Mỹ Trung “cặp đôi hoàn cảnh” ai sẽ thắng ai?

Nguyễn Thành

Sau khi đi qua năm phần của cấu trúc này, một bức tranh khác xuất hiện so với các bài tuyên truyền một chiều ở cả hai bên thường vẽ. Trung Quốc không phải con hổ giấy sắp sụp đổ, cũng không phải gã khổng lồ đang lật đổ trật tự thế giới. Mỹ không phải đế chế giãy chết, cũng không phải kẻ kiểm soát hoàn toàn cuộc chơi. Cả hai đều đang đứng trong một cái bẫy cấu trúc mà chính họ đã cùng nhau xây dựng qua bốn thập kỷ.

Bẫy của Trung Quốc nằm ở chỗ cấu trúc nội tại đã định hình quá sâu để có thể đột ngột chuyển sang mô hình tiêu dùng nội địa. Mọi giải pháp thực sự đòi hỏi chia lại miếng bánh giữa nhà nước, doanh nghiệp lớn và người dân, nghĩa là đụng vào cấu trúc quyền lực cốt lõi. Các nhóm lợi ích lớn không tự nguyện chia bớt phần của họ, các doanh nghiệp nhà nước không tự nguyện thu hẹp, các chính quyền địa phương không tự nguyện từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư hạ tầng và bất động sản. Cải cách thực sự đòi hỏi đụng đến quyền lực, và đó là thứ khó nhất với một hệ thống chính trị xây dựng trên tập trung quyền lực ở đỉnh.

Bẫy của Mỹ nằm ở chỗ phụ thuộc vào Trung Quốc về sản xuất, khoáng sản chiến lược, năng lực chế biến hóa học, đã đan vào kinh tế Mỹ sâu hơn nhiều so với những gì cử tri Mỹ bình thường nhận ra. Cắt đột ngột Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng Mỹ sẽ gây sốc giá, lạm phát, gián đoạn ở nhiều ngành chiến lược. Mỹ có thể tái thiết năng lực nội địa, nhưng quá trình đó tốn rất nhiều năm và rất nhiều tiền, trong khi áp lực chính trị ngắn hạn của nền dân chủ buộc các chính quyền phải có kết quả nhanh nếu không sẽ bị loại tại các cuộc bầu cử.

Khi hai bên cùng đứng trong bẫy cấu trúc do chính mình tạo ra, mọi chiến lược ngắn hạn của một bên đều có hiệu ứng ngược lên chính mình. Mỹ áp thuế cao thì Trung Quốc tìm đường vòng qua các nước thứ ba, nhưng cũng làm giá hàng tiêu dùng ở Mỹ tăng, ảnh hưởng đến lạm phát và sức mua của người dân Mỹ. Trung Quốc hạn chế đất hiếm thì gây sức ép lên Mỹ, nhưng cũng đẩy thế giới đầu tư vào nguồn cung thay thế, làm xói mòn vị thế độc quyền dài hạn của Trung Quốc. Mỗi đòn đánh đều mang theo phản đòn lên chính người đánh, vì hai bên đã không còn là hai cơ thể độc lập.

Từ khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung khởi phát từ năm 2018 đến bây giờ thì chúng ta đã và đang chứng kiến một trật tự thế giới mới hình thành. Kỷ nguyên toàn cầu hóa từ sau chiến tranh lạnh do Mỹ dẫn dắt đã bước vào hồi kết.

Trung Quốc đang nổi lên với tư cách là một siêu cường mạnh hơn bất cứ một đối thủ địa chính trị nào trước đó của Mỹ, họ bắt đầu chuyển từ chiến lược "Thao quang dưỡng hối" với tư thế của kẻ náu mình chờ thời sang chiến lược "Quật khởi hòa bình" bước ra chính diện chính thức thách thức vị thế siêu cường của Mỹ, quyết tâm thực hiện bằng được "Trung Hoa Mộng" giấc mơ khôi phục vị thế số một của đế chế Trung Hoa trong lịch sử.

Chính sự vươn lên mạnh của Trung Quốc và sự suy yếu của Mỹ đã làm cho giới tinh hoa chính trị, tài chính, công nghệ Mỹ bàng hoàng thức tỉnh và chủ động tái cấu trúc lại chuỗi cung ứng toàn cầu, thực hiện bước tiến ngăn chặn sự bành trướng thế lực của Trung Quốc với việc nỗ lực tách họ ra khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu và thương chiến Mỹ Trung đã châm ngòi cho quá trình decoupling (tách rời), phân chia thế giới tưởng chừng đã nhất thể hóa trong giai đoạn toàn cầu hóa trước đây trở thành 2 hệ thống thế giới riêng.

Đây là tiến trình không thể đảo ngược vì Trung Quốc hiện tại tuy ở thế vươn lên nhưng chưa đủ mạnh để vượt qua Mỹ, chứ chưa nói đến việc thay thế Mỹ, còn Mỹ tuy suy yếu nhưng cũng không yếu đến mức để đánh mất sự kiểm soát. Và trong cuộc chơi này, khi hai con hổ không thể ở cùng một ngọn núi, thì decoupling chia đôi thiên hạ sẽ là lựa chọn duy nhất cho kẻ mạnh hơn, người có nhiều lựa chọn hơn là Mỹ.

Chính vì vậy, dù đảng Cộng hòa và Dân chủ đối lập nhau về nhiều thứ, Trump và Biden có thể chế giễu, công kích nhau trên nhiều phương diện, nhưng họ lại đều vô cùng nhất quán trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc.

Gần 8 năm qua, những cuộc đối đầu căng thẳng, xung đột rồi hòa hoãn giữa 2 quốc gia này luôn khiến cho người dân thế giới đặt câu hỏi quen thuộc là bên nào mạnh hơn, bên nào sẽ thắng, ai đang ép ai. Câu hỏi này có vẻ tự nhiên, nhưng nó dựa trên một khung tư duy có thể đang đánh lừa chúng ta. Khung ấy mô phỏng cuộc đối đầu Mỹ Trung như hai võ sĩ trên võ đài, mỗi bên có lực riêng, đòn riêng, chiến thuật riêng, và trận đấu sẽ kết thúc bằng việc một bên hạ knock-out bên kia.

Điều này bắt nguồn từ cơ chế sinh học của bộ não tiến hóa để ưu sinh tồn nên con người có thói quen nhìn nhận sự việc theo lối nhị nguyên, phân tích mọi thứ theo cách đơn giản trắng và đen, mạnh và yếu etc.. thay vì nhìn thấy quan hệ Mỹ và Trung Quốc cũng như hệ thống thế giới là một chỉnh thể phức hợp với những mối quan hệ đan xen chồng chéo, ràng buộc lẫn nhau

Thực tế của bốn thập kỷ qua, quan hệ Mỹ - Trung vốn là mối quan hệ lớn nhất đã hình thành nên trật tự thế giới, là quá trình hình thành một cấu trúc khác hẳn với những gì mà câu hỏi trên đặt ra. Mỹ và Trung Quốc không còn là hai nền kinh tế độc lập có thể đánh nhau như hai võ sĩ. Họ đã trở thành hai nửa của một cơ thể chung, mỗi nửa có chức năng riêng, nhưng tách ra mà còn sống được thì không bên nào tự tin.

Đó chính là lý do tại sao sau bao nhiêu căng thẳng, xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc, biểu hiện qua cuộc bắt cóc cựu Tổng thống Maduro của Venezuela và chiến tranh Iran dẫn đến khủng hoảng ở eo biển Hormuz, chúng ta lại thấy Trump và phái đoàn Mỹ đến thăm Trung Quốc.

Bài viết này mổ xẻ cấu trúc quan hệ phức tạp, chồng chéo vừa hợp tác vừa cạnh tranh của hai siêu cường sẽ cho thấy vì sao chính khung "ai thắng ai" đang ngăn chúng ta nhìn ra bản chất thật của cái đang diễn ra.

Câu chuyện bắt đầu từ hoạt động "ngoại giao bóng bàn" giữa các đội tuyển thể thao hai nước để xích lại gần nhau và sự kiện Nixon tới thăm Trung Quốc vào năm 1973, chấm dứt thế đối đầu giữa 2 nước, mở ra thời kỳ hợp tác giữa 2 đối thủ ý thức hệ truyền kiếp.

Chính điều này đã mở đường cho một quyết định chiến lược năm 1978 được dẫn dắt bởi Đặng Tiểu Bình sau khi ông quay trở lại nắm đại quyền trong bộ máy Trung Nam Hải. Và chiến lược đó kéo dài qua bốn mươi năm, tạo ra phép màu tăng trưởng nhanh nhất lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, cũng chính chiến lược này đã đặt Trung Quốc, người xây nên phép màu đó, vào một cái bẫy mà chính họ không nhìn ra lối thoát đơn giản.

I. Cỗ máy thành tựu xây có nền tảng từ đâu?

Từ trước đến giờ, người ta đều nói rất nhiều về việc sự thần kỳ của Trung Quốc đến từ cải cách mở cửa, cải cách mở cửa giúp Trung Quốc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh chóng ở tốc độ thần kỳ và sau đó bước vào giai đoạn sao chép và làm chủ tri thức công nghệ và vươn lên trở thành cường quốc công nghệ dẫn đầu nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên cải cách mở cửa không thôi sẽ không tạo nên được công nghiệp hóa, để có thể tiến hành công nghiệp hóa thì tiền đề bắt buộc lại là phải có vốn, đây là điều mà phần lớn mọi người đều quên, kể cả các nhà kinh tế, những chuyên gia về kinh tế Trung Quốc trong và ngoài nước Trung Quốc đều không nói về vấn đề này một cách trực tiếp, trước đây mình cũng không để ý điều này và tình cờ sau này khi nghiên cứu về kinh tế Liên Xô mình lại tìm thấy một ẩn số tương tự trong việc biến Trung Quốc thành siêu cường từ pattern cũ trong quá trình công nghiệp hóa Liên Xô. Vì thế, tạm thời xin quay ngược đồng hồ để quay trở lại với bối cảnh Liên Xô đầu thập niên 1920 trước khi tiếp tục chủ đề về Trung Quốc và Mỹ.

Sau khi giành được chính quyền thì Lenin nhận ra rằng công nghiệp hóa là con đường duy nhất để nhà nước Soviet non trẻ có thể đuổi kịp các cường quốc tư bản phương Tây nên ông đã đưa ra một khẩu hiệu rất rõ ràng gắn chặt với công nghiệp hóa đó là:

Chủ nghĩa cộng sản = Chính quyền Soviet + Điện khí hóa toàn quốc

Tuy nhiên thời kỳ Lenin còn sống thì đất nước Soviet chưa trải qua thời kỳ công nghiệp hóa mạnh mẽ, bằng tư duy thực dụng Lenin đã nhìn ra rằng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn đầu chính là chủ nghĩa tư bản nhà nước và ông cho áp dụng chính sách kinh tế mới NEP chính là một dạng kinh tế thị trường, bây giờ Trung Quốc đưa thêm các nội dung như kinh thế thị trường mang màu sắc Trung Quốc hay ở Việt Nam là kinh tế thị trường định huống xã hội chủ nghĩa thì đều vẫn là những biến thể khác học lại từ NEP mà Lenin đã thực hiện từ năm tháng 3 năm 1921.

Điều trớ trêu là quá trình công nghiệp hóa ở Liên Xô mạnh mẽ nhất lại không diễn ra trong thời gian Lenin sống, mà nó được bắt đầu dưới thời Stalin, người đã chấm dứt NEP vào năm 1928 để bắt đầu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất theo kiểu kinh tế tập trung nhằm tăng tốc xây dựng tiềm lực công nghiệp của Liên Xô. Và quá trình này đương nhiên cũng phải có cơ sở lý luận của nó, và cơ sở lý luận ấy là học thuyết của Yevgeni Preobrazhensky, gọi là "Tích luỹ nguyên thuỷ xã hội chủ nghĩa".

Trong cuốn sách "Tân Kinh tế học" (Новая экономика, "The New Economics") xuất bản năm 1926, Preobrazhensky đề xuất khái niệm "Tích luỹ nguyên thuỷ xã hội chủ nghĩa" (социалистическое первоначальное накопление, socialist primitive accumulation). Ông lập luận rằng nước Nga Soviet là một nước nông nghiệp lạc hậu, muốn xây dựng nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa thì cần vốn. Vốn này không thể vay từ tư bản nước ngoài vì có đối đầu về ý thức hệ, không thể có thuộc địa vì là nước cách mạng chống đế quốc. Vậy phải lấy từ đâu?

Câu trả lời của ông là lấy từ khu vực nông nghiệp tư nhân (chủ yếu là nông dân) thông qua trao đổi không tương đương (неэквивалентный обмен, non-equivalent exchange) giữa giá nông sản và giá hàng công nghiệp. Nhà nước mua nông sản giá thấp, bán hàng công nghiệp giá cao, lấy chênh lệch làm vốn.

Khái niệm này dựa trên ý tưởng "tích luỹ nguyên thuỷ" (primitive accumulation) của Marx trong tập 1 của Bộ Tư bản, nhưng Preobrazhensky áp dụng nó vào bối cảnh xã hội chủ nghĩa, thay vì tư bản bóc lột thuộc địa hoặc nông dân để hình thành tư bản công nghiệp, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa rút nguồn lực từ nông thôn để xây công nghiệp xã hội chủ nghĩa.

Ý tưởng này gây tranh cãi gay gắt trong nội bộ Đảng Bolshevik suốt thập niên 1920. Một trong những lãnh tụ Soviet có thể kế thừa Lenin là Bukharin, chống lại, ủng hộ "liên minh công nông" và phát triển cân bằng. Trotsky cũng là một ứng cử viên ở vị trí thừa kế khác của Lenin và phe tả ủng hộ Preobrazhensky. Stalin không phải người thừa kế của Lenin, ông còn bị Lenin gạt bỏ khi viết di chúc yêu cầu Đảng loại bỏ Stalin ra khỏi vị trí quyền lực thì ban đầu đứng khá yếu thế nên Stalin đứng về phía Bukharin để hạ Trotsky, nhưng sau 1928 ông lại xoay 180 độ và thực thi mô hình Preobrazhensky ở quy mô tàn bạo qua tập thể hóa nông nghiệp 1929-1933, dẫn đến nạn đói Holodomor làm chết hàng triệu nông dân Ukraine, Kazakhstan, Nga.

Có một sự thật mỉa mai lịch sử là chính Preobrazhensky bị Stalin thanh trừng và xử bắn năm 1937. Tư tưởng của ông được thực hiện, nhưng tác giả thì bị giết.

Dù vậy thì thực tế là tư tưởng của ông đã phá huy hiệu quả thực sự, nó đã giúp Liên Xô vượt qua quá trình công nghiệp hóa chỉ vài chục năm trong khi các nước phương Tây mất cả trăm năm. Song cái giá phải trả của nó vô cùng bi thương đối với các dân tộc Soviet vì đây là quá trình công nghiệp hóa cưỡng bức. Mọi người có thể tìm thêm về lịch sử Liên Xô giai đoạn này để biết thêm chi tiết, mình xin quay lại với Trung Quốc.

Năm 1958, Mao Trạch Đông phát động Đại Nhảy Vọt với mục tiêu công nghiệp hóa thần tốc. Ý tưởng: bắt kịp Anh trong 15 năm, vượt Mỹ trong 30 năm. Để công nghiệp hoá nhanh, cần vốn. Trung Quốc nghèo, không có thuộc địa để bóc lột (như Anh thế kỷ 19), không có Marshall Plan (như Tây Đức), không có thị trường Mỹ mở cửa (như Nhật, Hàn sau này). Vậy vốn lấy từ đâu?

Câu trả lời mà các nước xã hội chủ nghĩa đã tìm ra thì như đã kể ở trên. Liên Xô đi đầu, Trung Quốc học theo, tạm gọi là bóc lột nội bộ, lấy từ nông thôn để xây thành thị, lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp.

Cơ chế cụ thể được người Trung Quốc gọi là Tiễn Đao Sai (剪刀差). Tiễn Đao là cái kéo, Sai là sự sai khác và chênh lệch, cơ cấu giống như cái kéo mở rộng ra tạo ra khoảng chênh lệch. Nhà nước mua nông sản từ nông dân với giá thấp giả tạo, bán hàng công nghiệp cho nông dân với giá cao giả tạo. Phần chênh lệch là vốn để xây nhà máy.

Theo các ước tính của các nhà kinh tế lịch sử như Lin Justin (Lâm Nghị Phu), khoảng 600-800 tỷ nhân dân tệ giá trị (theo thời giá khi đó, một con số khổng lồ) đã bị rút từ nông thôn sang công nghiệp đô thị trong giai đoạn 1953-1978.

Và tất nhiên, sau này, khi Đặng Tiểu Bình mở cửa năm 1978, Trung Quốc là một nước nông nghiệp nghèo, GDP bình quân đầu người chỉ 156 đô la, thấp hơn nhiều nước châu Phi cận Sahara cùng thời điểm. Quyết định chiến lược của ông và những người kế nhiệm không phải là phát triển từ từ theo kiểu các nền kinh tế thông thường, mà là dồn toàn lực vào công nghiệp hóa với tốc độ chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Để làm được điều đó, họ cần vốn, và vốn được tạo ra theo một cách rất riêng, được lấy từ bài học của Liên Xô và kinh nghiệm thời đại nhảy vọt năm xưa nhưng với biến thể mới.

Cụ thể hơn trong giai đoạn này thì quá trình "bóc lột nội bộ" sẽ có biểu hiện như sau:

Lương công nhân được giữ thấp một cách có chủ ý, phúc lợi xã hội tối thiểu, đất đai do nhà nước kiểm soát được cấp cho doanh nghiệp với giá ưu đãi, môi trường được hy sinh để giảm chi phí sản xuất. Toàn bộ phần thặng dư mà công nhân tạo ra không quay về túi họ dưới dạng lương, mà chảy về nhà nước và doanh nghiệp lớn để tái đầu tư vào nhà máy, hạ tầng, cảng biển, đường sắt cao tốc.

Đây không phải tai nạn lịch sử, đây là thiết kế. Tỷ trọng đầu tư trong GDP của Trung Quốc thường xuyên ở mức 40 đến 45%, cao bất thường so với hầu hết các nền kinh tế lớn. Tỷ trọng tiêu dùng hộ gia đình trong GDP chỉ khoảng 38 đến 40%, trong khi mức bình thường thế giới là 60% và ở Mỹ là gần 70%. Một nửa miếng bánh GDP rơi vào doanh nghiệp và nhà nước để tái đầu tư, chỉ một phần nhỏ rơi vào tay người làm ra nó.

Sau bốn mươi năm vận hành theo công thức này, kết quả vô cùng ấn tượng và đồng thời vô cùng méo mó. Trung Quốc hiện sản xuất hơn một nửa số xi măng của thế giới, hơn một nửa số thép, hơn 70% số pin mặt trời, hơn 60% số xe điện. Năng lực sản xuất của họ trong nhiều ngành đã vượt xa nhu cầu toàn cầu, không chỉ nhu cầu trong nước. Trong khi đó, tiêu dùng nội địa vẫn lẹt đẹt vì người dân không có đủ tiền và không có đủ niềm tin để chi tiêu, đây chính là side effect của chính sách bất bình đẳng lấy nghèo nuôi giàu. Phần dư thừa khổng lồ giữa cái họ làm ra và cái họ tự dùng được phải đi đâu đó. Nó không thể bốc hơi, nó buộc phải xuất khẩu.

Đây là chỗ câu chuyện trở nên phức tạp, và là chỗ có một nguyên lý đơn giản đến mức hầu hết mọi người bỏ qua. Trong thương mại quốc tế, nếu một quốc gia có thặng dư, thì phải có một quốc gia khác có thâm hụt. Đây là kế toán kép cơ bản, không phải đạo đức, không phải lựa chọn chính trị. Cả thế giới không thể cùng thặng dư, vì hàng xuất từ nước này phải đi đến nước nào đó. Trung Quốc có thặng dư thương mại khoảng 992 tỷ đô la năm 2024, mức kỷ lục của bất kỳ quốc gia nào trong lịch sử. Con số này có nghĩa là phần còn lại của thế giới đã thâm hụt 992 tỷ đô la, riêng Trung Quốc, và phần lớn cái thâm hụt ấy nằm ở một quốc gia duy nhất, đó là nước Mỹ.

Người Mỹ không phải tự nhiên muốn thâm hụt. Họ tiêu dùng nhiều hơn họ sản xuất, lấp khoảng trống bằng nhập khẩu, và Trung Quốc là nguồn cung lớn nhất cho khoảng trống đó. Khi nhìn từ trong cỗ máy Trung Quốc, thị trường Mỹ không phải là một khách hàng quan trọng, nó là phần còn lại của cỗ máy. Cắt thị trường Mỹ là cắt một bộ phận của chính cỗ máy ấy.

II. Ba ngọn núi đè lên một nền kinh tế tỷ dân

Một nước có 1,4 tỷ người, gấp bốn lần dân số Mỹ, lẽ ra phải có một thị trường nội địa khổng lồ tự nuôi sống cỗ máy sản xuất của mình. Theo logic thông thường, mỗi gia đình Trung Quốc chỉ cần mua thêm một chiếc xe, đổi thêm một chiếc điện thoại, đi du lịch thêm vài chuyến, là đủ để tiêu thụ phần lớn những gì các nhà máy nội địa làm ra. Thực tế thì ngược lại hoàn toàn. Người Trung Quốc tiêu dùng ít một cách bất thường, tiết kiệm nhiều một cách bất thường, và lý do không nằm ở văn hóa hay ý chí cá nhân mà nằm ở ba ngọn núi đè lên tâm lý mỗi gia đình.

Ngọn núi thứ nhất là nhà ở

Ở các đô thị lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thâm Quyến, giá nhà so với thu nhập trung bình thuộc nhóm cao nhất thế giới, vượt xa cả Tokyo thời đỉnh điểm của bong bóng 1989 hay London hiện tại. Một người trẻ tốt nghiệp đại học, đi làm tiết kiệm chăm chỉ mỗi tháng, không du lịch, không cà phê quán xá, không sắm sửa, cũng phải mất ba mươi năm mới đủ tiền mua nổi một căn hộ nhỏ. Mà căn hộ đó không phải biệt thự ven hồ, thường chỉ là chuồng chim sáu mươi mét vuông trong một khối bê tông cao ba mươi tầng. Người trẻ Trung Quốc đối mặt với một bài toán không có lời giải bằng nỗ lực cá nhân, và cũng không có lời giải bằng cách đợi giá nhà giảm vì khi giá giảm thật thì hệ thống tài chính rung lắc kéo theo cả việc làm, bất động sản sụt giảm, kinh tế đi xuống thì người dân dễ mất việc, kinh tế Trung Quốc bị gắn chặt với bất động sản.

Ngọn núi thứ hai là giáo dục

Cuộc chạy đua vào trường tốt ở Trung Quốc khốc liệt đến mức biến phụ huynh thành những cỗ máy chi tiền. Học thêm sau giờ học chính, học thêm cuối tuần, học thêm tiếng Anh, học thêm piano, học thêm lập trình, học thêm cờ vây. Mỗi đứa trẻ là một dự án đầu tư mà cha mẹ rót vào không tiếc tay, vì trượt khỏi đại học top thì gần như không có lối khác để vượt ra khỏi tầng lớp. Chính phủ Trung Quốc đã ban hành lệnh siết ngành dạy thêm năm 2021, gọi là chính sách giảm gánh nặng kép, nhưng kết quả là phụ huynh chuyển sang học thêm chui với giá cao hơn, vì áp lực cấu trúc không tự biến mất khi có một sắc lệnh. Trường học đã biến thành đấu trường sinh tử, rất nhiều thế hệ người Trung Quốc đã không có tuổi thơ và giờ đây ngay khi tốt nghiệp họ đang phải đối mặt với tình trạng không có việc làm vì nền kinh tế bắt đầu đảo chiều từ năm 2021.

Ngọn núi thứ ba là y tế

Mạng lưới an sinh xã hội ở Trung Quốc rất mỏng so với các nước phát triển. Bảo hiểm y tế công có phủ rộng nhưng chỉ chi trả một phần nhỏ chi phí điều trị, đặc biệt với bệnh nặng. Một cơn ung thư, một cú đột quỵ, một tai nạn giao thông nghiêm trọng, có thể đẩy một gia đình trung lưu vào bờ vực phá sản trong vài tháng. Người dân biết rất rõ điều này, và họ phản ứng theo cách duy nhất hợp lý, đó là tiết kiệm nhiều, tiêu ít, dành dụm phòng cho bất trắc không lường trước.

Khi ba ngọn núi này đè lên đầu mỗi gia đình, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình Trung Quốc thuộc nhóm cao nhất thế giới, khoảng 30 đến 35% thu nhập khả dụng, trong khi mức bình thường ở các nước phát triển chỉ 5 đến 10%. Tiết kiệm cao có nghĩa là tiêu dùng thấp, tiêu dùng thấp có nghĩa là cỗ máy sản xuất khổng lồ của Trung Quốc không có ai mua giùm phần lớn hàng làm ra trong nước, và phải xuất khẩu. Xuất khẩu khó hơn thì nội tại không có lối thoát. Đây là logic vòng tròn mà chính phủ Trung Quốc đang loay hoay tìm cách phá, nhưng chưa tìm ra cách nào hiệu quả.

Có một con số đặc biệt cần dừng lại để ngẫm trong bức tranh này. Khoảng 70% tài sản của hộ gia đình Trung Quốc nằm trong bất động sản. Con số này lệch chuẩn so với mọi nền kinh tế lớn khác. Ở Mỹ, bất động sản chỉ chiếm khoảng 35% tài sản hộ gia đình, phần còn lại nằm trong chứng khoán, quỹ hưu trí, doanh nghiệp tư nhân. Người Mỹ phân tán tài sản, người Trung Quốc dồn tài sản vào một loại duy nhất. Lý do dồn tập trung như vậy có nhiều lớp, từ thị trường chứng khoán bất ổn và thường xuyên bị thao túng, đến quỹ hưu trí chưa phát triển, đến tâm lý văn hóa coi nhà đất là tài sản an toàn nhất, đến chính sách của chính quyền địa phương dựa vào bán đất để có ngân sách.

Khi bất động sản tăng giá đều đều suốt hai thập kỷ, dân Trung Quốc cảm thấy giàu lên dù lương không tăng tương xứng. Họ tiêu dùng tự tin hơn, cưới hỏi nhiều hơn, sinh con nhiều hơn, vì cảm giác có một tài sản đang lớn lên ở phía sau. Đây là hiệu ứng tài sản dương, một khái niệm kinh tế học cơ bản, và nó vận hành rất mạnh ở Trung Quốc đến mức biến cả nền tiêu dùng nội địa thành con tin của giá nhà.

Khi bất động sản sụt giá, hiệu ứng đảo ngược. Lương vẫn nguyên, công việc vẫn còn, nhưng cảm giác được tài sản đỡ lưng biến mất. Người ta hoãn mua xe, hoãn cưới, hoãn sinh con, hoãn mọi thứ có thể hoãn. Niềm tin tiêu dùng bị đè bẹp dù không ai mất việc làm trực tiếp. Vụ Evergrande và Country Garden vỡ nợ không chỉ là vụ phá sản của hai tập đoàn bất động sản lớn, chúng là tín hiệu về sự sụp đổ của một mô hình tích lũy tài sản đã định hình ba thế hệ. Khi một gia đình thấy giá căn hộ duy nhất họ sở hữu giảm 20 đến 30% trong vài năm, họ không chỉ mất tiền trên giấy, mà còn mất luôn niềm tin rằng con đường họ chọn để xây tương lai vẫn còn vận hành.

Trên nền ba ngọn núi đã nặng sẵn này, có một dòng nước đang đổi chiều khiến bài toán khó hơn nhiều, đó là dân số. Trung Quốc già hóa nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế lớn nào trong lịch sử, đặc biệt khi so với mức thu nhập trung bình của họ. Đây là hiện tượng mà các nhà nhân khẩu học gọi là già trước khi giàu. Nhật Bản đã đối mặt với già hóa, nhưng khi đó họ đã giàu, GDP bình quân đầu người vượt 40.000 đô la. Trung Quốc đang già hóa với GDP bình quân đầu người mới khoảng 13.000 đô la, chưa kịp tích lũy đủ để gánh chi phí của một xã hội già.

Lực lượng lao động Trung Quốc bắt đầu giảm tuyệt đối từ năm 2012. Tổng dân số bắt đầu giảm từ năm 2022, sớm hơn dự đoán của chính các nhà nhân khẩu học Trung Quốc một thập kỷ. Tỷ lệ sinh đã rơi xuống dưới mức thay thế từ hơn ba mươi năm trước, và những nỗ lực nới lỏng chính sách từ một con thành hai con rồi ba con không tạo ra một làn sóng sinh đẻ nào đáng kể. Lý do đơn giản, các cặp vợ chồng trẻ nhìn ba ngọn núi phía trước và quyết định không nên có thêm một đứa trẻ nào nữa.

Thế hệ trẻ Trung Quốc, thường được gọi là Gen Z, đang phản ứng với áp lực này theo một cách mà các thế hệ trước chưa từng làm. Hiện tượng Tang Ping (躺平) dịch sang tiếng Việt là nằm thẳng, và để mặc nó, mặc kệ đời Bai Lan (摆烂) đã trở thành xu hướng văn hóa được bàn tán rộng rãi. Không cưới, không sinh con, không mua nhà, không cố leo lên trong sự nghiệp, không tham gia cuộc chạy đua mà cha mẹ họ đã chạy.

Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên đã lên trên 20% trong nhiều quý gần đây, đến mức chính phủ Trung Quốc ngừng công bố con số này. Khi một thế hệ trẻ chọn rút lui khỏi mô hình tăng trưởng cũ, không phải vì lười biếng mà vì họ nhìn thấy mô hình đó không còn vận hành cho họ, đó là tín hiệu sâu sắc nhất về sự dịch chuyển của một xã hội.

Nhìn tổng thể, Trung Quốc đang đứng trước một bài toán mà các giải pháp đơn giản đều đã thử và đều không hiệu quả. Giảm lãi suất không kích được tiêu dùng vì người dân không có tiền dư để tiêu. Nới lỏng tín dụng không cứu được bất động sản vì người mua không tin giá sẽ lên. Cải cách an sinh xã hội đòi hỏi ngân sách lớn trong khi nguồn thu địa phương đang sụp đổ vì không bán được đất. Khuyến khích sinh đẻ không thay đổi quyết định của các cặp vợ chồng vẫn đang nhìn ba ngọn núi. Mỗi giải pháp đều vấp vào một bức tường khác, và các bức tường đan vào nhau thành một hệ thống mà cải cách một chỗ sẽ làm rung động, lung lay các chỗ khác.

Khi nhìn một xã hội tiết kiệm vì bị ba ngọn núi đè nặng, một thế hệ trẻ rút lui vì không thấy lối đi lên vì một tương lai quá bất định , một dân số già hóa nhanh hơn bất kỳ kinh nghiệm lịch sử nào, chúng ta đang nhìn vào một quốc gia trong giai đoạn dịch chuyển sâu sắc nhất kể từ khi mở cửa. Sự dịch chuyển này không được công bố qua sắc lệnh, không hiện ra trong các phát biểu chính thức, nó hiện ra qua hàng trăm triệu quyết định cá nhân trong từng gia đình, mỗi quyết định nhỏ một chút nhưng cộng lại đủ để định hình lại cả một nền kinh tế.

Bạn có bao giờ tiết kiệm cho một nỗi sợ chưa biết tên không, để nhỡ mai có chuyện thì còn cái gì đó để bám vào. Nếu có, bạn đang ở cùng một cảm giác với hàng trăm triệu người Trung Quốc lúc này, dù chúng ta sống ở hai xã hội rất khác nhau. Đây chính là hậu quả của một chính sách lấy nông thôn nuôi thành thị, lấy của người nghèo nuôi người giàu, cấu trúc không lành mạnh như vậy tất yếu sẽ để lại những hậu quả khôn lường.

Mình đã gặp những người Trung Quốc chuyển sang Việt Nam hay Singapore sống vì họ thấy ra nước ngoài hạnh phúc hơn và gặp những bạn trẻ Trung Quốc khi đi thăm các tập đoàn công nghệ hàng đầu của họ ở Thượng Hải và Hàng Châu thì họ đều nói cuộc sống của họ rất áp lực, vậy nên nhìn bề ngoài tuy Trung Quốc có cơ sở hạ tầng hoành tráng, đô thị phồn hoa nhưng thực tế có lẽ chỉ tầng lớp thượng lưu là thấy cuộc sống dễ chịu còn từ trung lưu đổ xuống đều cảm thấy stress, điều đó sẽ khác với suy nghĩ của rất nhiều người khi chỉ chứng kiến hình ảnh lộng lẫy của Trung Quốc qua truyền thông hay mạng xã hội.

III. Thặng dư kỷ lục là thòng lọng chứ không phải thành tựu

Khi nhìn vào con số 992 tỷ đô la thặng dư năm 2024 mà bộ máy tuyên truyền Trung Quốc thường trưng bày như bằng chứng cho sức mạnh kinh tế, có một cách đọc khác đáng cân nhắc. Con số này không cho thấy Trung Quốc đã thoát phụ thuộc bên ngoài mà nó cho thấy mức độ phụ thuộc đã trở nên cấu trúc hóa đến mức nào.

Hãy xem xét theo cách này. Nếu một nền kinh tế thực sự tự chủ, nó sẽ sản xuất chủ yếu cho người dân của mình tiêu dùng. Tiêu dùng nội địa và sản xuất nội địa nằm trong trạng thái cân bằng tương đối. Thặng dư thương mại nhỏ là dấu hiệu sức khỏe, vì nó cho thấy nền kinh tế hấp thụ được phần lớn cái mình làm ra. Một nước có thặng dư khổng lồ năm này qua năm khác, đặc biệt khi tiêu dùng nội địa đang yếu, đó là dấu hiệu của một cấu trúc không cân bằng, cái mà nước đó làm ra cho thế giới lớn hơn nhiều so với cái thế giới chịu nhận. Thực tế vấn đề của Trung Quốc bây giờ chính là khủng hoảng dư thừa công suất. Các nhà máy, công trình xây dựng cứ bành trướng mở rộng một cách không kiểm soát làm chi phí vận hành ngày càng tăng trong khi nhu cầu thị trường đã bão hòa.

Vai trò của Mỹ trong cấu trúc này không phải là một khách hàng trong số nhiều khách hàng, mà là người mua cuối cùng, theo nghĩa của khái niệm buyer of last resort trong kinh tế học. Khi không có ai khác đủ tiền và đủ thói quen tiêu dùng để hấp thụ phần dư thừa khổng lồ của công xưởng Trung Quốc, Mỹ là điểm xả cuối cùng. Người tiêu dùng Mỹ nợ thẻ tín dụng ngập đầu, tiết kiệm thấp, thay đồ liên tục, đó chính là dòng cầu mà cỗ máy cung ứng của Trung Quốc cần để không bị dồn ứ.

Nhưng đây mới là chỗ thực sự oái oăm. Số đô la mà Trung Quốc kiếm được từ việc bán hàng cho Mỹ không nằm yên trong két ngân hàng. Trong nhiều năm, phần lớn quay ngược về Mỹ dưới dạng mua trái phiếu kho bạc Mỹ. Đỉnh điểm năm 2013, Trung Quốc giữ khoảng 1,316 tỷ đô la trái phiếu chính phủ Mỹ, gần một phần ba toàn bộ trái phiếu kho bạc Mỹ do nước ngoài nắm giữ. Đó là một trong hai chủ nợ lớn nhất của Mỹ cùng với Nhật Bản.

Vòng tròn này có nghĩa là Trung Quốc bán hàng cho Mỹ, lấy đô la, rồi cho Mỹ vay lại số đô la đó để Mỹ tiếp tục có tiền mua hàng Trung Quốc. Cả hai bên đều có lợi trong ngắn hạn, cả hai bên đều bị khóa chặt vào nhau qua mỗi vòng quay. Mỹ có nguồn vốn rẻ để duy trì thâm hụt ngân sách và tiêu dùng cao, Trung Quốc có nơi gửi đô la an toàn và có sức cầu để hấp thụ hàng xuất khẩu. Vòng tròn càng lớn, mức độ khóa chặt càng cao.

Sau bốn mươi năm vận hành, vòng tròn này đã tạo ra một thứ mà cả Bắc Kinh lẫn Washington đều không tính trước. Mỹ và Trung Quốc đã ngừng là hai nền kinh tế độc lập từ rất lâu rồi. Họ đã trở thành hai bộ phận của một cơ thể chung, mỗi bộ phận có chức năng riêng nhưng không tách ra mà còn sống được. Trung Quốc làm phần sản xuất, Mỹ làm phần tiêu dùng và tài chính. Đô la chảy một chiều, hàng hóa chảy một chiều, và cả hai bên đều dựa vào dòng chảy đó để duy trì cấu trúc nội bộ.

Gần đây, Trung Quốc đã giảm dần lượng trái phiếu Mỹ nắm giữ, xuống còn khoảng 700 tỷ đô la vào cuối 2025, và đã rớt khỏi vị trí thứ hai sang thứ ba sau Nhật và Anh. Xu hướng này thường được giới phân tích đọc theo hai cách. Cách đọc địa chính trị nhìn nó như tín hiệu Trung Quốc đang chuẩn bị giảm phụ thuộc vào đô la, đa dạng hóa dự trữ ngoại tệ sang vàng và các đồng tiền khác. Cách đọc cơ học hơn cho rằng đây phần lớn là quá trình tái cân bằng danh mục bình thường khi thặng dư thương mại không còn được tái đầu tư vào Mỹ với tốc độ như trước.

Cả hai cách đọc đều có phần đúng, nhưng đều bỏ sót một điểm quan trọng. Trung Quốc không thể giảm holdings quá nhanh vì làm vậy sẽ đẩy giá trái phiếu Mỹ giảm, lợi suất tăng, và chính các holdings còn lại của Trung Quốc bị giảm giá trị. Bán nhiều thì lỗ nhiều. Đây là cái mà các nhà phân tích gọi là sự phụ thuộc tài sản, kẻ giữ tài sản lớn không thể tự do thoát ra mà không tự làm tổn thương chính mình. Cũng giống như khi một quỹ đầu tư nắm cổ phiếu chiếm tỷ trọng quá lớn của một công ty, họ không thể bán ra ồ ạt vì sẽ tự đè giá xuống.

Nhìn cấu trúc này, mọi câu hỏi quen thuộc về ai mạnh hơn hay ai sẽ thắng cuộc đối đầu trở nên khó trả lời theo cách thông thường. Mạnh hơn ở phần nào, thắng theo nghĩa nào, khi mỗi bên đã trở thành một nửa thiết yếu của bên kia. Một võ sĩ có thể đánh bại một võ sĩ khác, nhưng một bộ phận cơ thể không thể đánh bại một bộ phận khác mà không tự gây thương tích.

IV. Global South là ảo tưởng, không phải lối thoát

Khi cấu trúc với Mỹ trở nên căng thẳng, một phản ứng tự nhiên của Trung Quốc là tìm cách đa dạng hóa thị trường, hướng về phương nam được gọi là thị trường Global South như châu Á, châu Phi, Trung Đông, Mỹ Latinh. Sáng kiến Vành đai và Con đường, khởi xướng năm 2013, là biểu hiện rõ nhất của chiến lược này. Bắc Kinh đổ hàng nghìn tỷ đô la vào xây dựng hạ tầng ở các nước đang phát triển, với kỳ vọng vừa tạo thị trường tiêu thụ mới vừa tạo các tuyến vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc.

Sau hơn mười năm vận hành, kết quả không khớp với kỳ vọng. Phần lớn các khoản vay lớn đã biến thành nợ khó đòi. Sri Lanka vỡ nợ năm 2022, một phần trực tiếp do gánh nặng nợ Vành đai và Con đường, dẫn đến vụ cảng Hambantota phải chuyển giao quyền vận hành cho công ty Trung Quốc 99 năm. Pakistan, Zambia, Lào đang ở bờ vực, nhiều nước châu Phi khác đã phải tái cấu trúc nợ. Lý do gốc rễ không phải là các nước này quản lý tồi, mà là lệch pha cung cầu căn bản giữa thứ Trung Quốc muốn bán và thứ thị trường này có sức mua.

Trung Quốc của 2025 không còn là Trung Quốc của 2005. Họ không còn chuyên bán dép nhựa, chậu thau, quần áo giá rẻ nữa. Họ đang muốn bán xe điện BYD, điện thoại Huawei, pin lithium, tấm pin mặt trời, công nghệ 5G, thiết bị giám sát thông minh. Đây là hàng cao cấp đến trung cấp, đòi hỏi người mua có thu nhập tương ứng, hạ tầng đồng bộ, lưới điện ổn định, sức mua của tầng lớp trung lưu. Nhưng các thị trường Vành đai và Con đường phần lớn vẫn ở đáy chuỗi giá trị, sức mua không đủ để hấp thụ phần dư thừa khổng lồ của công xưởng Trung Quốc.

Đây là chỗ logic kinh tế chạm vào tường. Bán xe điện 30.000 đô la cho thị trường mà thu nhập bình quân chỉ vài nghìn đô la một năm thì không bán được nhiều, dù có bao nhiêu hiệp định thương mại đi nữa. Châu Phi có thể tiêu thụ hàng tỷ chiếc áo thun, hàng triệu cái nồi cơm điện giá rẻ, nhưng nó không thể hấp thụ phần dư thừa công suất của ngành công nghệ cao mà Trung Quốc đang sống chết bám vào để thoát bẫy thu nhập trung bình.

Các thị trường lớn khác cũng không phải là lựa chọn dễ dàng. Ấn Độ là đối thủ chiến lược trực tiếp, hai bên đã giao chiến biên giới năm 2020, Ấn Độ đã cấm hàng trăm ứng dụng Trung Quốc, đang xây dựng năng lực sản xuất riêng để cạnh tranh trực diện. Họ coi Trung Quốc là đối thủ phải vượt qua chứ không phải thị trường tiêu thụ. ASEAN có tham vọng công nghiệp riêng và đang bắt đầu áp thuế chống bán phá giá. Indonesia áp thuế lên hàng dệt may Trung Quốc, Thái Lan điều tra thép cuộn. Khi hàng giá rẻ Trung Quốc tràn vào như lũ lụt, giết chết các doanh nghiệp vừa và nhỏ địa phương, tình anh em lập tức rạn nứt.

EU đã mở các cuộc điều tra chống bán phá giá xe điện Trung Quốc và áp thuế bổ sung từ năm 2024, với mức thuế lên tới hơn 35% đối với một số nhà sản xuất Trung Quốc. Lý do EU đưa ra là các hãng xe điện Trung Quốc được trợ giá nhà nước nặng nề, bán dưới giá thành để chiếm thị phần, và nếu để vào thị trường châu Âu sẽ giết chết ngành xe nội địa của Đức, Pháp, Ý. Brazil cũng đã áp thuế chống bán phá giá lên thép Trung Quốc.

Sau cùng thì các thị trường lớn đều đang đóng cửa từng phần.

Nga là đối tác tạm thời sau khi Putin bị phương Tây cấm vận năm 2022. Thương mại Nga - Trung đã bùng nổ, Trung Quốc bán xe hơi, đồ điện, máy giặt sang Nga và mua dầu giá rẻ về. Nhưng kinh tế Nga, dù to xác về địa lý, quy mô GDP chỉ tương đương Tây Ban Nha. Dân số Nga đang già đi và sụt giảm. Sức mua bị bào mòn bởi chiến tranh và lạm phát. Nga không phải là thị trường tiêu dùng năng động đủ sức thay thế Mỹ, mà là một cái mỏ năng lượng có vũ khí hạt nhân.

Hơn nữa, việc buôn bán với Nga chủ yếu là đổi hàng lấy hàng (barter) hoặc dùng nhân dân tệ. Nhưng nhân dân tệ kiếm được từ Nga thì Trung Quốc tiêu ở đâu? Không thể mang sang Mỹ hay châu Âu để mua chip bán dẫn, máy quang khắc, phần mềm thiết kế chip được. Nó bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn song phương. Trung Quốc cần đô la và euro để nhập khẩu công nghệ lõi từ phương Tây, không cần thêm rúp hay nhân dân tệ chạy lòng vòng.

Có một sự thật nữa hé lộ bản chất của khoảng trống thị trường này. Chính các doanh nghiệp Trung Quốc cũng đang chuyển một phần sản xuất ra Global South, không phải để bán cho thị trường địa phương, mà để né thuế Mỹ. Các nhà máy pin mặt trời, đồ điện, dệt may của Trung Quốc đã mọc lên ở Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Mexico, với mục đích chính là dán mác "Made in Vietnam" hay "Made in Mexico" rồi xuất sang Mỹ. Đây không phải là đa dạng hóa thị trường thật. Đây là đường vòng để giữ tiếp cận thị trường Mỹ. Khi Mỹ bịt lỗ hổng này, và họ đang làm như vậy qua các quy định xuất xứ ngày càng chặt, lối thoát này cũng đóng lại.

Tổng hợp lại, giấc mơ thay thế thị trường Mỹ bằng Global South vấp phải một thực tế khả thi về mặt cấu trúc. Global South nghèo, sức mua không đủ, đầy rủi ro chính trị, và không bên nào trong đó muốn vĩnh viễn làm thị trường tiêu thụ cho một công xưởng láng giềng đang dùng giá rẻ để giết chết ngành sản xuất của mình. Hy vọng dùng Global South để cứu nền kinh tế Trung Quốc giống như hy vọng dùng một xô nước để cứu hỏa cả một tòa nhà chọc trời đang cháy, có thể làm mát một chút nhưng không thể dập tắt ngọn lửa khủng hoảng thừa cung.

V. Bán dẫn và dòng vốn, mảnh ghép mà Trung Quốc không tự tạo ra được

Khi nói về sức mạnh công nghệ Trung Quốc, người ta dễ bị lóa mắt bởi xe điện BYD, điện thoại Huawei, drone DJI, các sản phẩm tiêu dùng đã chiếm thị phần lớn trên toàn cầu. Nhưng nhìn vào phần lõi của những sản phẩm này, sự phụ thuộc công nghệ vẫn rất sâu, và nó bám rất chặt vào dòng chảy đô la.

Hãy xem xét bài toán nhập khẩu công nghệ lõi. Một con chip cao cấp ngày nay là kết quả của một hệ thống phân công lao động xuyên lục địa. Mỹ thiết kế, qua các công ty như Qualcomm, Nvidia, AMD. Hà Lan của ASML cung cấp máy quang khắc cực tím EUV, loại máy duy nhất trên thế giới có thể khắc các chi tiết nhỏ vài nanomet trên silicon. Nhật cung cấp hóa chất tinh khiết và một số thiết bị quang học chuyên dụng. Đức cung cấp thấu kính Zeiss. Đài Loan của TSMC nắm giữ hơn 90% năng lực sản xuất chip ở nodes tiên tiến nhất.

Mỗi mắt xích trong chuỗi này đều không thể thay thế nhanh, và đứt bất kỳ mắt xích nào cũng làm tê liệt cả chuỗi. Các công nghệ này được định giá và giao dịch bằng đô la, hoặc các đồng tiền mạnh trong phe đồng minh của Mỹ như Euro, Yen. Trung Quốc muốn mua chip cao cấp, máy quang khắc, phần mềm thiết kế chip, phải trả bằng đô la hoặc tương đương. Không một công ty nào trong chuỗi này nhận thanh toán bằng nhân dân tệ cho các đơn hàng chiến lược.

Tại sao? Vì nhân dân tệ chưa phải đồng tiền tự do chuyển đổi đầy đủ. Bạn không thể tự do mang một vali tiền nhân dân tệ ra khỏi Trung Quốc, hệ thống kiểm soát vốn còn rất chặt. Quyền lực thực sự của một đồng tiền quốc tế được đo bằng việc nó được dùng bao nhiêu để thanh toán xuyên biên giới và dự trữ ngoại tệ. Theo dữ liệu SWIFT năm 2025, nhân dân tệ chiếm khoảng 2.88 đến 3.17% thanh toán toàn cầu trong các tháng gần đây, đứng thứ năm hoặc thứ sáu, trong khi đô la Mỹ chiếm khoảng 47 đến 49%, euro khoảng 23 đến 26%. Khoảng cách này không thu hẹp được trong ngắn hạn.

Vậy Trung Quốc kiếm đô la ở đâu để mua công nghệ lõi? Câu trả lời quay lại chính phần một và phần ba. Thặng dư thương mại với Mỹ và phương Tây chính là nguồn cung cấp đô la chiến lược. Bán quần áo, đồ chơi, điện thoại lắp ráp sang Mỹ, đem về cho Trung Quốc hàng trăm tỷ đô la mỗi năm. Số tiền này không chỉ là lợi nhuận thương mại, nó là nhiên liệu cho cỗ máy công nghệ. Trung Quốc dùng đô la kiếm được từ việc bán hàng tiêu dùng để đi mua chip, mua thiết bị bán dẫn, mua phần mềm.

Nếu dòng chảy đô la này bị siết, cỗ máy công nghệ Trung Quốc thiếu nhiên liệu. Đây là chỗ chiến lược kiểm soát xuất khẩu công nghệ của Mỹ chạm vào điểm nhạy cảm nhất. Mỹ rủ Hà Lan và Nhật lập thành liên minh chip 4, dựng lên Entity List cấm bán chip cao cấp và máy quang khắc EUV cho Trung Quốc. SMIC, hãng chip lớn nhất của Trung Quốc, hiện tại chỉ có thể sản xuất chip 7 nanomet bằng cách dùng nhiều lần quang khắc DUV kém EUV một thế hệ với chi phí cao và hiệu suất thấp. Trong khi đó, TSMC đã sản xuất hàng loạt chip 3 nanomet và đang chuyển sang 2 nanomet. Khoảng cách không thu hẹp mà đang giãn ra.

Trung Quốc đã đổ hàng nghìn tỷ nhân dân tệ vào Big Fund, quỹ đầu tư bán dẫn quốc gia, với tham vọng tự chủ chip. Kết quả là hàng loạt quan chức ngã ngựa vì tham nhũng năm 2022, nhiều con chip "Trung Quốc tự thiết kế" hóa ra là chip nước ngoài dán lại nhãn. Vấn đề không nằm ở tiền, vấn đề nằm ở việc bán dẫn không giống đường sắt cao tốc hay nhà máy thép. Nó là đỉnh cao tri thức nhân loại tích lũy qua nhiều thập kỷ, là kết quả của một mạng lưới chuỗi cung ứng toàn cầu mà không một quốc gia nào, kể cả Mỹ, có thể tự làm hết một mình.

Nhưng bức tranh không một chiều. Mỹ cũng phụ thuộc vào Trung Quốc về những thứ ít người để ý. Khoảng 70% sản lượng đất hiếm thô của thế giới được khai thác ở Trung Quốc. Quan trọng hơn, khoảng 90% khâu chế biến đất hiếm thành sản phẩm dùng được nằm ở nước này, vì khâu chế biến hóa học phức tạp và gây ô nhiễm mà các nước phương Tây đã từ bỏ từ nhiều thập kỷ trước.

Đất hiếm là vật liệu thiết yếu cho mọi thứ từ điện thoại đến tên lửa hành trình, từ tua bin gió đến motor xe điện. Khi Trung Quốc bắt đầu hạn chế xuất khẩu một số đất hiếm chiến lược, các quân đội và công ty công nghệ phương Tây phải tính lại chuỗi cung ứng. Gallium và germanium, hai kim loại quan trọng cho chip và pin mặt trời, Trung Quốc chiếm tỷ trọng áp đảo và đã bắt đầu hạn chế xuất khẩu từ năm 2023. Pin lithium cho xe điện và lưu trữ năng lượng, hơn 70% năng lực sản xuất toàn cầu nằm ở Trung Quốc.

Đây là chiều phụ thuộc ngược mà bài tuyên truyền một chiều ở cả hai bên ít nhắc đến. Mỹ có thể đẩy mạnh sản xuất nội địa qua đạo luật CHIPS năm 2022 và đạo luật giảm lạm phát, nhưng quá trình xây dựng lại năng lực mất nhiều năm và rất tốn kém. Xây một nhà máy chế biến đất hiếm đúng tiêu chuẩn môi trường ở Mỹ mất 10 đến 15 năm và hàng tỷ đô la. Trong thời gian đó, Mỹ vẫn phải mua từ Trung Quốc, hoặc chấp nhận gián đoạn sản xuất ở các ngành chiến lược.

Tóm lại, ở tầng công nghệ, cấu trúc phụ thuộc lẫn nhau còn phức tạp hơn ở tầng thương mại. Trung Quốc thiếu chip cao cấp và máy thiết bị, Mỹ thiếu nguyên liệu thô và năng lực chế biến công nghệ hóa học. Mỗi bên đều có những điểm nghẽn nghẹt thở mà bên kia kiểm soát. Đứt một mắt nào trong chuỗi này, cả hệ thống kinh tế toàn cầu sẽ rung lắc mạnh, không phải chỉ Trung Quốc rung hay chỉ Mỹ rung.

Đọc lại bản đồ địa chính trị

Sau khi đi qua năm phần của cấu trúc này, một bức tranh khác xuất hiện so với các bài tuyên truyền một chiều ở cả hai bên thường vẽ. Trung Quốc không phải con hổ giấy sắp sụp đổ, cũng không phải gã khổng lồ đang lật đổ trật tự thế giới. Mỹ không phải đế chế giãy chết, cũng không phải kẻ kiểm soát hoàn toàn cuộc chơi. Cả hai đều đang đứng trong một cái bẫy cấu trúc mà chính họ đã cùng nhau xây dựng qua bốn thập kỷ.

Bẫy của Trung Quốc nằm ở chỗ cấu trúc nội tại đã định hình quá sâu để có thể đột ngột chuyển sang mô hình tiêu dùng nội địa. Mọi giải pháp thực sự đòi hỏi chia lại miếng bánh giữa nhà nước, doanh nghiệp lớn và người dân, nghĩa là đụng vào cấu trúc quyền lực cốt lõi. Các nhóm lợi ích lớn không tự nguyện chia bớt phần của họ, các doanh nghiệp nhà nước không tự nguyện thu hẹp, các chính quyền địa phương không tự nguyện từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư hạ tầng và bất động sản. Cải cách thực sự đòi hỏi đụng đến quyền lực, và đó là thứ khó nhất với một hệ thống chính trị xây dựng trên tập trung quyền lực ở đỉnh.

Bẫy của Mỹ nằm ở chỗ phụ thuộc vào Trung Quốc về sản xuất, khoáng sản chiến lược, năng lực chế biến hóa học, đã đan vào kinh tế Mỹ sâu hơn nhiều so với những gì cử tri Mỹ bình thường nhận ra. Cắt đột ngột Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng Mỹ sẽ gây sốc giá, lạm phát, gián đoạn ở nhiều ngành chiến lược. Mỹ có thể tái thiết năng lực nội địa, nhưng quá trình đó tốn rất nhiều năm và rất nhiều tiền, trong khi áp lực chính trị ngắn hạn của nền dân chủ buộc các chính quyền phải có kết quả nhanh nếu không sẽ bị loại tại các cuộc bầu cử.

Khi hai bên cùng đứng trong bẫy cấu trúc do chính mình tạo ra, mọi chiến lược ngắn hạn của một bên đều có hiệu ứng ngược lên chính mình. Mỹ áp thuế cao thì Trung Quốc tìm đường vòng qua các nước thứ ba, nhưng cũng làm giá hàng tiêu dùng ở Mỹ tăng, ảnh hưởng đến lạm phát và sức mua của người dân Mỹ. Trung Quốc hạn chế đất hiếm thì gây sức ép lên Mỹ, nhưng cũng đẩy thế giới đầu tư vào nguồn cung thay thế, làm xói mòn vị thế độc quyền dài hạn của Trung Quốc. Mỗi đòn đánh đều mang theo phản đòn lên chính người đánh, vì hai bên đã không còn là hai cơ thể độc lập.

Phép màu bốn mươi năm vừa qua đã đưa hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát nghèo, biến một nước nông nghiệp thành cường quốc công nghiệp số một thế giới về sản lượng. Cùng phép màu ấy bây giờ đang đặt người tạo ra nó vào một bài toán mà chính họ không nhìn ra lối thoát đơn giản. Phép màu và cái bẫy không phải hai sự kiện rời rạc, chúng là hai mặt của cùng một thiết kế, hai khúc của cùng một con đường mà nước này đã chọn từ 1978.

Hình ảnh hai võ sĩ trên võ đài, cái hình ảnh mà chúng ta dễ áp dụng cho mọi cuộc đối đầu lớn, không phù hợp với cấu trúc thực tế đã hình thành ở đây. Hình ảnh phù hợp hơn có lẽ là hai vận động viên cùng leo một dây thừng, mỗi người ở một đầu, dây căng giữa hai vách núi. Họ không thể đẩy nhau xuống mà không tự rơi theo. Họ cũng không thể leo lên một mình, vì sợi dây cần lực căng ở cả hai đầu mới giữ được hình dáng. Cuộc đối đầu thực sự không phải về ai mạnh hơn ai, mà về cách điều chỉnh để cả hai cùng đứng vững trên sợi dây mà chính họ đã chọn.

Lần sau khi đọc tin tức thấy "Trung Quốc đe dọa Mỹ" hay "Mỹ kiềm chế Trung Quốc", thử dừng lại một giây và hỏi cái gì đang đe dọa cái gì, khi cả hai đã là hai mặt của cùng một bàn cờ mà chính họ cũng không hoàn toàn chọn. Có lẽ câu hỏi quan trọng hơn câu "ai sẽ thắng" là câu "trong cấu trúc này, cái gì là tín hiệu của chuyển dịch sâu, cái gì chỉ là tiếng động bề mặt", và để trả lời câu đó, cần một bản đồ các giải pháp chứ không phải một danh sách phe phái hơn thua.

Thực tế, cả Mỹ và Trung Quốc đều cảm thấy đau sau khi quần nhau trên cái sân chơi mà cả hai cùng xây dựng. Thời điểm này, có lẽ cả hai đều thấy hụt hơi, nên có lẽ đây là giai đoạn mà họ sẽ hoãn. Đó là lý do tại sao có cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Trung vừa rồi để tìm cách tháo gỡ các bế tắc. Nhưng có vẻ chưa có tiến triển mấy khi các thông cáo báo chí cho thấy chưa có thỏa thuận lớn nào được ký kết. Điều đó càng chứng tỏ cái cấu trúc đã trói buộc 2 siêu cường này nó phức tạp và rắc rối đến mức nào.

Quay lại phần của chúng ta, khi bạn quan tâm đến sự kiện này và những gì đã xảy ra ở Trung Quốc rồi liên tưởng đến Việt Nam có thể đoán ra được tương lai của Việt Nam chúng ta sẽ thế nào không?

----

Các bài về chủ đề địa chính trị:

Xung đột Cam Thái https://shorturl.at/LfnKA

Mỹ bắt Maduro https://shorturl.at/IrEDH

Cờ vây Trung Quốc https://shorturl.at/rqVV3

Greenland https://shorturl.at/3EK0M

Biểu tình ở Iran https://shorturl.at/Qz8e4

Cơn bão ở Cuba https://shorturl.at/A6dlw

Kinh tế Saudi Arabia: https://shorturl.at/TDFpw

Cấu trúc sức mạnh UAE: https://shorturl.at/KCYUh

Quan hệ Mỹ Trung https://shorturl.at/AlIJT

N.T.

Nguồn: FB Thành Nguyễn

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn