Lấy ý kiến trẻ em từ 7 tuổi: 7 vấn đề phương pháp

Nguyễn Văn Tuấn  

Dưới góc độ phương pháp nghiên cứu, chỉ riêng Câu hỏi 1 đã thấy có 7 vấn đề đáng bàn:

Vấn đề 1: Người được hỏi có hiểu câu hỏi không?

Vấn đề 2: Câu hỏi mang tính dẫn dắt (leading question).

Vấn đề 3: Câu hỏi không rõ đang đo lường điều gì.

Vấn đề 4: Sai lệch do chọn mẫu.

Vấn đề 5: Khảo sát trực tuyến: ai thực sự trả lời?

Vấn đề 6: Câu trả lời của trẻ em hay của người lớn?

Vấn đề 7: Không có lựa chọn “Không biết” hoặc “Không hiểu”.

Tôi ngạc nhiên khi đọc cái tít trên báo Tuổi Trẻ ngày 22/10/2026: “Vì sao Bộ Y tế lấy ý kiến trẻ em từ 7 tuổi về hiến, ghép mô tạng?”.

Ngạc nhiên không phải vì tôi phản đối việc hỏi ý kiến trẻ em. Trái lại, tôi nghĩ trẻ em cần được lắng nghe về những chánh sách liên quan đến quyền lợi của mình. Nhưng là người làm nghiên cứu và quan tâm đến phương pháp, tôi tự hỏi: Một em bé 7 tuổi có thể hiểu được bao nhiêu về hiến tạng, về những rủi ro y khoa và những qui định pháp luật để đưa ra một ý kiến có giá trị?

Và quan trọng hơn, làm sao chúng ta biết câu trả lời của trẻ em thực sự phản ảnh suy nghĩ của nó, chớ không phải suy nghĩ của người lớn?

Tôi hiểu việc thiết kế khảo sát dành cho trẻ từ 7 tuổi không có nghĩa là đã có trẻ đúng 7 tuổi tham gia. Cho đến nay, tôi chưa thấy số liệu công bố về số người trả lời theo từng độ tuổi.

Tuy nhiên, điều làm tôi ngạc nhiên hơn là nội dung bảng câu hỏi.

Chẳng hạn, câu hỏi số 1 mở đầu bằng định nghĩa:

“Mô là tập hợp các tế bào biệt hóa cùng một loại hoặc nhiều loại khác nhau và thành phần bên ngoài tế bào để thực hiện một hoặc nhiều chức năng nhất định của cơ thể người…”.

Sau một đoạn giải thích dài về luật hiện hành, người tham gia được hỏi:

“Xin ý kiến Ông/Bà về quy định trong dự thảo luật: Trường hợp người đăng ký hiến là người dưới 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện của người hiến”.

Và có ba phương án trả lời: 

* Đồng ý

* Không đồng ý

* Ý kiến khác

Tôi đọc câu hỏi này vài lần mới hiểu hết ý nghĩa pháp lý của nó. Vậy làm sao một em bé 7 tuổi có thể hiểu để trả lời?

Dưới góc độ phương pháp nghiên cứu, tôi thấy có 7 vấn đề đáng bàn.

■ Vấn đề 1: Người được hỏi có hiểu câu hỏi không?

Một câu trả lời chỉ có ý nghĩa khi người trả lời hiểu mình đang trả lời điều gì.

Đây là nguyên tắc đầu tiên của khoa học khảo sát.

Những thuật ngữ như “tế bào biệt hóa”, “mô tái sinh”, “chức năng sinh lý” hay “người đại diện của người hiến” không phải là ngôn ngữ thông thường của trẻ em.

Một đứa trẻ có thể đọc được từng chữ nhưng không có nghĩa là hiểu nội dung.

Trong nghiên cứu, chúng tôi gọi đây là vấn đề comprehension, tức khả năng người bệnh hiểu câu hỏi. Nếu người bệnh không hiểu câu hỏi, câu trả lời không thể được xem là một phép đo đáng tin cậy về quan điểm của họ.

■ Vấn đề 2: Câu hỏi mang tính dẫn dắt (leading question)

Một bảng câu hỏi khoa học cần cung cấp thông tin cân bằng, chớ không nên hướng người tham gia đến một câu trả lời nào đó.

Trước khi hỏi ý kiến, bảng khảo sát giải thích rằng luật hiện hành “có thể làm hạn chế quyền của người dân” và rằng nhiều người dưới 18 tuổi mong muốn được hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết.

Cách trình bày này có thể khiến người đọc nghiêng về phương án đồng ý sửa luật. Bậy thật!

Tại sao không giải thích thêm những lý do cần bảo vệ người chưa thành niên, chẳng hạn năng lực quyết định, sự tự nguyện và nguy cơ chịu áp lực từ người khác?

Trong phương pháp khảo sát, đây là framing bias: cách trình bày vấn đề có thể ảnh hưởng đến câu trả lời.

■ Vấn đề 3: Câu hỏi không rõ đang đo lường điều gì

Khi người trả lời chọn “Đồng ý”, chúng ta phải hiểu như thế nào?

Họ đồng ý cho phép người dưới 18 tuổi đăng ký hiến mô, tạng? Hay họ chỉ đồng ý rằng nếu trẻ được phép đăng ký thì phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cha mẹ?

Đó là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Một người có thể phản đối việc cho phép trẻ đăng ký hiến tạng, nhưng vẫn đồng ý rằng nếu luật cho phép thì phải có sự chấp thuận của cha mẹ.

Trong khoa học, đây là vấn đề construct validity: câu hỏi có đo lường đúng khái niệm mà chúng ta muốn nghiên cứu hay không.

Nếu không xác định được ý nghĩa của câu trả lời, thì dù có hàng ngàn người chọn “Đồng ý”, chúng ta cũng khó biết họ thực sự đồng ý với điều gì.

■ Vấn đề 4: Sai lệch do chọn mẫu

Theo thông tin trên báo, việc lấy ý kiến được triển khai qua các cơ sở y tế và một số trường học.

Trẻ em có ba má làm trong ngành y, trẻ em đang điều trị tại bệnh viện hoặc có người thân mắc bệnh nặng có thể có nhận thức và thái độ đối với hiến tạng khác với trẻ em nói chung.

Nếu người tham gia được tuyển chọn theo cách thuận tiện, kết quả không nhất thiết đại diện cho toàn bộ trẻ em Việt Nam.

Đây là selection bias, một vấn đề quen thuộc trong nghiên cứu y khoa.

Một cuộc khảo sát có 10.000 người tham gia không nhứt thiết đáng tin cậy hơn một cuộc khảo sát 1.000 người được chọn mẫu đúng phương pháp.

■ Vấn đề 5: Khảo sát trực tuyến: ai thực sự trả lời?

Theo thông tin trên báo, Bộ Y tế sử dụng phiếu khảo sát trực tuyến để lấy ý kiến. Phương pháp này thuận tiện, ít tốn kém và có thể thu thập nhiều câu trả lời trong thời gian ngắn. Nhưng nó cũng có những hạn chế đáng kể.

Thứ nhứt là coverage bias: trẻ em có điều kiện tiếp cận Internet và thiết bị điện tử tốt hơn có thể có nhiều cơ hội tham gia hơn.

Thứ hai là self-selection bias: những gia đình quan tâm đến hiến tạng có thể chủ động tham gia nhiều hơn những gia đình khác.

Nhưng vấn đề đáng lo ngại nhứt là làm sao biết ai thực sự trả lời?

Một phiếu khảo sát trực tuyến ghi người trả lời 7 tuổi không có nghĩa là chính em bé 7 tuổi đã trả lời. Có thể cha mẹ đọc câu hỏi, giải thích hoặc trực tiếp chọn phương án thay con.

Nếu không có cơ chế kiểm tra, chúng ta không thể phân biệt ý kiến của trẻ với ý kiến của cha mẹ. Đây là nguy cơ proxy-response bias.

Tôi muốn biết Bộ Y tế đã kiểm soát vấn đề này như thế nào? Có ghi nhận người hỗ trợ trẻ trả lời không? Có biện pháp ngăn ngừa một người gửi nhiều phiếu không? Có biết bao nhiêu trẻ tự trả lời và bao nhiêu trẻ được cha mẹ hỗ trợ không?

Nếu không có những thông tin đó, kết quả khảo sát trực tuyến rất khó được diễn giải như một phép đo đáng tin cậy về quan điểm độc lập của trẻ em.

■ Vấn đề 6: Câu trả lời của trẻ em hay của người lớn?

Đây là một vấn đề liên quan nhưng khác với việc xác minh người trả lời.

Ngay cả khi chính trẻ em chọn phương án trả lời, cách người lớn giải thích câu hỏi vẫn có thể ảnh hưởng đến quyết định của trẻ.

Chẳng hạn, nếu người lớn nói rằng hiến tạng là một nghĩa cử cao đẹp để cứu người, trẻ em có thể dễ dàng chọn “Đồng ý”.

Trong nghiên cứu y khoa, hiện tượng này liên quan đến "social desirability bias", xu hướng trả lời theo điều được xã hội hoặc người có thẩm quyền mong đợi.

Đặc biệt, trẻ nhỏ có thể muốn đưa ra câu trả lời làm hài lòng cha mẹ, thầy cô hoặc nhân viên y tế.

Do đó, cần biết ai giải thích câu hỏi, cách giải thích có được chuẩn hóa hay không và trẻ có được trả lời độc lập hay không.

■ Vấn đề 7: Không có lựa chọn “Không biết” hoặc “Không hiểu”

Bảng khảo sát đưa ra ba phương án: Đồng ý, Không đồng ý và Ý kiến khác.

Nhưng đối với trẻ em, tại sao không có lựa chọn rõ ràng “Em không hiểu câu hỏi” hoặc “Em chưa có ý kiến”?

Khi không hiểu mà vẫn cảm thấy phải trả lời, trẻ có thể chọn đại một phương án hoặc chọn theo ý người lớn.

Đây là nguy cơ "response bias", thiên lệch trả lời. Nó cũng giống như hạn chế người trả lời theo cách người ra câu hỏi muốn! 

Một cuộc khảo sát tốt không chỉ cho phép người tham gia bày tỏ quan điểm, mà còn phải cho phép họ thừa nhận rằng mình chưa hiểu hoặc chưa có quan điểm.

■ Vậy nên làm thế nào?

Tôi nghĩ nãy giờ tôi chỉ ra những hạn chế, nhưng câu hỏi là làm gì để khắc phục Muốn làm cho đúng phương pháp khoa học, tôi xin góp vài ý kiến.

(a) Thứ nhứt, cần xác định rõ mục tiêu khảo sát. 

Chúng ta muốn tìm hiểu trẻ hiểu gì về hiến tạng, thái độ của trẻ đối với việc hiến tạng, hay mức độ đồng ý với một điều khoản pháp luật? 

Đây là ba câu hỏi nghiên cứu khác nhau và cần những công cụ đo lường khác nhau.

(b) Thứ hai, cần thiết kế bảng câu hỏi phù hợp với từng nhóm tuổi. 

Không thể dùng cùng một câu hỏi pháp lý phức tạp cho trẻ 7 tuổi và trẻ 17 tuổi rồi xem câu trả lời của hai nhóm có cùng ý nghĩa.

(c) Thứ ba, trước khi khảo sát đại trà, cần thực hiện nghiên cứu thí điểm (pilot study) và phỏng vấn nhận thức (cognitive interviewing) để kiểm tra xem trẻ thực sự hiểu câu hỏi như thế nào.

(d) Thứ tư, cần chuẩn hóa cách giải thích câu hỏi, bảo đảm tính độc lập của câu trả lời và ghi nhận trường hợp cha mẹ hoặc người khác trả lời thay trẻ.

(e) Thứ năm, đối với khảo sát trực tuyến, cần có biện pháp kiểm soát chất lượng dữ liệu, hạn chế trả lời trùng lặp, ghi nhận người hỗ trợ và xác định rõ ai là người thực sự cung cấp câu trả lời.

(f) Thứ sáu, cần công bố phương pháp chọn mẫu, số người tham gia theo từng độ tuổi, tỉ lệ không trả lời và phương pháp phân tích. 

Nếu mẫu không đại diện, không nên suy rộng kết quả thành quan điểm của trẻ em Việt Nam nói chung. Nói tóm lại, muốn làm khảo sát cho khoa học nó nhiêu khê lắm, chứ không đơn giản chỉ có một bộ câu hỏi. 

■ Kết 

Tôi nghĩ chắc Bộ Y tế đã tham khảo ý kiến các chuyên gia về phương pháp khảo sát, tâm lý học phát triển và đạo đức nghiên cứu trước khi triển khai. 

Nhưng tôi ngạc nhiên khi một câu hỏi như vậy và cách làm như vậy. Chỉ riêng câu hỏi số 1 đã cho thấy những vấn đề đáng quan ngại về khả năng hiểu câu hỏi, tính trung lập và giá trị đo lường. Phương thức khảo sát trực tuyến còn đặt ra những câu hỏi về tính đại diện của mẫu và danh tính thực sự của người trả lời.

Một chánh sách liên quan đến sanh mạng con người, quyền tự quyết và đạo đức y khoa là chuyện quá hệ trọng để có thể tham vấn bằng một cuộc thăm dò ý kiến và bảng câu hỏi được thiết kế có nhiều vấn đề.

 

N.V.T.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn