23/03/2010

Thành quả khởi đầu của những nỗ lực bảo vệ rừng đầu nguồn


Rừng Việt Nam chụp từ trên cao. Photo courtesy of vfej.vn
Ngày 22 tháng 1 năm 2010, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh bắn pháo lệnh cảnh báo nguy cơ khai thác rừng đầu nguồn bởi ngoại bang.
Mạng Bauxite Việt Nam đăng tải lá thư cảnh báo của 2 vị tướng lãnh này và tiên phong mở đầu cho một phong trào lên tiếng đồng loạt, rộng rãi, bày tỏ sự quan ngại và phản đối những cơ quan có trách nhiệm của nhà nước đã tạo ra mối nguy cơ trầm trọng này.
Chỉ trong vòng một tuần sau đó, phản đối hiểm họa khai thác rừng đầu nguồn đã trở thành tụ điểm tham gia của nhiều tầng lớp quan tâm.
Các cây viết bình luận nhập cuộc.
Các cơ quan thông tấn nước ngoài làm phóng sự điều tra, phỏng vấn và đưa tin.
Các blogger Việt Nam lên tiếng và chuyển tin.
Các cơ quan truyền thông, tổ chức, cá nhân người Việt ở nước ngoài xắn tay nhập cuộc.
Các ý kiến phản đối, góp ý giải quyết và những bày tỏ bức xúc của người dân đối với hiểm họa này xuất hiện cùng khắp trên các diễn đàn mạng.
Người người đồng loạt không chấp nhận những hiểm họa do chính các cơ quan có trách nhiệm của chính phủ tạo ra cho đất nước.

Một tháng sau, ngày 23 tháng 2, trước sức ép của dư luận, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi báo chí thông tin “tốt hơn” về chủ quyền lãnh thổ.
Đây là lần đầu tiên, đảng và nhà nước phải lùi bước trước sự phản đối đồng loạt của quần chúng trước nguy cơ về tài nguyên bị khai thác bừa bãi, môi sinh bị ảnh hưởng lâu dài và an ninh quốc gia bị đe dọa.
Và đây là thành quả đầu tiên của người dân Việt Nam đang lên tiếng đòi hỏi chính phủ bảo vệ tài nguyên và an ninh của đất nước.
Một số cơ quan truyền thông dưới sự kiểm soát của đảng và nhà nước sau khi được Thủ tướng bật đèn xanh đã nhập cuộc đưa tin, bình luận, phỏng vấn Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên với chủ đề: nguy cơ của việc khai thác rừng đầu nguồn bởi nước ngoài.
Từ đó, những dữ kiện về hiểm họa khai thác rừng đầu nguồn, vốn là vấn đề nằm trong khoảng không gian im lặng trước đây, đã được chính các cơ quan truyền thông của đảng và nhà nước thông tin đến quảng đại quần chúng. Lần đầu tiên, cả nước biết đến nguy cơ vốn đã âm thầm xảy ra từ lâu mà trách nhiệm là do ở chính quyền.
Đây chính là thành quả thứ hai trên mặt trận phá vỡ bưng bít thông tin bằng sức ép dư luận để hệ quả có được là chính các cơ quan truyền thông bị đảng và nhà nước kiểm soát đã đưa tin.
Ngày 10 tháng 3, sau khi quá nhiều dữ kiện đã được phơi bày, mọi người dân quan tâm đều thấy rõ những hiểm họa khó lường, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới thừa nhận có tình trạng cho thuê rừng tự nhiên và đất tại các vùng nhạy cảm.
Sự thừa nhận này cũng chính là thành quả thứ ba của người dân Việt Nam.
Tuy nhiên, chúng ta không dừng lại ở đây.
Công văn 405/TTg-KTN của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo không cấp giấy phép đầu tư mới và không ký tiếp hợp đồng cho thuê trong một thời gian tới.
Trong một thời gian tới? Có nghĩa là những hành động vô trách nhiệm này có thể sẽ tiếp diễn sau khi dư luận lắng xuống?
Không cấp giấy phép mới nhưng những công văn đã ký kết cho thuê 50 năm rừng tự nhiên và đất tại các vùng nhạy cảm thì có giải quyết hay không? Giải quyết bằng cách nào? Và khi nào? Những nguy cơ tạo nên bởi những gì đã xảy ra mà quần chúng Việt Nam ở khắp nơi đang bức xúc, lo âu vẫn còn nguyên vẹn.
Cơ quan nào, bộ phận trung ương nào chịu trách nhiệm trước nhân dân về hành động làm hại đất nước này? Không thể tháo khoán và đổ thừa trách nhiệm hoàn toàn lên đầu các tỉnh địa phương. An ninh của cả nước, tài nguyên của quốc gia là trách nhiệm của chính quyền trung ương, trừ khi đất nước này đang gặp loạn sứ quân, mỗi tỉnh là một lãnh địa riêng biệt.
Trong công văn của Thủ tướng đã nêu rõ: “Có nơi đã cho thuê đất chồng lấn lên phần đất đã được giao và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình nông dân địa phương“. Câu này nghĩa là sao? Tức là Thủ tướng đã xác nhận cơ quan nhà nước đã lấy đất của nông dân vốn đã được chứng nhận quyền xử dụng để giao cho công ty nước ngoài. “Nơi” này là những “nơi” nào? Viên chức nhà nước cán bộ đảng viên nào đã lạm quyền và cướp đoạt tài sản của nhân dân để cho ngoại bang thuê mướn? Những người này đã bị đưa ra trước pháp luật để điều tra và nghiêm trị chưa? Nếu chưa thì tại sao? Và khi nào thì sẽ?
Quốc hội, cơ quan đại diện của người dân đang làm gì và ở đâu trong vấn đề này?
Và sau cùng, tại sao Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và nhiều người dân thường đã thấy rõ hiểm họa này đối với đất nước mà ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng của cả nước, cho tới một tháng sau mới có “ý kiến kết luận”?
Đó là những vấn đề mà chính quyền phải có trách nhiệm và trình bày trước nhân dân.
Là những công dân Việt Nam, chúng ta có bổn phận tiếp tục đòi hỏi và tranh đấu để chính phủ phải giải quyết tận gốc vấn nạn này.
Và để thực hiện bổn phận công dân này, chúng ta có đầy đủ mọi quyền hạn đã được quy định bởi hiến pháp do chính đảng CSVN lập ra:
Điều 17 – Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.
Điều 53 – Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Điều 74 – Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.
Điều 76 – Công dân (bao gồm cán bộ, đảng viên, nhân viên chính phủ *) phải trung thành với Tổ quốc.
Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.
* Thêm bởi tác giả:
Điều 77 – Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.
Nguồn: vudongha.wordpress.com