Ba thách thức khi hai viện hàn lâm chuyển sang “kênh đảng”

PGS. Vương Xuân Tình

Tiếp theo việc Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế TW (CIEM), một viện nghiên cứu có nhiều năm đóng góp cho chiến lược và chính sách kinh tế của Việt Nam từ thời trước “Đổi mới” được chuyển về bên đảng (và nằm dưới ban Chiến lược và Chính sách TW) thì tới hai viện hàn lâm khoa học quốc gia, có thể coi là hai tổ chức nghiên cứu khoa học lớn nhất Việt Nam, cũng được chuyển về do đảng quản lý.

Mô hình này quả là có một không hai. Ngay ở TQ có mô hình nhất thể hoá cao độ thì Viện Khoa học TQ và Viện KHXH TQ cũng thuộc Quốc vụ viện (tức chính phủ) chứ ko thuộc về bên đảng.

Mình hiểu là có lẽ lãnh đạo bên đảng muốn có sự tham vấn chặt chẽ hơn về các chiến lược, chính sách KHCN và KHXH cho Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình, nhưng dường như cách làm này không giống ai, chưa từng có (thậm chí cả ở Liên Xô cũ) và có thể ảnh hưởng đến tính độc lập trong nghiên cứu và có thể là cả vị thế của các nhà nghiên cứu trong môi trường quốc tế.

Ba thách thức mà PGS. Vương Xuân Tình ở VIện Hàn lâm KHXH Việt Nam nêu ra đều rất hợp lý.

Hoang Vu Linh

PGS Tinh Vuong Xuan nói rất chuẩn! Nếu chuyển đổi mà không bảo vệ quyền tự chủ viện nghiên cứu thì năng lực khoa học sẽ yếu đi, chưa kể áp lực về định hướng tư tưởng, tính phản biện và độc lập khoa học. Nếu bị nhìn nhận là “cơ quan nghiên cứu mang tính chính trị cao”, có thể khó tham gia các mạng lưới nghiên cứu độc lập quốc tế. Đảng đã có Học viện CTQGHCM với các Viện nghiên cứu tương đương với Viện Hàn lâm KHXH rồi mà vẫn muốn có thêm các Viện Hàn lâm nhỉ?

Tran Minh Hang

Khi có thông tin chính thức: kể từ ngày 1/4/2026, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam sẽ không còn do Chính phủ quản lý mà chuyển sang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã xuất hiện một số ý kiến – phần nhiều là trên mạng xã hội. Có ý thì trực diện, có ý lại bâng quơ, chẳng ra vui mừng hay “tâm tư”. Tôi vốn là người có gần 40 năm công tác ở Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, nhân dịp này xin có đôi điều chia sẻ.

Tôi nghĩ, giờ là lúc chẳng thể bàn nên hay không nên của việc chuyển đổi đó. Bởi vậy, tôi chỉ nêu lên ba thách thức, chí ít là cho Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nơi tôi có kinh nghiệm công tác. Còn với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, xin các bác, các anh chị quan tâm góp thêm ý kiến. Cũng xin nói rõ, là tôi không nói thuận lợi vì ai chẳng thấy, mà chỉ đề cập đến thách thức, bởi khi nhiều thuận lợi lại dễ sinh chủ quan.

Ba thách thức đó là:

1. Có đảm bảo tự do học thuật thực sự hay không?

Đảm bảo “thực sự” nhé. Ai cũng biết, khoa học thì không phải trại lính hay cái đồn công an, mà phải có tự do học thuật mới phát triển tốt được. Tự do học thuật – nói nôm na là tự do bày tỏ quan điểm khoa học mà không bị cấm, bị chặn ngay từ khi hình thành ý tưởng. Trước ngày 1/4/2026, có thể tự do học thuật ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam còn hạn chế nọ kia, nhưng không phải không có. Tôi lấy ví dụ gần đây nhất. Khi cuộc chiến tranh Nga - Ucraine nổ ra, trên bình diện truyền thông chính thống, nếu không “bênh” Nga, cũng ít người vạch ra sai lầm của Nga, đặc biệt trong lý luận. Vậy nhưng GS.TS. Hồ Sĩ Quý (nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm KHXH VN) lại tung ra bài “Học thuyết Tân Á-Âu của Aleksandr G. Dugin và hệ lụy địa chính trị của nó”, đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học xã hội. Tôi đánh giá cao tầm khoa học của bài này, song còn ngưỡng mộ sĩ khí của ông Quý. Tôi lại càng ngưỡng mộ lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam khi tiếp tục đưa bài ấy lên Website của Viện Hàn lâm. Tóm lại, đây là bằng chứng của tự do học thuật.

Thêm một chút so sánh để đánh giá của tôi không quá lời và gắn với câu hỏi nêu trên. Mấy năm trước, tôi được một tạp chí lớn của “kênh đảng” đặt bài về vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Theo cách làm khoa học, tôi phải tổng quan và nhận định về chủ nghĩa này trên thế giới. Song với phần nhận định về chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc thì tạp chí đề nghị tôi bỏ. Trong khi đó, nếu đăng trên Tạp chí Dân tộc học hay các sách xuất bản của Nhà xuất bản Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm KHXH VN) lại chẳng có vấn đề chi.

2. Có đảm bảo cho nghiên cứu cơ bản tốt hay không?

Tôi biết và chia sẻ với nhiều ý kiến cho rằng, nghiên cứu là phải có sản phẩm rõ ràng, tức ứng dụng được vào thực tế, hay nôm na là “ra tiền”. Điều này không sai, song chưa đủ. Bởi “thực tế” là thực tế nào? Cái đang diễn ra trước mắt, hay còn gắn với cả một quá trình phát triển? “Ra tiền” thì hay rồi, nhưng có thứ nghiên cứu không ra tiền, hoặc chưa ra tiền ngay, cũng không phải đồ bỏ đi. Ví dụ, hai tuyệt tác của nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là Hoa văn MườngCơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ thì chẳng có mấy giá trị nếu xét “ứng dụng vào thực tế” như đa số vẫn quan niệm, nhưng lại là một tri thức cơ bản vô cùng quan trọng cho bất cứ ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu về hai tộc người Mường và Việt.

Vậy khi các cán bộ của Viện Hàn lâm vốn có thế mạnh về nghiên cứu cơ bản lại phải đáp ứng yêu cầu “phục vụ chính sách”, thì nghiên cứu cơ bản được xem là thế nào?

3. Có hội nhập quốc tế tốt hay không?

Việc hội nhập quốc tế trong khoa học ở Việt Nam được bàn hàng mấy chục năm nay rồi. Có nhiều khía cạnh của hội nhập quốc tế, trong đó rõ nhất là tiếp nhận cả những nhà khoa học nước ngoài làm thành viên cơ hữu, thậm chí là người đứng đầu một viện nghiên cứu. Chuyện này ở các nước chẳng có vấn đề gì. Song với Việt Nam thì chông gai lắm. Nếu Viện Hàn lâm vẫn tại vị, cũng chưa biết khi nào mới thực hiện nổi do cơ chế. Nay lại chuyển sang “kênh đảng”, có coi đây là dấu hiệu “chấm hết” cho việc ấy? Ngoài ra, còn nhiều vấn đề hợp tác quốc tế khác rất dễ bị “vênh”.

Ba thách thức tôi nêu có thể là vớ vẩn. Mong các cao nhân chỉ giáo.

V.X.T.

Nguồn: TB Tinh Vuong Xuan

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn