Một cuộc khảo sát có thể gây tổn thương không?

Nguyễn Văn Tuấn

Nghiên cứu khoa học ngày nay khó khăn và nhiêu khê hơn những gì công chúng thường nghĩ. Nhưng cuộc khảo sát lấy ý kiến trẻ em về hiến tạng coi bộ đơn giản quá?

Một trong những công việc làm nhà khoa học mất nhiều thời gian và công sức nhứt là xin phép Hội đồng Đạo đức Nghiên cứu (thường gọi là hội đồng y đức trong y khoa). 

Trước khi tiến hành nghiên cứu trên người, chúng tôi phải trình đề cương, giải thích mục tiêu, phương pháp, những rủi ro có thể xảy ra và cách bảo vệ người tham gia. Có khi phải qua vài vòng chỉnh sửa mới được chuẩn thuận.

Nhưng tôi nghĩ đó là một sự nhiêu khê cần thiết. Bởi vì mục tiêu của nghiên cứu khoa học không thể biện minh cho việc xem nhẹ quyền lợi và sự an toàn của con người.

■ Một kỷ niệm ở Ohio

Tôi còn nhớ gần 30 năm trước, khi trình một đề cương nghiên cứu trước hội đồng y đức của một trường y ở tiểu bang Ohio (Mỹ), tôi bị chất vấn khá kỹ.

Nghiên cứu của tôi liên quan đến sự phát triển xương ở thiếu niên. Theo đề cương, mỗi em sẽ được đo mật độ xương 3 lần trong ba năm. Mục tiêu là quan sát sự tăng trưởng của xương ở nam và nữ. 

Các thành viên hội đồng hỏi tôi tại sao phải đo đến 3 lần. Họ quan tâm đến lượng phóng xạ mà các em phải tiếp xúc, dù rất thấp. Tôi phải giải thích tại sao cần những lần đo đó, lợi ích khoa học là gì và mức độ rủi ro ra sao.

Chỉ khi nào họ cảm thấy an tâm, tôi mới được phép tiến hành nghiên cứu.

Tôi còn nhớ một thành viên hội đồng nói đùa, đại khái rằng: “Rồi một ngày cả anh và chúng tôi đều sẽ rời cõi đời này. Chúng ta nên để lại một di sản mà khi nằm dưới chín suối, chúng ta có thể hài lòng về những gì mình đã làm”.

Câu nói đó làm tôi nhớ hoài.

Đạo đức nghiên cứu không phải là một thủ tục hành chánh để gây khó khăn cho nhà khoa học. Nó là trách nhiệm của chúng ta đối với những người đã tin tưởng và tình nguyện tham gia nghiên cứu.

■ Chỉ khảo sát bằng câu hỏi thì có cần xét duyệt đạo đức?

Ở Việt Nam, tôi nhận thấy có một quan niệm khá phổ biến: nếu chỉ làm khảo sát, chẳng hạn hỏi ý kiến sinh viên hay phỏng vấn người đi chợ, thì không cần phải xin phép hội đồng y đức, cũng chẳng cần sự đồng thuận bằng văn bản của người tham gia.

Lý do thường được đưa ra là nghiên cứu không có can thiệp gì vào cơ thể. Nhà nghiên cứu không dùng kim tiêm, không lấy máu, không cho uống thuốc, không phóng xạ, mà chỉ đặt vài câu hỏi thôi. 

Mới nghe thì có vẻ hợp lý. Nhưng suy nghĩ kỹ thì chưa đầy đủ.

Bởi vì con người không chỉ có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, mà còn có quyền riêng tư, quyền tự quyết và quyền kiểm soát thông tin cá nhân.

Một nhà nghiên cứu có thể không đụng đến cơ thể người tham gia, nhưng vẫn có thể xâm phạm quyền lợi của họ.

Chẳng hạn, một bảng câu hỏi có thể yêu cầu người tham gia tiết lộ thu nhập, bệnh tật, quan điểm chánh trị, tôn giáo, đời sống gia đình hoặc những trải nghiệm riêng tư mà họ không muốn người khác biết.

Những câu hỏi như vậy có thể đi rất sâu vào đời sống cá nhân, ngay cả khi nhà nghiên cứu không thu thập tên hay địa chỉ.

Dĩ nhiên, việc hỏi thông tin cá nhân không mặc nhiên là xâm phạm quyền riêng tư. Vấn đề là người tham gia có biết mình đang cung cấp thông tin gì, thông tin ấy được sử dụng ra sao, ai có quyền tiếp cận và họ có thực sự tự nguyện trả lời hay không.

Đó chính là lý do đạo đức nghiên cứu không chỉ quan tâm đến những can thiệp thể chất.

Trong nghiên cứu khoa học trên người, đề cương, bảng câu hỏi, phương pháp tuyển chọn đối tượng và quytrình xin đồng thuận phải được xem xét theo quy định đạo đức áp dụng. 

Một số khảo sát ít rủi ro có thể được miễn xét duyệt đầy đủ, nhưng việc miễn trừ phải có căn cứ và được xác định theo quy trình có thẩm quyền, chớ không phải do nhà nghiên cứu tự quyết định.

■ “Informed consent” không đơn thuần là một chữ ký

Trong đạo đức nghiên cứu, có một khái niệm rất quan trọng: informed consent, mà tôi tạm dịch là “sự đồng thuận có hiểu biết”.

Nó có nghĩa là người tham gia tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi đã được cung cấp và hiểu những thông tin cần thiết về mục tiêu, phương pháp, lợi ích, rủi ro và quyền lợi của mình.

Nếu sự đồng thuận đó được ghi nhận bằng văn bản, chúng ta gọi là written informed consent.

Trong thực tế, nhà nghiên cứu thường cung cấp một bản thông tin giải thích mục tiêu và quy trình nghiên cứu, những gì người tham gia sẽ được yêu cầu thực hiện, dữ liệu sẽ được sử dụng như thế nào, cùng những quyền của họ, kể cả quyền từ chối hoặc rút lui. Sau khi đọc và được giải thích, người tham gia có thể ký vào văn bản đồng thuận.

Nhà nghiên cứu chỉ bắt đầu thu thập dữ liệu khi đã hoàn tất quy trình đồng thuận được phê duyệt.

Tuy nhiên, không phải nghiên cứu nào cũng bắt buộc phải có chữ ký. Đối với một số khảo sát ít rủi ro, hội đồng đạo đức có thể chấp thuận hình thức đồng thuận bằng lời nói hoặc điện tử, hoặc miễn yêu cầu ghi nhận bằng chữ ký.

Ở đây có một sự khác biệt rất quan trọng: Miễn chữ ký không có nghĩa là miễn informed consent. Và miễn chữ ký cũng không có nghĩa là miễn trách nhiệm xét duyệt đạo đức.

Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng informed consent không phải chỉ là một tờ giấy.

Một người có thể ký tên mà chẳng hiểu mình đang đồng ý với điều gì. Như bệnh nhân bất tỉnh, như trẻ em 7 tuổi, thì họ đâu biết mình ký vào điều gì. Ngược lại, một người có thể hiểu đầy đủ và tự nguyện đồng ý tham gia mà không cần ký giấy, nếu qui trình đó được chấp thuận.

Điều quan trọng nhứt không phải là chữ ký, mà là sự hiểu biết và tính tự nguyện của người tham gia.

■ Trẻ em 7 tuổi có thể đưa ra informed consent?

Tôi đề cập đến những nguyên tắc trên vì gần đây có một cuộc khảo sát trực tuyến lấy ý kiến trẻ em từ 7 đến dưới 18 tuổi về việc hiến mô, tạng, nhằm phục vụ việc sửa đổi luật ở Việt Nam.

Thú thiệt, khi biết tin, tôi rất ngạc nhiên.

Tôi đoán là cuộc khảo sát đã được một hội đồng y đức phê chuẩn? 

Nếu không thì là một thiếu sót nghiêm trọng. 

Nếu đã được phê chuẩn thì tại sao các câu hỏi đó được thông qua? 

Tôi nghĩ trẻ em có quyền được bày tỏ quan điểm về những chánh sách ảnh hưởng đến các em. Nhưng tôi nghĩ tới một số câu hỏi về quy trình và phương pháp khảo sát.

Trước hết, ai đã đồng ý cho các em tham gia? Ba má hay người giám hộ có được thông báo và xin phép không? Bảng câu hỏi đã được thẩm định về đạo đức và kiểm tra tính phù hợp với từng nhóm tuổi chưa?

Đặc biệt, làm sao chúng ta biết một em bé 7 tuổi hiểu được những gì mình đang được hỏi?

Một đứa trẻ 7 tuổi có thể trả lời “đồng ý hiến tạng”. Nhưng câu trả lời đó không chứng minh rằng em hiểu tạng là gì, hiến tạng là gì, chết não là gì, hay sự khác biệt giữa hiến mô khi còn sống và hiến tạng sau khi chết.

Ở đây cần phân biệt hai chuyện.

Một là đồng ý tham gia khảo sát có nghĩa là trẻ hiểu mục đích của cuộc khảo sát, biết mình sẽ được hỏi những gì, và tự nguyện tham gia. 

Hai là đồng ý hiến mô, tạng chỉ là câu trả lời thể hiện quan điểm của trẻ về việc hiến một bộ phận cơ thể. 

Một em bé có thể trả lời “em đồng ý hiến tạng”, nhưng điều đó không có nghĩa là em đã hiểu đầy đủ những hệ quả y khoa và pháp lý của việc hiến tạng, càng không có nghĩa là em đã đưa ra sự đồng thuận có giá trị pháp lý để hiến tạng. Nói cách khác, một câu trả lời “đồng ý” trong bảng khảo sát không thể được xem là một quyết định đồng thuận hiến tạng có hiểu biết (informed consent).

Trong nghiên cứu trên trẻ em, chúng ta còn có khái niệm child assent, tức sự đồng ý tham gia của trẻ phù hợp với độ tuổi và khả năng nhận thức. Sự đồng ý này thường đi cùng với parental consent, tức sự đồng thuận của ba má hoặc người giám hộ, trừ những trường hợp ngoại lệ được cho phép.

Một em bé 7 tuổi không nhứt thiết phải hiểu toàn bộ kiến thức y khoa về ghép tạng mới có thể tham gia khảo sát về thái độ. Nhưng em phải hiểu mình đang được yêu cầu làm gì, có quyền từ chối và không bị áp lực phải trả lời.

Và nếu muốn sử dụng câu trả lời của trẻ làm bằng chứng khoa học để xây dựng chánh sách, chúng ta còn phải chứng minh rằng các em hiểu những khái niệm được hỏi ở mức độ cần thiết.

■ Một câu hỏi cũng có thể gây tổn thương

Có một khía cạnh khác mà tôi tự hỏi là nguy cơ gây tổn thương tâm lý (psychological harm) cho trẻ em.

Đối với người trưởng thành, câu hỏi về hiến mô, tạng sau khi chết có thể chỉ là một câu hỏi về quan điểm cá nhân. Nhưng đối với trẻ nhỏ, đặc biệt ở độ tuổi 7–11, câu hỏi đó có thể mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.

Ở độ tuổi này, khả năng nhận thức về cái chết, tính không thể đảo ngược của cái chết và khái niệm chết não vẫn đang phát triển.

Thử tưởng tượng một em bé 7 tuổi được hỏi: “Nếu em chết, em có đồng ý hiến tim, gan hoặc thận của mình cho người khác không?”.

Em có thể liên tưởng đến cái chết của chính mình, hoặc của ba má mình. Câu hỏi đó có thể gây lo lắng, sợ hãi, thậm chí khiến em hiểu lầm rằng mình hoặc người thân đang có nguy cơ tử vong.

Dĩ nhiên, không phải trẻ em nào cũng phản ứng như vậy. Nhưng trong đạo đức nghiên cứu, một nguy cơ dự kiến vẫn cần phải được nhận diện và đánh giá trước khi triển khai.

Bởi vậy, bảng câu hỏi dành cho trẻ em cần được thiết kế và kiểm định cho phù hợp với khả năng nhận thức của từng nhóm tuổi. Các em phải được giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu, có quyền bỏ qua những câu hỏi khiến mình khó chịu và có thể ngừng khảo sát bất cứ lúc nào mà không chịu hậu quả gì.

Nếu khảo sát được thực hiện trong trường học, còn có một vấn đề khác: áp lực từ giáo viên và môi trường học đường.

Khi thầy cô yêu cầu học sinh điền bảng câu hỏi, các em có thể nghĩ đó là một nhiệm vụ bắt buộc. Một số em có thể trả lời theo điều mà các em nghĩ thầy cô mong muốn, thay vì bày tỏ suy nghĩ thực sự của mình.

Trong nghiên cứu, đây là nguy cơ sai lệch do ảnh hưởng của người có thẩm quyền và xu hướng trả lời theo điều được xã hội mong đợi.

Nó không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị khoa học của kết quả khảo sát.

*

Tôi trở lại câu chuyện ở Ohio cách đây 30 năm.

Hội đồng y đức lúc đó đã chất vấn tôi rất kỹ về lượng phóng xạ trong những lần đo mật độ xương. Họ làm vậy vì muốn bảo vệ những thiếu niên tham gia nghiên cứu khỏi một nguy cơ thể chất, dù rất nhỏ.

Ngày nay, tôi nghĩ chúng ta cũng cần đặt ra những câu hỏi nghiêm túc tương tự đối với nguy cơ tâm lý và quyền riêng tư của trẻ em.

Đối với cuộc khảo sát về hiến mô, tạng đang được bàn luận, tôi nghĩ cơ quan tổ chức nên công khai quytrình đồng thuận, cách thẩm định bảng câu hỏi và những biện pháp bảo vệ trẻ em. Nhưng sự việc đã diễn ra rồi. Thành ra, đánh giá tính phù hợp của cuộc khảo sát này rất khó. 

Khoa học được đánh giá bằng những gì chúng ta phát hiện, và bằng cách chúng ta đối xử với những con người đã giúp chúng ta có được những phát hiện đó.

N.V.T.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn