12/10/2017

Nhân ngày Luật sư Việt Nam 10/10/2017: Tôi đã từng là “vật cá độ”

Vũ Trọng Khải

Tôi là con út trong một gia đình có bốn anh, chị em. Chị gái trên tôi lớn hơn tôi tới bảy tuổi. Trên chị gái tôi là hai người anh trai. Như vậy là ba mẹ tôi đã “có nếp, có tẻ”, nên lẽ ra tôi đã không có mặt trên đời. Rồi ba mẹ tôi lại muốn có một bé gái nữa, cho đủ hai trai, hai gái. Không ngờ người con út của ba mẹ tôi lại là cái thằng tôi.

Vì thế, tuy tôi đã ba, bốn tuổi (vào khoảng năm 1948-1949), ba mẹ tôi vẫn cho tôi mặc đồ bé gái, với mái tóc dài, quăn lượn sóng, bóng mượt và khuôn mặt bầu bĩnh. Cứ đến chợ phiên ở làng (thuộc vùng tự do, tôi không nhớ rõ tên), mấy anh tù thường phạm được phép ra chợ chơi và mua ít đồ, lại bế tôi theo.

Họ đố mọi người: “Bé này trai hay gái?”.

Kẻ bảo tôi là bé gái, thua cuộc, phải mời mọi người thắng cuộc (bảo tôi là bé trai) một bát (tô) phở.

Và dĩ nhiên, mấy anh tù thường phạm này với tư cách là “nhà cái”, luôn thắng cuộc, nên được ăn phở miễn phí!

Ấy là cái thời Bộ Tư pháp quản lý trại giam. Lúc đó, ba tôi là Giám đốc Tư pháp Khu 10 (gồm các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang) nên là cấp trên phụ trách mấy vị quản lý trại giam [tác giả là con trai của luật sư Vũ Trọng Khánh, Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – BVN]. Vì thế mấy anh tù thường phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội, mới đóng được vai “nhà cái” trong cuộc cá độ “bé gái hay trai”.

Khi đã thành án, tù nhân trong nhà tù do ngành tư pháp quản lý chỉ mất quyền công dân, không mất quyền con người. Họ được cải tạo để sớm hoàn lương, chứ không phải “tôi luyện” để trở nên hung ác, tàn bạo hơn sau khi ra tù. Các công an viên không thể đến trại giam để dùng nhục hình, bức cung, buộc họ nhận thêm tội này hay tội khác với lời hứa suông “sẽ được giảm án”.

Mặt khác, do trại giam thuộc quyền quản lý của ngành tư pháp, nên công an viên muốn bắt người, buộc phải làm đúng thủ tục pháp lý theo luật tố tụng hình sự. Nếu tùy tiện bắt giam người, trại giam sẽ không nhận kẻ bị công an viên bắt. Trong thời gian tạm giam, công an viên đến nhà tù để xét hỏi, lập hồ sơ truy tố, không thể mớm cung hay dùng nhục hình buộc tội nghi phạm nhận tội theo ý mình, để lập thành tích “phá án nhanh”. Hết hạn tù theo bản án đã tuyên của tòa, hay hết thời hạn tạm giam theo luật định, trại giam đương nhiên trả tự do cho tù nhân, không cần có quyết định của bất kỳ ai.

Nhưng Bộ Tư pháp đã bị giải thể năm 1960, người ta giao cho Bộ Công an quản lý trại giam. Từ đó đã xảy ra nhiều vụ án oan sai, nhiều vụ ép cung, dùng nhục hình đối với kẻ bị nghi phạm tội, để lập “thành tích phá án nhanh” hoặc buộc phạm nhân đã thành án phải nhận thêm tội này hay tội khác…, nhiều người dân bị chết trong đồn công an… Tình trạng này đã được các phương tiện thông tin đại chúng loan truyền rộng rãi trong thời gian qua, gây bức xúc, bất bình, phẫn nộ trong xã hội. Thế mà, người ta vẫn cứ hô hào cải cách tư pháp để xây dựng “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.

Thật ra, có những điều rất đơn giản, hiển nhiên đã được thực thi rộng rãi trên thế giới, và ở Việt Nam từ trước năm 1960, không liên quan gì đến ý thức hệ, đến chủ nghĩa Mác-Lênin, đã góp phần không nhỏ trong việc ngăn ngừa sự lạm quyền của những người thi hành công vụ trong việc bắt người, điều tra xét hỏi, và xử án, thi hành án… Những quy định ngăn chặn lạm quyền này dựa trên cơ sở quản trị học, chứ chưa phải dựa trên lý thuyết tam quyền phân lập.

1. Kế toán viên không thể kiêm nhiệm thủ quỹ, thủ kho.

Ai cũng biết trong một tổ chức, nhất là tổ chức có nhiều chủ thể sở hữu, kế toán viên không được kiêm nhiệm thủ kho, thủ quỹ. Quản trị học đã chỉ ra rằng, kế toán viên là người làm thủ tục “xuất, nhập” tiền và vật tư, nếu kiêm nhiệm thủ quỹ, thủ kho, dễ dẫn đến việc tham ô, xuất nhập tiền, vật tư sai quy định của pháp luật và tổ chức đó.

Điều này ai cũng biết. Tương tự, trong tư pháp, nếu công an viên là người làm thủ tục và thực thi việc bắt giam, điều tra, xét hỏi kẻ bị họ nghi là có tội (hành vi này tương tự như kế toán viên làm thủ tục “xuất, nhập” tiền và vật tư), lại trực tiếp quản lý trại giam cả trong giai đoạn chưa thành án và giai đoạn sau thành án (tương tự như thủ kho, thủ quỹ), thì việc oan sai và dùng nhục hình trong điều tra xét hỏi và cả trong giai đoạn thi hành án (sau khi bản án do toàn án tuyên có hiệu lực) là dễ xảy ra như ta đã thấy.

Vì vậy, trại giam phải luôn do ngành tư pháp quản lý. Người quản lý trại giam thuộc bộ hay sở tư pháp đương nhiên sẽ phải quản lý cả kẻ bị nghi có tội và phạm nhân theo theo luật và quy chế của trại giam. Công an viên điều tra, xét hỏi kẻ bị nghi có tội đến xét hỏi ở trại giam dưới sự giám sát, thực thi quy chế quản lý của người quản lý trại giam thuộc ngành tư pháp. Họ không bao giờ để cho công an viên điều tra dùng nhục hình ép cung kẻ bị nghi có tội. Sau khi thành án, người quản lý trại giam không bao giờ lại ép tù nhân phải nhận thêm tội này hay tội khác. Tội của họ chỉ duy nhất có trong bản án có hiệu lực pháp lý do tòa án tuyên.

Tôi còn nhớ năm 1976, tòa của Hà Nội xử ông Tạ Đình Đề. Bà Phùng Lê Trân chủ tọa phiên tòa đã hỏi ông Đề (đại ý): Sao trong tù anh đã khai nhận tội, nay lại phản cung, bác lại tất cả lời khai trước đây đã ghi trong hồ sơ vụ án?

Ông Đề đã điềm tĩnh trả lời dõng dạc: Thử hỏi, nếu tôi không nhận hết tội theo ý điều tra viên thì liệu có phiên tòa hôm nay không? Mà theo luật, lời khai trước tòa có giá trị pháp lý cao hơn lời khai trong trại giam.

Việc dùng nhục hình bức cung đã xảy ra phổ biến từ khi trại giam do Bộ Công an quản lý. Hiện nay, có người đề xuất giao lại trại giam cho Bộ Tư pháp quản lý, nhưng không được chấp nhận với lý do là Bộ Tư pháp không có đủ bộ máy nhân sự để quản lý trại giam (?). Thử hỏi, thời kháng chiến chống Pháp, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được hình thành, tại sao Bộ Tư pháp đã quản lý trại giam tốt như vậy, cải tạo tù nhân, chứ không biến họ thành kẻ căm thù đời, trả thù đời.

Ở các nước phát triển, nhà tù còn do tư nhân đầu tư xây dựng và quản lý. Chính phủ hay tòa án đã thuê các nhà tù tư nhân giam giữ, cải tạo tù nhân, làm giảm gánh nặng cho ngân sách và bộ máy nhà nước. Bây giờ, điều đó người ta gọi bằng mỹ từ “xã hội hóa”, thay vì “tư nhân hóa” các hoạt động của xã hội dân sự dưới sự quản lý của nhà nước pháp quyền.

2. Tòa án được thiết lập theo vùng.

Để tránh sự can thiệp của cơ quan hành pháp (chính quyền các cấp huyện, tỉnh), người ta thành lập tòa án ba cấp theo vùng, không theo đơn vị hành chính. Tùy theo qui mô dân số và yếu tố địa lí, giao thông, các tòa án sơ thẩm liên huyện, phúc thẩm liên tỉnh được thiết lập. Và bên cạnh mỗi tòa án là Viện Công tố chứ không phải là Viện Kiểm sát vừa đóng vai trò công tố (buộc tội) vừa đóng vai trò kiểm tra hoạt động tư pháp theo kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

3. Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, nhưng không theo nhiệm kì Quốc hội hay Chủ tịch nước. Chế độ thẩm phán suốt đời đảm bảo tính độc lập xét xử của họ. Họ chỉ bị bãi nhiệm khi không còn đủ sức khỏe hay phạm tội do một tòa án riêng xét xử.

4. Việc bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao năng lực của thẩm phán do ngành tư pháp đảm nhiệm, nhất là bồi dưỡng theo phương pháp tình huống (case study), phân tích đánh giá các án lệ… Trong thời gian làm Giám đốc Tư pháp Khu 10, ba tôi đã rất tích cực va thành công trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của thẩm phán các tòa án trong Khu 10. Rất tiếc là sau cuộc tranh luận với ông Quang Đạm trên báo Sự thật về vai trò độc lập của tư pháp, ba tôi đã không còn giữ chức Giám đốc Tư pháp Khu 10 nữa.

5. Để thật sự chống dùng nhục hình ép cung, việc xét hỏi, lập hồ sơ vụ án của điều tra viên phải được thực hiện khi có luật sư; biên bản lấy cung phải có chữ kí của luật sư sẽ mới có giá trị pháp lý. Ước muốn này có “xa xỉ” quá không?!

Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối, Chánh án Tòa án Tối cao phải là nhân vật số ba, chỉ sau Tổng bí thư và Chủ tịch nước (Viện trưởng Viện Công tố – không phải là Viện Kiểm sát như hiện nay – hay còn gọi là Chưởng lí tại Tòa án Tối cao và Bộ trưởng Bộ Công an chỉ có thể là ủy viên Trung ương Đảng). Duy nhất chỉ có Tòa án mới có quyền ra lệnh bắt tạm giam và khởi tố nghi can. Công an chỉ có quyền bắt “nóng” nghi can trong trường hợp quả tang và sau 24 giờ phải xin lệnh bắt tạm giam và khởi tố bị can của Tòa án (hiện nay cả ba cơ quan Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền ra lệnh khởi tố vụ án và bắt tạm giam nghi can, mà thông thường chỉ có Công an ra quyết định khởi tố vụ án và bắt tạm giam nghi can).

Tất cả các qui định trên đây thật đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và đã thực hiện ở nước ta từ trước năm 1960. Nhưng không hiểu vì sao, những nhà cải cách tư pháp hiện nay vẫn chưa “ngộ”. Những điều này còn chưa được chấp nhận trong cải cách tư pháp, sửa đổi luật tố tụng hình sự, thì quyền được im lặng của người bị nghi có tội khó có thể được Bộ Công an và Quốc hội chấp thuận. Bao giờ nguyên tắc “sót còn hơn sai”, “suy đoán vô tội” sẽ được tôn trọng, từ khâu khởi tố, bắt tạm giam, điều tra xét hỏi, xử án, tuyên án, giam giữ phạm nhân???

Bao giờ có sự tranh luận bình đẳng giữa công tố viên buộc tội và luật sư bào chữa gỡ tội? Và bao giờ kết quả tranh luận này là cơ sở quan trọng nhất để tòa án tuyên án??? Bao giờ cho đến ngày xưa, cái thời tôi bị làm “vật cá độ” ấy??

Khó lắm thay. Tại cái nước mình nó thế!

11/2014

V. T. K.

Tác giả gửi BVN.