Muốn vươn mình về kinh tế, cần dựa nhiều hơn vào kỹ trị

Nguyễn Ngọc Chu  

13.1.2026

Toàn dân đang mong đợi một sự thay đổi căn bản. Đại hội XIV tuần tới cần sự hiển diện của nhiều nhà kỹ trị trong BCHTƯ, đặc biệt là trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của Nhà nước. Thời bình khác với thời chiến. Thời bình cần kỹ trị. Kỹ trị không phải do văn hóa Á Đông hay phương Tây.

Biết là rất khó. Nhưng đừng bỏ cuộc.

I. KỸ TRỊ 

Quản trị quốc gia trong thời chiến và thời bình rất khác biệt. Thời chiến là sống còn, phải hy sinh lợi ích cá nhân cho quyền lợi quốc gia. Thời chiến đòi hỏi tập trung quyền lực, quyết định nhanh, kỷ luật sắt để sinh tồn. Hiệu quả được đo bằng thắng - bại, sống - chết. Thời bình lấy phồn thịnh làm mục tiêu xuyên suốt nên phải đặt trọng tâm vào kỹ trị: Quản lý bằng dữ liệu, luật lệ và năng lực chuyên môn. Quốc gia cần các kỹ trị gia (technocrat) để thiết kế chính sách kinh tế, tài chính, y tế, giáo dục; tối ưu nguồn lực; kiểm soát rủi ro dài hạn. Phát triển bền vững không đến từ mệnh lệnh, mà từ hệ thống, quy trình và trách nhiệm giải trình. Thời bình rất cần lãnh đạo có năng lực kỹ trị. Các quốc gia phát triển và giàu có trong thời bình đều dựa nhiều vào các kỹ trị gia. Thử điểm qua một số các quốc gia điển hình. 

A screen shot of a computer

AI-generated content may be incorrect.

Pháp là mô hình kỹ trị kinh điển châu Âu. Quyền lực nhà nước tập trung vào tầng lớp tinh hoa được đào tạo tại các trường như Trường Hành chính Quốc gia (ENA), Trường Bách khoa Paris (Polytechnique). Kỹ trị gia Pháp giữ các vị trí then chốt trong bộ máy hành chính, tài chính và hoạch định chính sách. Tổng thống và thủ tướng thường xuất thân từ hệ thống này. Dù Pháp là nền dân chủ, nhưng chính sách công chủ yếu do elite (tinh hoa) kỹ trị thiết kế, chính trị gia đóng vai trò hợp thức hóa. Nhược điểm là xa rời quần chúng, dễ gây phản ứng dân túy.

Đức vận hành theo mô hình kỹ trị thực dụng. Quyền lực không tập trung vào một elite nhỏ, mà phân bổ trong hệ thống công vụ chuyên nghiệp, ngân hàng trung ương độc lập, hội đồng khoa học và các viện nghiên cứu. Kỹ trị gia Đức có ảnh hưởng lớn trong chính sách tài khóa, công nghiệp, năng lượng. Quy trình ra quyết định chậm, dựa trên dữ liệu, đồng thuận và chuẩn mực pháp lý. Kỹ trị gia ở Đức không thống trị chính trị, nhưng giữ vai trò “phanh an toàn”, ngăn chính sách cảm tính.

Nhật Bản là mô hình kỹ trị hành chính chuyên nghiệp. Bộ máy công vụ chuyên nghiệp. Tuyển chọn bằng thi cử khắt khe. Làm việc theo luật lệ quy trình. Quyền lực thực tế nằm trong tay các bộ như Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, Bộ Tài chính, với đội ngũ quan chức sự nghiệp có chuyên môn cao. Chính trị gia thay đổi, nhưng chính sách cốt lõi có tính liên tục cao do kỹ trị gia thiết kế. Kỹ trị gia Nhật ưu tiên ổn định, tăng trưởng dài hạn và điều phối công nghiệp. Nhược điểm là chậm cải cách, dễ hình thành “nhà nước trong nhà nước”, nhưng hiệu quả cao trong quản lý kinh tế – công nghiệp.

Anh từng có truyền thống kỹ trị công vụ mạnh, với công vụ (Civil Service) trung lập và Ngân hàng Trung ương độc lập. Technocrat giữ vai trò then chốt trong quản lý tài chính, hành chính và chính sách xã hội. Tuy nhiên, từ sau Brexit, chính trị dân túy gia tăng, chuyên gia bị nghi ngờ, nhiều quyết sách vượt qua khuyến nghị kỹ thuật. Technocracy Anh không biến mất, nhưng vai trò suy yếu, phải nhường chỗ cho tranh luận chính trị và cảm xúc cử tri, làm giảm tính ổn định và dự báo của chính sách.

Trung Quốc là mô hình kỹ trị dưới sự lãnh đạo của đảng. Technocrat giữ vai trò trung tâm trong quản lý kinh tế, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ. Lãnh đạo cấp cao thường xuất thân là kỹ sư, kinh tế, quản trị, và thăng tiến dựa trên thành tích quản lý. Tuy không độc lập chính trị, technocrat Trung Quốc có quyền triển khai rất lớn, được trao nguồn lực và quyền lực thực thi. Kỹ trị ở đây là công cụ cai trị chủ lực, không chỉ là tư vấn.

Khác với Phương Tây dùng technocrat để “kiểm soát” chính trị, còn Trung Quốc dùng technocrat để “vận hành” quyền lực, thì Việt Nam không phải technocracy, mà thiên về hành chính - chính trị. Việt Nam KHÔNG vận hành theo mô hình kỹ trị. Chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư chủ yếu đóng vai trò tư vấn, không có quyền quyết định cuối cùng. Quyền lực tập trung vào hệ thống chính trị – tổ chức, trong đó yếu tố ổn định, an toàn và đồng thuận nội bộ được ưu tiên hơn hiệu quả kỹ thuật. Việc tuyển chọn và thăng tiến cán bộ không dựa chủ yếu trên Chỉ số đánh giá hiệu quả then chốt (KPI: Key Performance Indicator) hay thành tích chuyên môn quy mô lớn. Thăng tiến chủ yếu theo hệ thống chính trị – tổ chức, không theo năng lực kỹ trị thuần. Do đó, technocrat ở Việt Nam không hình thành tầng lớp quyền lực độc lập, mà phụ thuộc vào quyết định chính trị. Quyền lực không trao cho chuyên gia độc lập. Chuyên gia tư vấn không phải là người quyết định cuối. Kỹ trị tồn tại rải rác nhưng không trở thành trụ cột quyền lực. Một cách ngắn gọn – Việt Nam có chuyên gia, nhưng không có “kỹ trị gia nắm quyền”.

II. KHÁC BIỆT CỐT LÕI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC VỀ KỸ TRỊ 

Tuy tương đồng về thể chế, nhưng giữa Việt Nam và Trung Quốc có những khác biệt cốt lõi về kỹ trị. Sau đây xin viện dẫn ra 5 khác biệt cơ bản.

Thứ nhất, vai trò của chuyên gia. Tại Trung Quốc, technocrat giữ vai trò trung tâm trong hoạch định và triển khai chính sách, đặc biệt ở kinh tế, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ. Ở Việt Nam, chuyên gia chủ yếu tư vấn, quyền quyết định cuối cùng thuộc về hệ thống chính trị - tổ chức.

Thứ hai, cơ chế tuyển chọn và thăng tiến. Trung Quốc đề cao năng lực quản trị thực tế, thăng tiến qua các cấp địa phương lớn với KPI rõ ràng. Việt Nam ưu tiên quy trình chính trị và tổ chức, đánh giá cán bộ mang tính định tính, ít gắn chặt với kết quả kỹ thuật.

Thứ ba, mức độ trao quyền. Technocrat Trung Quốc được trao quyền thực thi mạnh, kèm trách nhiệm và chế tài rõ ràng. Ở Việt Nam, technocrat không có quyền độc lập, dễ bị vô hiệu hóa khi va chạm lợi ích hoặc rủi ro chính trị.

Thứ tư, quy hoạch dài hạn. Trung Quốc vận hành bằng chiến lược dài hạn và kế hoạch hóa cứng. Việt Nam thiên về linh hoạt, điều chỉnh ngắn hạn, tránh xung đột hệ thống.

Thứ năm, chức năng của kỹ trị. Ở Trung Quốc, technocracy là công cụ cai trị chủ lực. Ở Việt Nam, kỹ trị chỉ là công cụ hỗ trợ, không phải nền tảng quyền lực.

Để thấy thêm sự khác biệt Việt Nam - Trung Quốc về kỹ trị, xin lấy thí dụ về một số nhân sự ở tầng lớp lãnh đạo cao cấp.

Lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc Tập Cận Bình là một kỹ trị quản trị quy mô lớn. Xuất thân là cử nhân hoá học đại học Thanh Hoa – số 1 Trung Quốc và top 30 danh tiếng quốc tế trong khoa học và công nghệ. Sau đó có bằng tiến sĩ luật - quản trị. Điểm kỹ trị nổi bật thể hiện chiến lược tập trung vào công nghệ lõi, và quản trị bằng dữ liệu, chỉ số, kiểm soát, chứ không bằng các diễn văn chính trị. Ông Tập Cận Bình không phải là technocrat thuần tuý mà là technocrat quyền lực cao độ.

Thủ tướng Trung Quốc (1998-2003) Chu Dung Cơ là nhà kỹ trị đích thực. Ông là kỹ sư điện với bằng thạc sĩ kinh tế kỹ thuật – cũng từ đại học Thanh Hoa danh tiếng. Dấu ấn kỹ trị của ông nổi trội qua các cải cách doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, cùng các giải pháp kỹ thuật - tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng và trực tiếp chỉ đạo đàm phán gia nhập WTO bằng số liệu. Các quyết định của Chu Dung Cơ mang tính kỹ thuật cao, không màu sắc vận động chính trị. 

Thủ tướng Trung Quốc (2003-2013) Ôn Gia Bảo là kỹ sư địa chất của đại học Bắc Kinh – danh tiếng số 2 Trung Quốc và thuộc nhóm top 40 thế giới. Đi lên từ quản lý chuyên ngành, sau đó điều hành toàn bộ nền kinh tế trong khủng hoảng tài chính 2008 bằng gói kích cầu kỹ thuật khổng lồ. Thiết kế chính chính sách an sinh dựa trên dữ liệu dân sinh chứ không bằng các diễn văn cổ động. Từ kỹ sư chuyển hóa thành nhà quản trị vĩ mô.

Thủ tướng Trung Quốc (2013-2023) Lý Khắc Cường là cử nhân luật và tiến sĩ kinh tế của đại học Bắc Kinh danh giá. Ông là thủ tướng mang dấu ấn kỹ trị rõ rệt nhất của Trung Quốc thời hậu cải cách. Những thành tựu nổi bật mang tính kỹ trị, bao gồm – nhưng không phải tất cả: Thúc đẩy “cải cách cơ cấu phía cung”; Khởi xướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm giấy phép; Ủng hộ kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đổi mới sáng tạo; Đề cao dữ liệu, chỉ số kinh tế thực (điện, vận tải, tín dụng – “chỉ số Lý Khắc Cường”). Lý Khắc Cường nổi bật với phong cách điều hành thực chứng, ít ý thức hệ. Ở nhiệm kỳ sau, dư địa hành động của Lý Khắc Cường bị thu hẹp, do sự tập trung quyền lực cao vào Tập Cận Bình.

Tóm lại, các lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đều là các nhà kỹ trị, được đào tạo bài bản tại các đại học danh tiếng hàng đầu quốc tế. Họ đi lên qua năng lực quản trị thực tế được xác định bởi các chỉ số đánh giá hiệu quả then chốt (KPI). Điều này làm nên sự khác biệt về chất lượng nhân sự quản trị giữa Trung Quốc với Việt Nam. 

Cuối cùng, nhưng chưa hết, là khác biệt về chiến lược: Trung Quốc dùng chuyên gia để cai trị; Việt Nam dùng chính trị để điều phối chuyên gia.

KỲ VỌNG

Toàn dân đang mong đợi một sự thay đổi căn bản. Đại hội XIV tuần tới cần sự hiển diện của nhiều nhà kỹ trị trong BCHTƯ, đặc biệt là trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của Nhà nước. Thời bình khác với thời chiến. Thời bình cần kỹ trị. Kỹ trị không phải do văn hóa Á Đông hay phương Tây.

Biết là rất khó. Nhưng đừng bỏ cuộc.

N.N.C.

Tác giả gửi BVN

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn