vừa qua đời.

Tuy nhiên, khi biết Việt Nam đang giam giữ Giám mục Dominique LeFevre, một nhà truyền giáo Pháp đang bị cầm tù, Hạm trưởng John Percival yêu cầu Việt Nam trao trả tự do cho Giám mục. Phía Việt Nam từ chối. Hạm trưởng Percival tức giận và chỉ huy một đội quân võ trang đổ bộ xuống Ðà Nẵng. Ông tống đạt thư đòi Việt Nam phải trao trả tự do cho Giám mục LeFevre, đồng thời, cũng để chứng tỏ quyết tâm của mình, Hạm trưởng đã hạ lệnh bắt ba viên quan Việt Nam trú phòng Ðà Nẵng làm tù binh. Phía Việt Nam cũng nhất định không trả tự do cho Giám mục. Không làm gì được, cuối cùng, Hạm trưởng Percival đành thả tù binh và ra đi. Trước khi nhổ neo, ông ra lịnh cho giàn trọng pháo của USS Constitution nã vào biển Đà Nẵng một loạt để bày tỏ thái độ bất bình.

HẠM TRƯỞNG MATTHEW PERRY ĐE DỌA NHẬT BẢN 1852

Không chỉ mỗi Việt Nam bị hiếp đáp, thị uy, nhưng cùng một khoảng thời gian đó, 1852, Hạm trưởng Matthew Perry, trên những chiến hạm tương tự như USS Constitution bây giờ, cũng đã đe dọa chủ quyền nước Nhật.

Hạm trưởng Matthew Perry chỉ phô trương lực lượng thôi nhưng đã làm nước Nhật suy nghĩ.

Trong khi đó, các vua triều Nguyễn vẫn an nhiên. Những viên đại bác từ USS Constitution bắn vào Đà Nẵng không làm lung lay bức tường thành hủ nho, phong kiến, lạc hậu trong ý thức của các vua nhà Nguyễn.

“BẾ MÔN TỎA CẢNG” THỜI NHÀ NGUYỄN

“Bế môn tỏa cảng” chưa hẳn là một sai lầm. Nếu đóng cửa để suy nghĩ, để gặm nhắm cái nhục, để uống cái đau của một nước yếu, để trau giồi, học hỏi, canh tân và rồi vươn lên thì cũng không đáng trách.

Các vua triều Nguyễn không được như thế. Chính sách “bế môn tỏa cảng” thời nhà Nguyễn là bản sao chính sách “bế môn tỏa cảng” của nhà Thanh dẫn đến việc Trung Hoa bị ngoại bang chia năm xẻ bảy sau đó.

Mặc cho dông bão phương Tây đang ùn ùn kéo tới, vua tôi nhà Nguyễn vẫn cứ tiếp tục miệt mài đèn sách trong kho kinh sử Trung Hoa, vẫn Tứ Thư Ngũ Kinh, vẫn “trọng đạo Thánh Hiền”, vẫn hãnh diện vì “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường”.

Học ngày đó là học để ra làm quan, để làm thơ chứ không phải để giúp dân, cứu nước.

Trong Việt Nam sử lược sử gia Trần Trọng Kim viết về giáo dục dưới triều Nguyễn: “Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu”.

Và ông kết luận: “Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh”.

Câu “Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh” đọc lên nghe cay đắng nhưng thực tế làm sao.

Trần Trọng Kim viết câu này cách đây cả trăm năm trước nhưng nếu ai chỉ mới đọc lần đầu có thể hiểu lầm vừa được viết từ Hà Nội tối hôm qua.

PHONG TRÀO GIẢI THỰC (DECOLONIZATION)

Phong trào giải thể chế độ thực dân được phát động sau Thế chiến Thứ Nhất và trở thành một cao trào bùng nổ khắp các quốc gia Á Phi cùng với việc ra đời của Liên Hiệp Quốc sau Thế chiến Thứ Hai.

Phần lớn các quốc gia bị trị lần lượt giành được tự do. Dọc bờ sông Nile cho đến vùng Địa Trung Hải, các dân tộc Phi châu từng bước xây dựng lại đất nước họ.

Tại Á Châu, các quốc gia thuộc địa như Ấn Độ, Mã Lai, Singapore, Nam Dương, hay vừa hình thành sau thế chiến thứ hai như Đài Loan, Nam Hàn tập trung nỗ lực vào việc tái thiết và canh tân đất nước để đuổi kịp đà tiến nhân loại.

Hành trình dân chủ hóa tại các quốc gia này chịu rất nhiều hy sinh, thử thách, có khi phải nhuộm bằng máu, nhưng đó cũng là một mục tiêu đích thực và không thể nào thay thế mà đất nước họ phải đạt đến.

Việt Nam lẽ ra cũng có cơ hội giành độc lập và bắt tay xây dựng đất nước. Việt Nam, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, một lực lượng lao động cần cù, một dân số không quá đông hay quá ít, một ý chí quật cường hun đúc từ lịch sử bốn ngàn năm, nếu không phải là con rồng, con phượng của Á Châu thì cũng không đến nỗi thua kém Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Mã Lai, Singapore, Nam Dương.

Nhưng không.

Trong lúc những quốc gia cùng số phận đã vượt qua, đã vươn lên, Việt Nam vẫn máu đổ thịt rơi, thân xác của người dân Việt Nam vô tội vẫn tiếp tục ngã xuống mỗi ngày trên đồng ruộng Việt Nam.

TẠI SAO VIỆT NAM CHƯA THOÁT RA KHỎI ĐỘC TÀI, ÁP BỨC?

Bởi vì khác với các phong trào giành độc lập tại các nước Á Phi, Việt Nam có Đảng Cộng sản.

Toàn bộ chính sách của Mỹ từ 1946 đến thời kỳ Liên Xô sụp đổ đều hướng đến một mục tiêu duy nhất là ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản (containment). Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, quân sự của mỗi quốc gia, việc áp dụng chính sách ngăn chặn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau.

Đối với Việt Nam, để đương đầu với một đội quân hùng mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đang “thừa thắng xông lên” sau trận Điện Biên Phủ, với sự yểm trợ vũ khí dồi dào của các quốc gia khối Cộng sản đứng đầu là Liên Xô và Trung Cộng, trong lúc tại miền Nam một quân đội quốc gia non trẻ đang mới hình thành, Mỹ đã chọn giải pháp trực tiếp can thiệp bằng quân sự.

Một trăm hai mươi năm sau khi USS Constitution đến Đà Nẵng, mùa hè 1965, các chiến hạm Mỹ từng đoàn cập bến. Những đơn vị Thủy quân Lục chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ.

Để thực hiện chính sách ngăn chặn Cộng sản, Mỹ mang máy móc sang Đức, mang sách vở sang Nhật nhưng mang bom đạn sang Việt Nam.

Thế nhưng, cuộc chiến chưa tàn mà người Mỹ đã bỏ đi khi chính sách toàn cầu của họ thay đổi.

Mỹ ra đi vội vàng như đã đến mặc cho cây dân chủ ở miền Nam phải chết non khi vừa bén rễ, mặc cho hàng triệu người lính miền Nam hết súng, hết đạn, đưa lưng trần chịu pháo, mặc cho hàng triệu đồng bào miền Trung, miền Tây Nguyên phải tay bồng bế con thơ, lưng cõng cha mẹ già, bỏ làng mạc ruộng vườn chạy trốn trong lúc T54, T76 đang rượt đuổi theo sau.

Trong ly rượu mừng chiến thắng ở Hà Nội, ở Moscova, ở Bắc Kinh có nước mắt của hàng triệu em bé Việt Nam mồ côi cha nhỏ xuống khắp ba miền.

Nếu có một dân tộc phải được xếp vào danh sách những dân tộc chịu đựng dưới chính sách đô hộ hà khắc, đồng hóa bất nhân và diệt vong tàn bạo nhất trong bàn tay của các đế quốc ngoại bang xâm lược thì bên cạnh một Do Thái với hai ngàn năm lưu vong và những lò thiêu sống của Hitler, một Armenia bị diệt chủng dưới gót giày của đế quốc Ottoman, phải có một Việt Nam trong một ngàn năm nô lệ dưới các triều đại Tần, Hán, Ngô, Tấn, Tùy, Đường, Minh.

Nếu có một dân tộc là nạn nhân của chế độ thực dân tàn bạo với tất cả cực hình tàn khốc, thì bên cạnh một Congo trước những thanh gươm bén của vua Bỉ Leopold, một Triều Tiên dưới chính sách đồng hóa của Nhật, phải có một Việt Nam dướt gót giày Thực Dân Pháp gần suốt một trăm năm.

Phải chi ông bà chúng ta ngày đó biết thức thời mở cửa, tiếp nhận nhiều nguồn khác nhau để hóa giải ngoại lực, từng bước hiện đại hóa đất nước để tăng cường nội lực thì có thể đã thoát nạn thực dân, Cộng sản, và Việt Nam đâu đến nỗi này.

NHÌN LẠI ĐỂ VƯỢT QUA

Dù sao, lịch sử là một dòng sông không ngừng chảy. Có lúc phải vượt qua những mỏm đá cheo leo nhưng cũng có khi êm đềm phẳng lặng. Không ai có thể thay đổi quá khứ nhưng có thể học từ những sai lầm, những thiếu sót để làm đẹp tương lai.

Nhân loại chỉ mới qua khỏi thập niên đầu của thế kỷ nhưng đã bước một bước thật dài trong khoa học kỹ thuật và đời sống xã hội.

Thời đại hôm nay là thời đại dân chủ. Từ anh chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ cho đến người thợ mỏ Phi châu đều đã có quyền chọn lựa người lãnh đạo của mình.

Hành trình phát triển của loài người có tính quy luật, từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh, từ thu hẹp đến rộng mở. Trong quá trình đó, nhân loại đã trải qua nhiều thảm họa nhưng cũng đã chứng minh khả năng của con người có thể vượt qua thảm họa bằng con đường dân chủ.

Năm 1974, chỉ có 41 nước trong số 150 quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Năm 1990, ba phần năm tổng số quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Và hôm nay, dân chủ, tuy mức độ còn khác nhau nhưng đang là thực tế tại hầu hết quốc gia, ngoại trừ một rất số nhỏ, trong đó có Việt Nam.

CHÍNH SÁCH “BẾ MÔN TỎA CẢNG” THỜI CS

Người Việt có quyền tin rằng tuổi trẻ Việt Nam chứ không ai khác sẽ là những người mang giọt nước tự do trong lành tưới lên cánh đồng khô cháy Việt Nam. Những thế hệ trẻ của Việt Nam thế hệ đầu thiên niên kỷ đang đứng trước nhiều thử thách nhưng cũng nhiều triển vọng.

Nhưng không. Có nhiều tiếng nói bất đồng vang lên và nhiều nhóm trẻ đang hoạt động trên khắp các nẻo đường đất nước cũng như trong internet, nhưng Việt Nam vẫn chưa có một phong trào tầm vóc đủ lớn như Tunisia hay Ai Cập.

Sức đẩy từ phía dân tộc vẫn chưa đủ mạnh để đưa cuộc cách mạng dân chủ đến nhanh hơn và tiết kiệm được nhiều hơn những hy sinh chịu đựng của đồng bào.

Tại sao? Có nhiều lý do, nhưng trong bài này, người viết muốn nói đến lý do tư tưởng.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn