GDP tăng 9,01%, sao nhiều người vẫn thấy kinh tế khó?

Phuong Bui 

Câu hỏi đáng quan tâm hơn là liệu tăng trưởng quốc gia rất cao hiện nay có chuyển hóa được thành năng suất cao hơn, doanh nghiệp nội địa khỏe hơn, việc làm chất lượng hơn; thu nhập và sức mua thực của người dân có tăng lên hơn hay không? 

Những con số thống kê của nhà nước 

GDP quý III tăng 9,95%, tính chung 9 tháng tăng 9,01%, mức cao nhất trong 15 năm. Công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888 tỷ USD, tăng 30,4%. FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4%. Thu ngân sách ước đạt 2,19 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%.

Quan sát cuộc sống xã hội 

Quan sát các chỉ số vĩ mô ấy, khó có thể nói nền kinh tế Việt Nam đang khó khăn theo kiểu nhiều người than trên mạng xã hội. Doanh nghiệp bảo khó làm ăn; Người bán hàng nói sức mua yếu; Người làm dịch vụ than khách khó tính hơn với tiền; Một số người mất việc hoặc khó tìm việc tốt; Doanh nghiệp đóng cửa giải thể nhiều…

Vậy bên nào đúng?

Cả hai có thể cùng đúng, vấn đề nằm ở chỗ GDP và cảm nhận kinh tế của một người đang đo hai thứ khác nhau. GDP đo tổng giá trị gia tăng được tạo ra trong nền kinh tế. GDP tăng 9,01% nghĩa là quy mô sản xuất hàng hóa và dịch vụ tính theo giá so sánh của cả nền kinh tế trong 9 tháng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Nhưng GDP không nói rằng mọi doanh nghiệp đều tăng 9,01%. GDP cũng không nói rằng thu nhập thực của mọi gia đình tăng 9,01%. Càng không có nghĩa rằng mọi người đều cảm thấy dễ kiếm tiền hơn 9,01%.

Hãy tưởng tượng nền kinh tế chỉ có 100 doanh nghiệp. Mười doanh nghiệp rất lớn tăng trưởng 30%, 40 doanh nghiệp tăng nhẹ, 30 doanh nghiệp gần như đứng yên và 20 doanh nghiệp còn lại suy giảm hoặc đóng cửa. Tổng giá trị tạo ra của cả nền kinh tế vẫn có thể tăng rất mạnh.

Người làm việc trong 10 doanh nghiệp đầu tiên sẽ kể câu chuyện về cơ hội. Người sở hữu doanh nghiệp đang đóng cửa sẽ kể câu chuyện về khủng hoảng. Cả hai đang sống trong cùng nền kinh tế.

Số liệu sáng nay của Cục Thống kê cho thấy chính sự phân hóa ấy:

- 9 tháng năm 2026 có gần 149.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 3,2%. Nhưng số lao động đăng ký của nhóm doanh nghiệp mới chỉ hơn 733.100 người, giảm 16,1% so với cùng kỳ.

- Gần 74.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nhưng con số này giảm 14%.

- Ở chiều ngược lại, gần 89.800 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, 33.500 doanh nghiệp đang chờ làm thủ tục giải thể và hơn 48.700 doanh nghiệp đã hoàn tất giải thể, tăng 118,8%.

- Tính chung, khoảng 223.900 doanh nghiệp thành lập mới và quay lại thị trường, trong khi khoảng 172.000 doanh nghiệp rút lui.

Nói cách khác, khu vực doanh nghiệp đang mở rộng ở một phía và đào thải mạnh ở phía khác.

Ngay trong khảo sát doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo quý III, 34,2% doanh nghiệp nói tình hình kinh doanh tốt hơn quý trước, 45,7% đánh giá ổn định, nhưng vẫn có 20,1% nói rằng họ gặp khó khăn.

Nếu bạn nằm trong 34,2%, nền kinh tế đang sáng. Nếu bạn nằm trong 20,1%, nền kinh tế đang khó. Con số GDP quốc gia không làm trải nghiệm của nhóm thứ hai biến mất. Nhưng trải nghiệm của nhóm thứ hai cũng không đủ để kết luận cả nền kinh tế đang khó khăn. 

1. Nguyên nhân đầu tiên – GDP cộng tất cả mọi hoạt động kinh tế nhưng đa số người dân lại sống ở phần kinh tế mình tham gia.

Cần tách thật rõ giữa tăng trưởng tổng lượng và phân phối tăng trưởng. 

Một nền kinh tế có thể tạo thêm 100 đồng GDP, nhưng 100 đồng ấy không nhất thiết được phân bố đều giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ, FDI và nội địa, công nghiệp và dịch vụ, người sở hữu tài sản và người sống chủ yếu bằng tiền lương, Hà Nội và các tỉnh khác, ngành đang được dòng vốn đổ vào và ngành đang bị công nghệ hoặc cạnh tranh đào thải.

Năm 2026, động lực tăng trưởng của Việt Nam đang thể hiện khá rõ ở đầu tư và công nghiệp. Riêng 9 tháng, vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21% và đóng góp gần một nửa mức tăng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Tích lũy tài sản trong GDP tăng tới 17,88%.

Điều này rất quan trọng: Nếu Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, đường cao tốc được xây, sân bay được thi công, nhà máy được mở rộng, FDI giải ngân, công nghiệp chế biến chế tạo tăng sản lượng, những hoạt động ấy tạo ra GDP ngay trong quá trình thực hiện. 

- Một doanh nghiệp xây dựng hạ tầng có thể đang chạy hết công suất nhưng cửa hàng quần áo ở phố bên cạnh vẫn có thể bán chậm. 

- Nhà máy điện tử xuất khẩu có thể tăng sản lượng 20% nhưng môi giới bất động sản ở khu vực thanh khoản thấp vẫn có thể nhiều tháng không có giao dịch.

- Ngân hàng lớn có thể tăng lợi nhuận nhưng doanh nghiệp nhỏ vay vốn vẫn thấy lãi suất và điều kiện tín dụng khó chịu.

GDP cộng tất cả những phần ấy lại – Người dân thì sống trong phần nền kinh tế mà mình trực tiếp tham gia. Đó là nguyên nhân đầu tiên của khoảng cách giữa số liệu đẹp và cảm giác khó. 

2. Nguyên nhân thứ hai nằm ở giá cả

CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, nhưng con số bình quân ấy cũng không có nghĩa chi phí của mọi gia đình chỉ tăng đúng 4,52%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%. Giao thông tăng 6,06%. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%. Đây lại chính là những khoản xuất hiện thường xuyên trong ngân sách gia đình.

Một người có thu nhập tăng 5% nhưng tiền nhà, điện nước, đi lại và ăn uống tăng quanh 5-7% hoàn toàn có thể cảm thấy mình nghèo đi, dù GDP quốc gia đang tăng gần 10%. Thu nhập danh nghĩa tăng chưa chắc làm cuộc sống dễ hơn. Điều người dân cảm nhận là sức mua còn lại sau khi trả những chi phí bắt buộc.

3. Nguyên nhân thứ ba – Việc làm 

Số liệu lao động 9 tháng cũng cho thấy lớp khác của câu chuyện. Thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 9,1 triệu đồng/tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, không cho thấy thất nghiệp toàn nền kinh tế tăng. 

Việt Nam vẫn có 61,5% người có việc làm thuộc khu vực phi chính thức. Một người mất công việc văn phòng 20 triệu đồng rồi chuyển sang chạy xe, bán hàng hoặc làm công việc tự do vẫn có thể được tính là có việc làm. Người ấy không thất nghiệp theo định nghĩa thống kê. Nhưng chất lượng việc làm và thu nhập có thể đã thay đổi rất nhiều.

Đặc biệt, thị trường lao động trẻ cho thấy một bức tranh khó hơn mức thất nghiệp chung: tỷ lệ thất nghiệp của người 15-24 tuổi trong quý III là 9,07%, riêng khu vực thành thị là 12,49%, và khoảng 1,6 triệu thanh niên không có việc làm cũng không tham gia học tập hoặc đào tạo.

Nhưng nếu một gia đình có con vừa tốt nghiệp đang tìm việc, hoặc một nhóm nghề cụ thể đang bị thu hẹp, cảm giác ấy hoàn toàn có cơ sở trong phần nền kinh tế họ đang trải nghiệm.

4. Nguyên nhân thứ 4 sâu hơn nằm ở cấu trúc tăng trưởng: GDP có thể tăng rất nhanh nhờ đầu tư

Năm nay tích lũy tài sản 9 tháng tăng 17,88%, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%, đầu tư công được đẩy mạnh, FDI tiếp tục lớn. Trong ngắn hạn, quá trình xây đường, cầu, sân bay, nhà máy, khu công nghiệp và hạ tầng tạo ra nhu cầu vật liệu, máy móc, lao động, vận tải và hàng loạt dịch vụ liên quan, qua đó kéo GDP lên.

Nhưng câu hỏi quan trọng hơn đối với 5-10 năm sau là: Số vốn khổng lồ hôm nay sẽ tạo ra bao nhiêu năng suất và dòng tiền ngày mai?

Đây chính là chỗ khoa học vốn nối với GDP.

Nếu 1.000 tỷ đồng đầu tư hôm nay tạo ra hạ tầng giúp doanh nghiệp giảm chi phí logistics, nhà máy tăng năng suất, công nghệ mới, năng lượng rẻ hơn hoặc năng lực sản xuất lớn hơn, khoản đầu tư ấy tiếp tục tạo GDP trong tương lai. 

Nếu 1.000 tỷ được đưa vào dự án có hiệu quả sử dụng thấp, GDP vẫn có thể được ghi nhận trong quá trình xây dựng, nhưng năng lực tạo ra giá trị sau khi công trình hoàn thành có thể không tương xứng với lượng vốn đã bỏ vào.

Thế nên GDP tăng nhanh là thông tin quan trọng, nhưng chất lượng của tăng trưởng mới quyết định khả năng duy trì tăng trưởng ấy trong tương lai.

5. Nguyên nhân thứ năm: doanh nghiệp đang trải qua quá trình tái phân bổ nguồn lực

48.700 doanh nghiệp giải thể nghe rất đáng lo và mức tăng 118,8% cần được quan sát kỹ. Nhưng bản thân việc doanh nghiệp rời thị trường không tự động chứng minh nền kinh tế đang suy yếu, bởi cùng lúc gần 149.700 doanh nghiệp mới vẫn được thành lập.

Điều cần hỏi hơn là:

- Doanh nghiệp nào đang chết?

- Doanh nghiệp nào đang sinh ra?

- Lao động rời ngành nào và đi vào ngành nào?

- Vốn đang rút khỏi đâu và chạy tới đâu?

- Năng suất của doanh nghiệp mới có cao hơn doanh nghiệp rời thị trường không?

Nếu nguồn lực rời những mô hình kém hiệu quả để đi vào doanh nghiệp có năng suất cao hơn, sự đào thải có thể là một phần của quá trình tái cấu trúc.

Nếu hàng loạt doanh nghiệp có năng suất tốt vẫn phải đóng cửa vì thiếu vốn, cầu yếu, chi phí quá cao hoặc những điểm nghẽn thể chế, đó lại là tín hiệu hoàn toàn khác.

6. Nguyên nhân thứ sáu: FDI và xuất nhập khẩu lớn không đồng nghĩa toàn bộ giá trị ấy trở thành thu nhập của người Việt

9 tháng, xuất khẩu đạt 434,3 tỷ USD, nhưng nhập khẩu lên tới 453,7 tỷ USD. Việt Nam thực tế nhập siêu 19,42 tỷ USD trong 9 tháng, dù riêng tháng 9 đã quay lại xuất siêu 1,27 tỷ USD.

Một nhà máy FDI nhập linh kiện 80 USD, lắp ráp tại Việt Nam rồi xuất sản phẩm 100 USD sẽ ghi nhận 100 USD xuất khẩu, nhưng phần giá trị gia tăng tạo ra trong nước không phải toàn bộ 100 USD. Đó là lý do không nên đọc kim ngạch xuất khẩu như thu nhập quốc gia.

Cũng tương tự với con số FDI 50,36 tỷ USD. Đây là vốn đăng ký, gồm vốn đăng ký mới, vốn điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần. Vốn FDI thực sự thực hiện trong 9 tháng là 21,07 tỷ USD.

Hai con số đều quan trọng, nhưng kể hai câu chuyện khác nhau.

Ghép tất cả lại, mình thấy bức tranh Việt Nam 9 tháng năm 2026 thú vị hơn nhiều so với tranh luận kinh tế tốt hay kinh tế khó.

Kinh tế đang tăng trưởng rất mạnh ở cấp tổng thể, đồng thời quá trình tăng trưởng đang phân hóa mạnh ở cấp doanh nghiệp, ngành nghề và từng nhóm người.

- GDP 9 tháng tăng 9,01% nhưng hơn 48.700 doanh nghiệp đã hoàn tất giải thể. 

- Thu nhập bình quân người lao động tăng 9,1% nhưng CPI bình quân tăng 4,52% và những khoản thiết yếu như nhà ở, điện nước, giao thông tăng nhanh hơn. 

- Tỷ lệ thất nghiệp chung chỉ 2,22% nhưng thất nghiệp thanh niên là 9,07%, lao động phi chính thức vẫn chiếm 61,5%.

- Gần 149.700 doanh nghiệp mới được thành lập nhưng số lao động đăng ký trong nhóm doanh nghiệp mới lại giảm 16,1%.

- FDI đăng ký tăng 76,4% nhưng FDI thực hiện tăng 12,1%.

- Xuất nhập khẩu tăng hơn 30% nhưng 9 tháng vẫn nhập siêu hơn 19 tỷ USD.

Tất cả những câu trên đều có thể đúng cùng lúc. Đó chính là lý do không nên quan sát nền kinh tế bằng một chỉ số duy nhất. GDP giống như nhìn toàn bộ khu rừng từ trên cao – Ở độ cao ấy, ta thấy khu rừng đang mở rộng. Nhưng muốn biết từng người đang sống thế nào, phải hạ xuống dưới tán cây – Quan sát thu nhập thực; Việc làm; Số giờ làm; Nợ hộ gia đình; Chi phí nhà ở; Chi phí sinh hoạt; Lợi nhuận doanh nghiệp; Dòng tiền; Số doanh nghiệp sinh ra và chết đi; Khả năng tiếp cận vốn; Năng suất.

- Dòng vốn đang chảy vào ngành nào? 

- Ai đang sở hữu tài sản tăng giá?

- Ai đang trả lãi cho những tài sản ấy?

- Ai đang nhận được phần lớn thu nhập mới được tạo ra? 

Lúc ấy ta mới hiểu tại sao một quốc gia có thể đang tăng trưởng rất nhanh nhưng một người trong quốc gia ấy vẫn thấy cuộc sống khó hơn.

Câu hỏi đáng quan tâm hơn trong vài năm tới là liệu tăng trưởng rất cao hiện nay có chuyển hóa được thành năng suất cao hơn, doanh nghiệp nội địa khỏe hơn, việc làm chất lượng hơn và sức mua thực của người dân tăng lên hay không? 

- Nếu có, khoảng cách giữa GDP đẹp và người dân thấy kinh tế tốt lên sẽ dần thu hẹp.

- Nếu không, chúng ta sẽ tiếp tục gặp hiện tượng: Trên bảng thống kê, nền kinh tế chạy rất nhanh. Ngoài cuộc sống, nhiều người vẫn hỏi tiền đã chạy đi đâu.

P.B.

Nguồn: FB Phuong Bui

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn